VIẾT TỪ CANADA

MẶC GIAO

 

KHÔNG BIẾT, HAY “ĐỒNG THANH TƯƠNG ỨNG”?

Tôi thật sự giật mình khi đọc bản tin trên VietCatholic News ngày Thứ Bảy 10-05-2008 về việc Đức Cha Nguyễn Chí Linh, Phó Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục VN, đã cùng Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, Tổng Thư Ký Hội Đồng, đến chùa Quán Sứ Hà Nội thăm và chúc mừng các vị chức sắc và đồng bào Phật tử nhân dịp đại lễ Vesak, đồng thời trao thư chúc mừng của Hội Đồng Giám Mục VN và sứ điệp của Hội Đồng Đối Thoại Liên Tôn của Tòa Thánh Vatican gửi các Phật tử thế giới nhân dịp đại lễ này. Trong hoàn cảnh bình thường, việc các chức sắc cao cấp của các tôn giao thăm viếng và chúc mừng nhau nhân các dịp đại lễ là điều rất tốt đẹp và làm ấm lòng tín hữu của các tôn giáo. Trường hợp Việt Nam thì khác vì không bình thường.

Điều không bình thường thứ nhất là Phật Giáo VN hiện nay có hai giáo hội. Một là Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất không được nhà nước công nhận, không được phép hoạt động và bị đàn áp công khai. Hai là Giáo Hội Phật Giáo VN được gọi là giáo hội Phật Giáo quốc doanh vì do nhà nước thành lập và luôn luôn tuân theo chỉ thị của nhà nước. Tôi không lên án hay nói theo ai, nhưng căn cứ vào những lời viết của ông Đỗ Trung Hiếu, một cán bộ cộng sản cao cấp được Xuân Thủy, Nguyễn Văn Linh và Trần Quốc Hoàn giao trách nhiệm “thống nhất Phật Giáo” vào năm 1979. Cán bộ này đã hoàn thành nhiệm vụ bằng việc cho ra đời Giáo Hội Phật Giáo VN vào ngày 04-11-1981 tại Hà Nội. Nhưng sau đó ông Đỗ Trung Hiếu đã phản tỉnh và thuật lại tất cả những âm mưu biến giáo Hội Phật Giáo thành một công cụ cho đảng và nhà nước. Bài viết của ông Hiếu đã được phổ biến từ lâu, trong đó có những đoạn quan trọng như sau:

“Nội dung đề án là biến hoàn toàn Phật Giáo VN thành một hội đoàn quần chúng. Còn thấp hơn hội đoàn, vì chỉ có tăng, ni, không có Phật tử; chỉ có tổ chức bên trên, không có tổ chức bên dưới, tên gọi là Giáo Hội Phật Giáo VN… Nội dung hoạt động là lo việc cúng bái chùa chiền, không có hoạt động gì liên quan tới quần chúng và xã hội”.

“Cuộc thống nhất Phật Giáo lần này bên ngoài là do các hòa thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay đảng Cộng sản VN xuyên suốt qúa trình thống nhất để nắm và biến tướng Phật giáo VN trở thành một tổ chức bù nhìn của đảng” (tờ Tin Nhà ở Âu Châu đã đăng nguyên văn bài tường trỉnh của ông Đỗ Trung Hiếu cách đây hơn một thập niên. Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, Paris, mới nhắc lại trong một cuộc phỏng vấn).

Hội đồng Giám Mục VN không biết chuyện này hay sao? Hay biết nhưng cố tình làm ngơ, chỉ giao thiệp với Giáo Hội Phật Giáo mà chính quyền cho phép, bất chấp sự không hài lòng của một thành phần Phật Giáo khác, quan trọng, đông đảo và không quốc doanh? Như thế làm sao tạo được tình đoàn kết dân tộc, tình liên đới giữa các tôn giáo?

Điều bất thường thứ hai là nhà nước cộng sản VN đứng ra xin tổ chức đại lễ Vesak từ ngày 13 đến 17 tháng 5-2008 tại Trung tâm Hội Nghị quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội. Lễ Vesak còn được gọi là lễ Tam Hợp vì kỷ niệm ba biến cố quan trọng của cuộc đời Đức Phật: Phật đản sinh, Phật thành đạo, Phật nhập Niết bàn. Cả ba đều xảy ra vào độ trăng tròn, nên được hợp lại tổ chức chung thành một đại lễ. Theo sự yêu cầu của đại biểu nước Sri Lanka (cựu Tích Lan) tại Liên Hiệp Quốc, được sự ủng hộ của nhiều nước khác, ngày 15-12-1999, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua một nghị quyết công nhận ngày Vesak là một ngày lễ thiêng liêng của Phật Giáo và sẽ được cử hành trên bình diện quốc tế. Năm 2000, lễ Vesak được tổ chức lần đầu tiên tại trụ sở LHQ ở New York. Sau đó được tổ chức tại Ấn Độ và ba lần liên tiếp tại Thái Lan. Việc tổ chức là do các giáo hội Phật Giáo địa phương đảm trách, chính quyền chỉ hỗ trợ khi được yêu cầu.

Lần này lễ Vesak được tổ chức tại Việt Nam do ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng Ban Tôn Giáo nhà nước, làm Trưởng Ban Điều Phối. Ông Doanh cho biết các cơ quan nhà nước sẽ cầm đầu các tiểu ban Tuyên truyền, An ninh, Tài chánh-Hậu cần. Ban Trị sự Giáo Hội PGVN chỉ có vai trò “hướng dẫn việc tổ chức Đại lễ Phật Đản LHQ 2008”. GS Lê Mạnh Thát (cựu TT Thích Trí Siêu), Trưởng Ban Lễ tân-Giao tế, cho biết: “Các đề án tổng thể và chi tiết tổ chức đã được hoàn tất và đệ trình chính phủ”. Việc tiếp đón và hướng dẫn quan khách sẽ được giao cho tăng ni sinh học viện Phật Giáo VN tại Hà Nội và sinh viên thuộc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Nói tóm lại, mọi sự đều nằm trong tay đảng và nhà nước. Nhà nước cộng sản VN muốn tổ chức đại lễ Vesak thật linh đình nhắm mục đích tuyên truyền trong khi vẫn tiếp tục đàn áp Phật giáo và các tôn giáo khác. Tổ chức Human Rights Watch, ngày 08-05-2008, đã ra một thông cáo tố giác điều gian dối này. Bà Elaine Pearson, Phó Giám Đốc Phân Bộ Mỹ của Human Rights Watch tuyên bố: “Thật là một trò đùa khi Việt Nam tổ chức một đại lễ Phật Đản quốc tế trọng đại trong khi quốc sách của họ vẫn kiểm soát chính trị tất cả các tổ chức tôn giáo. Việt Nam vẫn tiếp tục một cách có hệ thống nhốt tù, trấn áp các Phật tử, tu sĩ Phật giáo cũng như các tu sĩ và tín hữu các tôn giáo khác”. Vì nhìn thấy hậu ý chính trị qúa lộ liễu của nhà cầm quyền Hà Nội, có nhiều nước, cụ thể Nhật, Sri Lanka, Thái Lan tỏ ý không hài lòng. Vì thế Thái Lan vẫn cử hành đại lễ Vesak năm nay song song với Việt Nam.

Trước sự thật phũ phàng như vậy mà các Đức Cha Nguyễn Chí Linh và Ngô Quang Kiệt vẫn đích thân đến chúc mừng và trao tận tay thư của Hội Đồng Giám Mục VN với chữ ký của Đức Cha Chủ Tịch Nguyễn Văn Nhơn, trong đó có câu: “Chúng tôi chung vui với Qúy Vị vì năm nay đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc được tổ chức tại Việt Nam. Hi vọng qua đại lễ này tình đoàn kết giữa hai Giáo Hội càng thêm tốt đẹp để cùng nhau phục vụ hạnh phúc của đồng bào”.

Điều bất thường thứ ba là hai vị giám mục của chúng ta đã đưa lầm địa chỉ Sứ Điệp của Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn gửi tín đồ Phật Giáo nhân Đại Lễ Vesak 2008 với chữ ký của Đức Hồng Y Chủ Tịch Hội Đồng Jean Louis Tauran. Sứ Điệp ghi rõ ràng là gửi cho các “tín đồ Phật Giáo” toàn thế giới, không gửi riêng cho giáo hội nào, nhất là giáo hội quốc doanh. Trong trường hợp Phật Giáo Việt Nam đã thu về một mối thì việc chuyển Sứ Điệp này cho vị đại diện Giáo Hội Phật Giáo chính truyền là một hành vi thân thiện, không ai thắc mắc. Đằng này, các ngài chỉ chuyển cho giáo hội nhà nước, vậy Phật tử theo giáo hội Phật Giáo khác có phải cũng là “tín đồ Phật Giáo” mà tác giả Sứ Điệp muốn gửi tới hay không? Muốn Sứ Điệp đến tay mọi tín đồ Phật Giáo, tại sao không chuyển cho Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất một bản tương tự? Phải chăng các ngài không dám liên lạc với Giáo Hội này vì sợ làm mất lòng nhà nuớc?

Đọc bản tin trên, tôi giật mình vì không thể ngờ các vị hữu trách của Hội Đồng Giám Mục VN có thể hành động như vậy. Tôi không thể qủa quyết là các vị không hiểu rõ tình hình hay muốn tỏ tình liên đới “đồng hội đồng thuyền” với giáo hội Phật Giáo do nhà nước cộng sản tạo nên. Không biết thì đáng thương, nhưng biết mà tỏ thái độ “đồng thanh tương ứng” thì đáng trách. Sự khôn ngoan tối thiểu đòi hỏi các ngài không nên tạo cảm tưởng là các ngài đứng về một phe trong cuộc tranh chấp của hai phe Phật Giáo đang diễn ra quyết liệt ở cả trong lẫn ngoài nước. Đặt giả thiết nếu có một thông điệp tôn giáo nào đó được gửi cho các “cha” thuộc Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo và Dân Tộc mà không gửi cho Hội Đồng Giám Mục, các ngài sẽ nghĩ sao?

 

NHÂN QUYỀN THEO ĐỨC BÊNÊDICTÔ XVI

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã từng được các nhà báo gọi là siêu sao (super star), biết cách xử dụng cả thế giới làm sân khấu trình diễn. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI thì có cung cách (style) nhỏ nhẹ, ngoại giao, nhưng đầy trí tuệ. Cung cách này đã được thể hiện rõ nét trong cuộc viếng thăm mục vụ vừa qua của Ngài tại Hoa Kỳ, nhất là qua bài diễn văn Ngài đọc trước các đại diện của các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc ngày 18-04-2008 tại trụ sở của tổ chức này ở thành phố New York.  Bài diễn văn có chủ đề chính về nhân quyền, phù hợp với dịp kỷ niệm 60 năm bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được công bố và trở thành kim chỉ nam cho việc tôn trọng con người.

Vấn đề nhân quyền đã được đặt ra cách đây 60 năm, vậy mà nhân loại ngày nay, với những tiến bộ vượt bực về khoa học và kỹ thuật, vẫn còn tỏ ra chậm tiến trong lãnh vực này. Nhân quyền (human rights, droits de l’homme) là quyền bẩm sinh Thượng Đế ban cho con người, trong đó có các quyền tự do căn bản phải được tôn trọng. Dĩ nhiên tự do không có nghiã là muốn làm gì thì làm. Vì vậy xã hội phải ấn định những luật lệ để bảo đảm tự do của người này không làm hại tới tự do của người khác. Việc ấn định luật lệ nhằm điều hòa quyền tự do đã bị nhiều nhà cầm quyền lạm dụng để tước đoạt tự do của công dân với lý do cần ổn định chính trị, phát triển kinh tế, xây dựng một xã hội mới… Lý do thúc đẩy họ làm như vậy có thể là vì sự tin tưởng vào một lý tưởng hay ý thức hệ nào đó, nhưng đa phần là vì muốn độc quyền nắm giữ quyền hành. Nhìn vào bản đồ thế giới, chúng ta thấy còn rất nhiều quốc gia mà những kẻ cầm quyền coi nhân quyền như sở hữu riêng nằm trong tay ban phát của họ. Những quốc gia vi phạm nhân quyền lại thường là những quốc gia chậm tiến và nghèo đói.

 

LIÊN ĐỚI VÀ CAN THIỆP

Bài diễn văn của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nhắm đúng vào vấn đề của thời đại. Ngài không cần nói nhiều về lý thuyết của nhân quyền. Ngài đưa ra những ý tưởng mới nhằm đẩy mạnh việc thực hiện tôn trọng nhân quyền. Điều cốt yếu là phải làm, phải đưa ra một cách thức hành động. Tình liên đới và tính hợp nhất nhân loại không cho phép chúng ta khoanh tay, nhưng phải đòi hỏi “mỗi quốc gia có trách nhiệm căn bản bảo vệ dân chúng của mình khỏi những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và kéo dài, cũng như những hậu qủa của các cuộc khủng hoảng nhân đạo dù do thiên nhiên hay con người gây ra” (Những lời trích trong ngoặc dựa theo bản dịch của J.B. Đặng Minh An).

Đã chấp nhận có liên đới thì cũng phải chấp nhận có nghiã vụ can thiệp khi thấy anh em mình không được bảo vệ. Theo Đức Giáo Hoàng,“Nếu các quốc gia không có khả năng thực hiện sự bảo vệ như thế, thì cộng đồng quốc tế có nghiã vụ phải can thiệp với những phương thế luật pháp đã được dự trù trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và trong các văn kiện công pháp quốc tế”. Hiếm khi người ta thấy một vị lãnh đạo tinh thần nói tới việc “can thiệp”. Những người vi phạm nhân quyền thường viện chủ quyền quốc gia để không cho phép người khác can thiệp vào chuyện nội bộ của mình, dù chuyện nội bộ có làm khổ con dân của họ hay xâm phạm quyền lợi của quốc gia khác. Đức Giáo Hoàng đã mạnh mẽ hô hào việc can thiệp bằng luật lệ, không bằng võ lực. Ngài biện minh cho việc can thiệp bằng những lời lẽ như sau: “Hành động của cộng đồng thế giới và các cơ chế phối thuộc không thể bị giải thích như một sự áp đặt bất công, hay một sự giới hạn chủ quyền quốc gia, miễn là hành động ấy tôn trọng các nguyên tắc nâng đỡ trật tự quốc tế. Trái lại, chính sự dửng dưng không can thiệp mới là điều gây thiệt hại đích thực”. Trong trường hợp này, “can thiệp” phải được hiểu như một hành động có tính cách liên đới để tìm cách trả lại quyền cho những người bị cướp quyền.

 

TÍNH PHỔ QUÁT

Có không ít những lãnh tụ độc tài biện minh cho việc hạn chế nhân quyền với lý do dân trí của nước họ còn thấp kém, chưa biết hành xử các quyền tự do, hoặc văn hóa của họ khác với văn hóa của các dân tộc Âu Mỹ, nhân quyền không được quan niệm giống nhau. Để trả lời những lý lẽ ngụy biện này, Đức Giáo Hoàng nói: “Nhân quyền ngày càng được trình bầy như là ngôn ngữ chung và là nền móng đạo lý trong các mối liên hệ quốc tế. Đồng thời, tính cách phổ quát, tính cách bất khả phân ly và tính cách liên thuộc của nhân quyền tất cả giúp vào việc bảo đảm nhân phẩm. Cũng hiển nhiên là các quyền được nhìn nhận và trình bầy trong bản Tuyên Ngôn được áp dụng cho tất cả mọi người, vì nguồn gốc chung của con người, vốn là cao điểm trong ý định sang tạo của Thiên Chúa”.  Đức Giáo Hoàng cho rằng chẳng những quyền của con người là phổ quát, nhưng cả con người, chủ thể của những quyền ấy, cũng là phổ quát. Vì vậy không thể viện lý do sự khác biệt của chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế để thay đổi quyền của con người. Nếu nói quan niệm về nhân quyền có sự khác biệt do văn hóa, chẳng lẽ lại công nhận có thứ văn hóa tôn trọng con người và có thứ văn hóa đàn áp con người, và thứ nào cũng giá trị ngang nhau? Con người là phổ quát. Nhân phẩm là phổ quát. Việc tôn trọng con người cũng phổ quát, không có ranh giới địa dư hay văn hóa.

 

LUẬT LỆ KHÔNG THỂ LẤN LƯỚT CÔNG LÝ

Một điểm độc đáo khác trong diễn văn của Đức Giáo Hoàng là Ngài đả phá quan niệm dùng luật để lấn lướt công lý. Khi người ta có quyền làm luật và bắt dân tuân theo, người ta có thể vịn lý do thượng tôn luật pháp để chà đạp công lý. Thượng tôn luật pháp đúng nghiã là điều tốt, nhưng làm luật không dựa vào công lý và bóp méo luật pháp theo diễn giải riêng là điều thường xảy ra ở những nước độc tài, nơi quyền tư pháp phải lệ thuộc quyền chính trị. Thí dụ một công dân chỉ cần phê bình một chính sách nào đó của nhà nước là có thể bị đưa ra tòa với tội danh phá vỡ tình đoàn kết và khuynh đảo chế độ. Vì thế Đức Giáo Hoàng đã phát biểu: “Khi bị trình bầy thuần túy trên phương diện pháp lý, nhân quyền có nguy cơ trở thành những đề đạt yếu ớt tách rời khỏi chiều kích luân lý và hợp lý là căn bản và mục tiêu của nhân quyền… Việc tôn trọng nhân quyền bắt nguồn cơ bản từ công lý bất biến, cũng là cơ sở cho quyền lực bắt buộc của những tuyên ngôn quốc tế. Khiá cạnh này thường bị xem nhẹ khi người ta mưu toan tước đoạt đi những quyền con người nhân danh một viễn kiến độc tài hẹp hòi”. Công lý được xây dựng chủ yếu trên tình liên đới giữa các thành viên trong xã hội, và do đó có giá trị ở mọi thời đại và cho mọi dân tộc. Đức Giáo Hoàng đã xác nhận như vậy và kết luận: “Như thế, nhân quyền cần phải được tôn trọng như một biểu hiệu của công lý, chứ không chỉ đơn giản vì chúng được có hiệu lực nhờ ý muốn của các luật gia”.

 

VAI TRÒ CỦA CÁC TÔN GIÁO

Đức Giáo Hoàng cũng đề cập một cách thẳng thắn vai trò của các tôn giáo trong việc đóng góp vào việc tôn trọng nhân quyền. Theo Ngài, nếu đời sống bám víu chặt chẽ với chiều kích tôn giáo thì có khả năng thiết lập một trật tự xã hội tôn trọng phẩm giá và các quyền của con người, vì “sự nhìn nhận các giá trị siêu việt của mỗi người nam nữ làm thuận lợi cho việc hoán cải con tim, là điều dẫn họ đến dấn thân chống bạo lực, chủ nghiã khủng bố và chiến tranh, đề cao công lý và hòa bình”. Các thứ quyền của con người phải bao gồm quyền tự do tôn giáo. Có tự do tôn giáo các tín hữu mới có thể mang kinh nghiệm của mình phục vụ công ích theo đường hướng khoan dung, tôn trọng sự thật. Có tự do tôn giáo mới thực hiện được việc đối thoại liên tôn, nhờ đó những thành phần khác nhau của xã hội có thể nêu lên quan điểm của họ và xây dựng sự đồng thuận quanh những sự thật liên quan, “Vì thế không thể tưởng tượng được việc các công dân buộc phải đè nén một phần của chính mình, tức là niềm tin của họ, ngõ hầu có thể là những công dân tích cực. Không bao giờ cần phải chối bỏ Thiên Chúa để được hưởng các quyền của mình. Những quyền liên quan đến tôn giáo là những quyền cần được bảo vệ hơn hết”. Mặt khác, tôn trọng tự do tôn giáo không có nghiã là tách rời tôn giáo ra khỏi sinh hoạt xã hội. Tự do tôn giáo không thể bị thu hẹp vào việc phụng tự, nhưng còn là để các tín hữu công dân có thể tham gia việc xây dựng trật tự xã hội và những điều công ích, chẳng hạn việc giáo dục, chăm sóc y tế, công tác bác ái từ thiện cho những người nghèo, những người kém may mắn, những người bị bỏ rơi. Về điểm này, Đức Giáo Hoàng đã bầy tỏ lập trường một cách không úp mở: “Từ chối nhìn nhận sự đóng góp cho xã hội ăn rễ nơi chiều kích tôn giáo và trong sự tìm kiếm Đấng Tuyệt Đối – mà tự bản chất của nó thể hiện một sự hiệp thông giữa con người với nhau – có nghiã là dành ưu tiên cho thái độ cá nhân chủ nghiã và như thế là làm băng hoại sự hiệp nhất của con người”.

Một lần nữa, bài diễn văn của Đức Thánh Cha tại Liên Hiệp Quốc đã xác nhận kiến thức và “cung cách Bênêdictô XVI”. Đó là một kiến thức thâm sâu nhưng luôn luôn có tư tưởng mới, một kiến thức vừa có cơ sở lý thuyết vừa có giá trị thực hành. “Cung cách Bênêdictô XVI” là nói thẳng, nói thật, dù bằng ngôn từ lịch sự và phong phú. Bài diễn văn của ngài tại Liên Hiệp Quốc về nhân quyền chắc chắn sẽ làm cho nhiều người “có tật giật mình”, và nhất là làm cho những ai còn dè dặt, e ngại đòi hỏi nhân quyền sẽ trở nên mạnh bạo hơn trong việc đòi lại những quyền chính đáng của mình, của anh chị em mình, của Giáo Hội mình.

 

NHÂN QUYỀN Á ĐÔNG CÓ KHÁC VỚI NHÂN QUYỀN ÂU MỸ?

Sau khi nhận định những điều mới mẻ và thực tiễn về nhân quyền qua bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, chúng tôi nghĩ nên bàn thêm về quan niệm nhân quyền của một số quốc gia Đông Nam châu Á, cụ thể là Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Hàn. Có thể nói, do những yếu tố lịch sử, các dân tộc Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam được coi như những dân tộc “đồng văn”. Đồng văn theo nghiã đã có thời dùng chung Hán tự, và nhất là chịu ảnh hưởng của văn hóa Khổng Mạnh. Vì vậy, cho tới ngày nay, các chính phủ của những nước đó vẫn cho rằng họ có một nền văn hóa cá biệt với nền văn hóa Âu Mỹ. Khi bị chỉ trích về việc vi phạm nhân quyền, họ trả lời rằng họ có một quan niệm nhân quyền khác, không phải thứ nhân quyền mang tính tự do bừa bãi như tại các nước phương Tây. Vậy nhân quyền theo họ là gì?

Nói thẳng ra, họ giải thích nhân quyền theo chính sách cai trị dựa vào những giáo huấn của đạo Khổng. Nhân quyền số một của người dân là được no bụng và yên hàn (ổn định chính trị, không thay đổi chế độ). Muốn được vậy, con dân trong nước phải có bổn phận trung quân (trung với vua, tức trung thành với lãnh tụ và đảng cầm quyền), tôn trọng tôn ty trật tự (không cãi ý các quan vì các quan là đại diện vua và là cha mẹ dân: ‘phụ mẫu chi dân’), tuyệt đối thi hành phép nước (không đối lập, không làm loạn). Lợi ích cá nhân phải hy sinh cho lợi ích tập thể, theo đúng phép Tam Tòng (tòng phụ, tòng phu, tòng tử) và Tam Cương (quân, sư, phụ). Trung quân đến độ coi vua trọng hơn cha đẻ và thầy dậy, vua bắt chết cũng vui lòng chết (Quân xử thần tử, thần tử). Chỉ cần phát biểu lời thiếu tôn kính với vua đã mắc tội “khi quân”, nói chi tới phê bình vua.

Khi cách mạng cộng sản thành công tại một số nước châu Á, những người cai trị chế độ mới đã cực lực đả phá tư tưởng và giáo huấn của Khổng Tử mà họ cho là lạc hậu, phong kiến, có tính cách áp bức. Mao Trạch Đông đã quyết liệt phát động chiến dịch “Phi Lưu, Phi Khổng” (không Lưu Thiếu Kỳ, không Khổng Tử). Họ muốn xây dựng một thế giới đại đồng, không giai cấp. Khổ thay, lý thuyết là không tưởng, thực tế là hà khắc, chế độ bị đe dọa. Vì thế họ phải mở cửa và đổi mới để chơi với thế giới bên ngoài, hội nhập nền kinh tế toàn cầu để tìm cách sống, trong khi vẫn giữ thể chế chính trị đóng kín. Khi không chơi với ai thì muốn làm gì cứ việc đóng cửa mà làm. Nhưng khi đã mở cửa thì phải nhận những lời chỉ trích và những đòi hỏi cải cách, điều kiện để được tham gia cuộc chơi một cách tương xứng và công bằng. Họ không muốn làm như vậy, nên viện sự khác biệt văn hóa để tránh việc tôn trọng nhân quyền. Ông Khổng Tử “hủ lậu” lại được lôi ra làm biểu tượng. Đó là lý do tại sao Khổng Tử lại được phục hồi danh dự một cách rất vinh quang tại Trung Quốc và Việt Nam như hiện nay. Điều đáng buồn là người ta chỉ xử dụng thuyết trung quân và hệ thống cai trị coi dân như con đỏ (dốt nát và cần phải đe nẹt) mà bỏ qua việc tôn trọng dân và giữ luân thường đạo lý cho xã tắc như Khổng Tử đã dậy.

Chúng ta nên hiểu rằng ngay trong chế độ quân chủ chuyên chế thời xưa, vua chúa vẫn phải quan tâm tới lời dậy của ba vị thánh sư của đạo Khổng để không chỉ ỷ vào mệnh Trời, nhưng phải biết thương dân, lo cho dân, dựa vào dân thì sống, không có dân thì chết.

Khổng Tử viết: “Duy mệnh bất vu thường, đạo thiện tắc đắc chi, bất thiện tắc thất chi hỹ” (Đại Học, thiên Khang Cáo), có nghiã mệnh trời không nhất định, thiện thì được, bất thiện thì mất. Mạnh Tử dậy rằng chính trị của Nho giáo lấy sự “bảo dân” (lo cho dân) làm gốc. Vì thế, theo Ngài: “Dân vi qúy, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Cáo Tử, Hạ): dân là qúy, xã tắc thứ yếu, vua nên coi thường. Tuân Tử thì đề cao cái đức của người quân tử: “Quân tử dĩ đức, tiểu nhân dĩ lực” (người quân tử lấy đức (mà trị dân), kẻ tiểu nhân lấy sức mạnh). Cũng chính Tuân Tử, trong sách Vương Chế, thiên XI, đã viết một câu rất có tinh thần dân chủ: “Quân giả là thuyền, thứ dân là nước. Nước chở thuyền, nhưng nước lại đánh đắm thuyền”.

Nhiều vị minh quân, mỗi khi thấy thiên tai, dịch tễ, dân chúng mất mùa, đói khổ, thì tự nhận mình ăn ở thiếu đức nên dân tình khổ cực, bèn ăn chay, hành xác, lập đàn tế trời đất để xin xá tội cho mình và cứu muôn dân, đồng thời mở kho lẫm phát chẩn. Những “hoàng đế” của thời đại mới vỗ ngực tự xưng thuộc luồng văn hóa này, như các lãnh tụ ở Trung Nam Hải (Bắc Kinh), Ba Đình (Hà Nội) và Bình Nhưỡng (Bắc Hàn) có bao giờ chịu nhịn rượu nồng, dê béo, gái tơ khi thấy dân khổ hay  không?

Như vậy, thứ “văn hóa khác” của Á Đông cũng tôn trọng con người, không có gì trái ngược với việc tôn trọng nhân quyền của phương Tây. Con người là phổ quát nên nhân quyền cũng phổ quát như nhận định của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI. Những sắc dân cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Khổng Mạnh như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba, đã xây dựng một chế độ chính trị dân chủ, tự do, tôn trọng nhân quyền, với một nền kinh tế thịnh vượng, có gặp mâu thuẫn nào đâu giữa văn hóa truyền thống và những tư tưởng nhân ái của thời đại. Nêu vấn đề khác biệt văn hóa để hạn chế nhân quyền chỉ là cách ngụy biện theo lối “lưỡi không xương nhiều đường lắt léo” để nhắm mắt bịt tai trước công lý, để tiếp tục xử dụng con người như một công cụ, trái với ý định của Thượng Đế khi tạo dựng con người, đã đưa con người lên hàng “nhân linh ư vạn vật”.

 

THIÊN ĐÀNG HỎA NGỤC HAI QUÊ

        Thiên Đàng Hỏa Ngục hai quê

          Ai khôn thời về, ai dại thời sa

Tôi nhớ tới hai câu thơ dậy giáo lý cho trẻ em trên đây khi đọc bài “Đọc Thông Điệp Spe Salvi của ĐTC Biển Đức XVI, HỎA NGỤC, THIÊN ĐÀNG” của Gs Đỗ Mạnh Tri trong Diễn Đàn Giáo Dân số 78 vừa qua. Cũng trong thời gian gần đây, có một cuộc tranh luận “tư” trên mạng giữa một số anh chị em quanh đề tài thiện, ác, thiên đàng, hỏa ngục. Có anh nói Chúa không tạo ra sự dữ, ác chỉ là khiá cạnh tiêu cực của thiện. Có anh lý luận thiên đàng hỏa ngục không phải là những nơi chốn mà là trạng thái tâm hồn. Anh Đỗ Mạnh Tri, trong bài nói trên, sau khi suy luận về lòng thương xót của Chúa, bèn phán một câu xanh rờn: “Có thiên đàng đời đời, không có hỏa ngục đời đời”. Một anh bạn cũng đã từng nói với tôi: “Nếu có hỏa ngục, làm sao chúng ta có thể giải thích lòng nhân ái vô bờ của Thiên Chúa?”. Thấy cuộc tranh luận khá hấp dẫn, tôi cũng xin nhập cuộc để cùng góp ý cho vui. Việc góp ý kiến này xin được coi như một cuộc thảo luận “ngoài luồng”, tức là nói bá láp về những suy nghĩ cá nhân, không dám đụng tới thần học và đức tin “chính thống”. Vì thế xin các đấng bậc đừng vội kết án đám anh em này là rối đạo.

Theo đức tin giản dị của những đồng đạo không suy nghĩ nhiêu khê, ai theo Chúa và làm lành thì sẽ được lên thiên đàng, ai chống Chúa và làm ác thì sẽ phải sa hỏa ngục.Thiên đàng là nơi hạnh phúc, vui thú khôn cùng, ngoài việc được thấy mặt Đức Chúa Trời, còn được thỏa mãn mọi ước vọng mà ở trần gian không được thỏa mãn. Có một linh mục đã giảng ở nhà thờ chỗ tôi ở là trên thiên đàng muốn cái gì cũng có. Sau lễ, tôi nói diễu với vị linh mục này: “Mai mốt ở trên ấy cha thả cửa được ăn steak và uống rượu vang khỏi tốn tiền”. Tôi nói vậy vì biết vị linh mục này thích hai thứ đó. Còn hỏa ngục là nơi lửa thiêu lửa đốt đời đời kiếp kiếp. Truyện tích Đức Mẹ hiện ra ở Fatima cũng kể Đức Mẹ đã hé cửa hỏa ngục cho ba em nhìn thấy lửa thiêu đốt những linh hồn tội lỗi trong đó.

Nếu xác tín như trên thì không có gì phải bàn thêm nữa. Khổ nỗi con người chúng ta vốn có nhiều trăn trở, biết một lại muốn biết hai, nhiều khi lôi cả cái biết của mình ra mà mổ xẻ. Đành rằng tin thì không cần biết, nhưng tin mà biết thì sẽ tin vững hơn. Con người bị tù túng bởi những giới hạn của thân xác. Tinh thần muốn bay bổng, muốn hiểu biết đủ thứ, muốn có mặt ở nhiều nơi cùng một lúc, nhưng bị thân xác cản trở. Vì cái thân xác này, chúng ta thèm ăn, thèm ngủ, thèm đủ thứ. Khi không được thỏa mãn cái thèm, chúng ta đau khổ. Cũng chính vì cái thân xác này, chúng ta mới biết khoái, đau, ngứa, rát, nóng, lạnh… Khi chết là chết thân xác, tinh thần được giải thoát khỏi những giới hạn bị thân xác ràng buộc. Vì vậy, nếu nói ở thiên đàng chỉ có ca hát, rước xách, ăn steak, uống rượu vang hết ngày này sang ngày khác; nếu nói hỏa ngục chỉ có lửa thiêu đốt để hành hạ đời đời, thì hóa ra chúng ta lấy cái thân xác mỏng dòn với rất nhiều mê đắm để làm thước đo sự ban thưởng ở thiên đàng và sự trừng phạt ở hỏa ngục. Vậy linh hồn và thân xác có gì khác nhau?

Muốn tưởng tượng thiên đàng ra sao, hỏa ngục ra sao, chúng ta phải trở lại vấn đề thiện, ác, nguyên nhân dẫn tới thiên đàng hay hỏa ngục. Anh Phạm Hồng Lam phát biểu: “Chúa chỉ tạo nên thần lành. Và sự dữ không bao giờ là một cái gì độc lập, song nó chỉ xuất hiện như là phủ định của một sự lành. Chỉ trong tương quan với sự lành mới có sự dữ, chứ một mình sự dữ thì không có”. Tôi chia sẻ quan điểm này và xin nói thêm thiện, ác cũng chỉ là hai mặt của Ying và Yang theo quan niệm âm dương của phương Đông. Âm và Dương tuy khác biệt, có vẻ đối nghịch nhau, nhưng thực sự bổ túc cho nhau, nếu không nói là làm tăng giá trị của nhau. Không có bóng tối, ai biết giá trị của ánh sáng; không có lạnh, ai biết giá trị của hơi nóng; không có đàn ông, ai biết giá trị của đàn bà; không có sự chết, ai biết giá trị của sự sống… và không có ác, ai biết giá trị của thiện? Thiện ác là hai mặt của một thực tại duy nhất. Theo Kim Định, truyền thống Việt Nam cũng có khuynh hướng cặp đôi theo tính “lưỡng hợp”. Cái gì cũng phải có hai phần trái ngược mới tạo nên một thực thể có giá trị đầy đủ: bố cái (cha mẹ), vợ chồng, trời biển, sông núi, rồng tiên, Sơn Tinh Thủy Tinh… Như vậy mới hợp với quan niệm “Vạn vật đồng nhất thể”. Sở dĩ chúng ta muốn phân chia rạch ròi thiện và ác vì chúng ta bị ảnh hưởng của quan niệm nhị nguyên (dualisme) phương Tây, lúc nào cũng muốn phân biệt chủ thể (sujet) và khách thể (objet) để phân định cho rõ ràng trắng ra trắng, đen ra đen, đúng tinh thần khoa học. Trong khi đó, phương Đông luôn có cái nhìn nhất nguyên (monisme), coi mọi sự đều hòa đồng, vũ trụ là ta, ta là vũ trụ, “thiên nhân vô nhị lý” (trời và người không do hai nguyên nhân khác nhau). Phương Tây là duy lý học, phương Đông là đạo học. Học giả Paul Masson-Oursel, trong cuốn “La Pensée en Orient” cũng đã nhận ra điều này: “Kể từ Galilée, tiếp theo là Descartes, có một sự chia cắt quyết liệt giữa chúng ta, những người phương Tây và châu Mỹ, với những người phương Đông. Chúng ta đã cắt đứt với thời Trung Cổ và thiết lập nền vật lý toán học, trong khi người châu Á vẫn giữ cái học cổ điển truyền thống với tâm hồn tôn giáo” (1). Marcel Granet nhận xét thêm: “Lối sống đó thiên về sự khôn ngoan mà không thiên về khoa học, nó nối liền con người với vũ trụ, không chống đối nhau như tư tưởng phương Tây, và không phân biệt chủ thể và khách thể, nó quan niệm trật tự của vũ trụ giống như một sự hòa hợp được thực hiện giữa thiên nhiên và xã hội”. (2). Như vậy, xấu, tốt, thiện, ác đều là những thành tố tự nhiên trong vũ trụ và con người. Chúng đều sống chung với nhau.

Khi nói thiện ác sống chung không có nghiã là thiện ác chung sống hòa bình. Vì “thiện ác đáo đầu” nên luôn có một cuộc chiến tranh trường kỳ giữa thiện và ác trong mỗi con người. Đôi khi thiện thắng ác, đôi khi ngược lại. Đến cuối cuộc đời, nếu thiện thắng nhiều hơn ác, chúng ta sẽ ra đi thanh thản, có thể coi như về thiên đàng. Nếu ác thắng thiện, chúng ta sẽ nhắm mắt trong ân hận, dầy vò, có thể coi như gặp hỏa ngục. Sướng hay khổ phát xuất từ tâm, tùy quan niệm của chúng ta. Muốn diệt khổ, cũng tùy ý chí của chúng ta. Kinh Phật dậy: “Khổ tùy tâm sinh. Khổ tùng tâm diệt”. Nếu thiên đàng giống như sự diễn tả theo những ước vọng của con người xác thịt với ánh sáng huy hoàng, hội hè triền miên, thiên thần ca hát tưng bừng, thì người được hưởng cũng chỉ vui lúc đầu, sau đó sẽ nhàm chán. Thiên đàng phải là cái gì khác. Thiên đàng, hỏa ngục cũng như luyện ngục “không phải là để chỉ những vị trí ‘địa dư’ (lieux géographiques) mà là ý nói những tình trạng, những trạng huống (état, situation)” như anh Trần Văn Khoan viết. Nếu thiên đàng là một trạng thái của tâm hồn thì Thiên Đàng rất gần với quan niệm Niết Bàn (Nirvana) của đạo Phật. Đó là một cõi thinh lặng và an bình tuyệt đối. Saripputa, một đệ tử của Đức Phật, nói thêm: “Niết Bàn là nơi dập tắt mọi ước muốn, dập tắt mọi hận thù, dập tắt mọi ảo vọng” (3), tức là không còn tham, sân, si. Thiên đàng của người tin Chúa, ngoài sự an bình tuyệt đối và không còn những ước muốn trần gian, còn có sự bao phủ của tình yêu Thiên Chúa. Nếu chỉ được hưởng an bình, linh hồn vẫn có thể còn cảm thấy cô đơn. Có thêm tình yêu, hạnh phúc mới thật sự viên mãn, mới đúng là cực lạc. Cũng theo “logique” này, hỏa ngục là tâm trạng bị cắt đứt tình người và tình Chúa, nên đau đớn vì cô độc, dầy vò, thiếu vắng tình yêu. Lửa hữu hình chỉ có thể làm đau đớn thể xác. Lửa vô hình mới làm đau đớn tinh thần.

Thiên đàng hay hỏa ngục có thể bắt đầu ngay từ cuộc đời này. Thiên Chúa đã lập ra những luật tự nhiên, cái gì cũng có nhân có qủa. Gieo gió thì gặp bão, ở hiền gặp lành. Chúa nói: “Bay đong cho ai đấu nào thì ta sẽ đong cho bay đấu ấy”, “Kẻ nào dùng gươm sẽ chết vì gươm”. Dĩ nhiên không phải lúc nào nhân qủa cũng xảy ra nhãn tiền. Nhiều kẻ ác vẫn sống phây phây. Nhiều kẻ lành vẫn chịu nhiều thứ tai ương. Tranh cãi về điều này sẽ vô cùng. Chúng ta chỉ có thể rón rén đề nghị những giải thích dè dặt trong tầm hiểu biết hạn hẹp của con người. Có thứ nhân qủa theo luật tự nhiên: ở gần núi lửa dễ bị chết cháy, ở gần đại dương dễ bị sóng thần, ở vùng bão tố chạy ngang dễ bị xập nhà, cha mẹ có căn bệnh nan y dễ truyền bệnh cho con cháu… Có thứ nhân qủa do con người tạo ra: gây chiến tranh sẽ làm dân mình chết trước; gây oán hận sẽ bị trả thù; gây tội ác sẽ ngồi tù; gian dối sẽ bị phát giác và phải đền trả; lái xe nhanh dễ bị tai nạn, hút thuốc lá dễ bị bệnh tim phổi… Đó là nhân qủa áp dụng theo công lý của con người. Nhiều kẻ gian ác vẫn lọt lưới công lý của người nhưng không thể lọt lưới công lý của Trời. Họ có thể bị lương tâm cắn rứt, tâm hồn không yên ổn, lòng luôn sôi sục những mưu toan, hận thù, khi sống không có người thương, khi chết không dễ nhắm mắt. Chúng ta không thể đòi hỏi Trời thưởng phạt công minh nhãn tiền mọi việc ở đời này. Nếu như vậy thì làm gì còn tự do của con người trong việc phán đoán và hành động. Và như vậy thì Trời đã can thiệp trực tiếp vào việc đời. Trời còn gì khác nữa để con người trông mong? Con người dù ác nhưng vẫn có nhất điểm lương tâm, vẫn có thể cải tà quy chánh, vẫn có thể tìm thiên đàng, hay sự bình yên, ngay trong cõi đời này. Phật nói: “Tự giác nhi giác tha”. Hãy tự giác ngộ thì mới tự cứu được mình. Điều đó rất đúng, nhưng con đường đến Niết Bàn theo cách Phật dậy cô đơn và xa xôi qúa. Con đường về Thiên Đàng theo giáo lý Công Giáo ngắn hơn nhiều, vì chỉ sau một đời, không phải trải qua nhiều kiếp, lại được Thiên Chúa đồng hành và nâng đỡ. Sau khi rũ bỏ thân xác trần gian, linh hồn sẽ bay bổng trong sự hiểu biết vô giới hạn, sẽ được hưởng bình an và nhất là được bao bọc trong tình yêu của Thiên Chúa. Đó là Thiên Đàng. Nếu chưa thập phần hoàn hảo, linh hồn người chết còn được người sống tưởng nhớ, khích lệ và cầu khẩn cho sớm hoàn tất giai đoạn thanh luyện, được gọi là luyện ngục. Sự hiệp thông giữa những con người bằng tinh thần, không phân biệt sống chết, là điều chúng ta có thể tin, vì tinh thần thì không có giới hạn.

Trở lại vấn đề có hỏa ngục đời đời hay không, Gs Đỗ Mạnh Tri đã nhắc lời Đức Bênêđictô XVI khi ngài trích dẫn thư thứ nhất của Thánh Phaolô gửi giáo dân thành Corintô nói về ngày phán xét sau cùng: “…Công trình của ai đứng vững, người ấy sẽ được phần thưởng; công trình của ai bị lửa hủy diệt, người ấy sẽ bị thiệt. Và bản thân người ấy sẽ được cứu độ, nhưng là như băng qua lửa”. GS Tri giải thích thêm, theo một số nhà thần học, lửa thiêu đốt không phải là lửa hỏa ngục, nhưng là lửa thanh luyện và cũng là lửa cứu chữa, là chính Chúa Cứu Thế. Tất cả những gì dơ bẩn nơi ta sẽ bị thiêu hủy một cách đau đớn, “nhưng là một sự đau đớn phước hạnh, qua đó quyền năng của tình yêu Thiên Chúa xuyên suốt con người ta như một ngọn lửa để cuối cùng ta trở nên hoàn toàn là ta và vì thế hoàn toàn thuộc về Chúa”. Đức Thánh Cha không nói qủa quyết có hay không có hỏa ngục đời đời. Ngài nhấn mạnh đến lòng thương xót và hồng ân của Thiên Chúa đối với những người có đức cậy. Cậy trông vào Chúa chắc chắn sẽ được cứu rỗi, dù phải qua “lửa” thanh lọc một cách đau đớn. Vậy những người không có đức cậy, vẫn nhởn nhơ làm ác thì sao? Theo tôi, họ là những người quyết tâm giết chết tình yêu giữa người với người, khước từ tình yêu của Thiên Chúa. Đối với những kẻ đã khước từ tình yêu, không ai có thể đem tình yêu dí vào tay họ bắt họ nhận. Tình trạng này coi như đã hết thuốc chữa. Hãy để họ được tự do trong tâm trạng cô độc với những hận thù, oán hờn. Lúc đó nếu có những dằn vặt, ân hận, nuối tiếc, thì cũng đã qúa trễ, vì khi từ chối hồng ân là đã dứt khoát xua đuổi cơ may cứu chuộc.

Bàn chuyện “ngoài luồng” như trên cũng là một cách hành xử quyền tự do mà Thiên Chúa ban cho con người. Tuy nhiên, để được lên Thiên Đàng, chưa chắc những anh hay trăn trở, hay cãi lý đã dễ qua cửa ông Thánh Phêrô bằng những người chất phác, chỉ cúi đầu tin và không cần lý luận.

 

 

(1)     “Il y a une coupure décisive entre nous, Occidentaux d’Europe et d’Amérique, et les Orientaux, ici coexistensifs aux Asiatiques que depuis Galilée, suivi par Descartes. Nous avons rompu avec le Moyen Age et fondé la physique mathématique, les gens d’Asie ont gardé leurs scolastiques traditionnelles avec leurs âmes religieuses”. (Paul Masson-Oursel, La Pensée en Orient. Trích theo Nguyễn Duy Cần trong Nhập Môn Triết Học Đông Phương, tr 27, 28. Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ).

(2)     “Elle tend à la sagesse et non à la science, elle relie l’homme à l’univers, sans opposer, comme la pensée occidentale, le sujet et l’objet, elle pense l’ordre universelle comme une entente entre la nature et la société”. (Marcel Granet, Les Idées du XXe siècle, tr 158. Edma, Paris 1978).

(3)   “L’extinction du désir, l’extinction de la haine, l’extinction de l’illusion”. (Louise Chauchard, Le Buddhisme, tr 52, Seghers, Paris 1977).