![]()
|
|
Tin Mừng
cho Người Thời Đại
Lm. Đỗ Vân Lực, op.
|
TÌM MỘT MÔ HÌNH
HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC
(Ga 3:16-18)
Năm nay Ðại Lễ Vesak
được nhà nước Việt Nam đăng cai tổ chức tại Hà Nội. Ngày 16.05.2008, Ðại Lễ tập
trung thảo luận về vai trò của Phật giáo trong việc giải quyết xung đột và ngăn
ngừa chiến tranh. Tinh thần khởi thủy nhân bản nhất của Ðại lễ Vesak là tôn vinh
những giá trị tư tưởng sâu sắc của Ðức Thích Ca Mâu Ni về hòa bình, hòa hợp, hoà
giải, vị tha, nhân ái. Nếu đây chỉ là một vấn đề thuần túy tôn giáo, Ðại
lễ Phật Ðản đã nêu lên một điểm son rất lớn của Ðức Phật trong lịch sử tôn giáo
thế giới.
Trong sứ điệp chúc
mừng các Phật tử hoàn vũ, TT Vatican cũng trân trọng đưa ra nhận định : “Trong
thế giới này – nơi mà danh từ tình yêu được quen sử dụng và dùng sai – thì có
phải là điều hữu dụng cho tín đồ Phật giáo và tín hữu Kitô giáo tái khám phá lại
ý nghĩa nguyên thủy của nó theo những truyền thống tôn giáo của chúng ta, hầu có
thể chia sẻ những hiểu biết cho nhau sao? Điều này sẽ khuyến khích những tín đồ
của cả hai truyền thống tôn giáo chúng ta chung nhau làm việc hầu xây dựng những
mối liên hệ dựa trên tình yêu và sự thật, để quảng bá sự tương kính, khuyếch
trương việc đối thoại và đẩy mạnh sự hợp tác trong việc phục vụ cho những ai cần
đến.”[1]
Trước tình thế hôm
nay, một nhận thức như thế thật là khẩn thiết và hữu ích cho công cuộc hòa hợp
hòa giải. Nhưng từ nhận thức tới thực tế vẫn còn một khoảng cách khá xa. Ðể thu
ngắn khoảng cách đó, thiết tưởng chúng ta cần phải tìm kiếm một mô hình xứng
hợp: mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi ?
MỘT MẦU NHIỆM
Chúa Giêsu mạc khải
chân lý vô cùng quan trọng về bản chất Thiên Chúa. Tự bản chất, Thiên Chúa là Ba
Ngôi. Cũng như thánh Augustin, chúng ta làm sao hiểu nổi mầu nhiệm cao cả và vĩ
đại này. Nhưng tại sao Chúa lại mạc khải bản tính của Ðấng Tối Cao, một mầu
nhiệm vượt quá tầm hiểu biết chúng ta? Vì chúng ta được tạo dựng nên giống hình
ảnh Thiên Chúa, nên càng hiểu biết Thiên Chúa, càng hiểu biết chính mình. Theo
các nhà chuyên môn về tôn giáo, quần chúng luôn cố gắng trở nên giống thần minh
họ tôn thờ. Những người thờ thần chiến tranh có khuynh hướng trở thành lái buôn
vũ khí. Những người thờ thần khoái lạc, có khuynh hướng tìm kiếm thú vui thể
xác. Thần nào có dân tôn sùng đó. Bởi vậy, chúng ta tự hỏi: giáo lý Thiên Chúa
Ba Ngôi nói gì về loại Thần chúng ta tôn thờ ? Chúng ta thuộc loại người nào ?
Trước hết, Thiên
Chúa không hiện hữu đơn độc, nhưng sống yêu thương và chia sẻ trong một cộng
đoàn. Thiên Chúa tràn đầy ân sủng và tình yêu. Nếu muốn tìm kiếm những gì thuộc
về Thiên Chúa, Kitô hữu phải tránh xa mọi khuynh hướng cô lập. Tình yêu Thiên
Chúa đòi hỏi chúng ta không được chạy trốn thế gian, nhưng phải tiếp xúc và dấn
thân với con người và xã hội.
Thiên Chúa chỉ là
Thiên Chúa khi sống trong tương quan Ba Ngôi. Vì là hình ảnh Thiên Chúa, nên
chúng ta cũng chỉ là người khi sống trong tương quan chiều ngang với tha nhân và
chiều dọc với Thiên Chúa. Tương quan ba chiều đó luôn chiếu sáng lên vinh quang
ân sủng và tình yêu Thiên Chúa, nếu Kitô hữu sống trong sự công chính. Quả thực,
họ cần hy sinh mọi sự để “tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người.”
(Mt 6:33)
Trong tương quan với
tha nhân, đức công chính mang chiều kích cụ thể của lẽ công bình xã hội. Dĩ
nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể sống ngay chính. Nhưng Thiên Chúa
luôn hiện diện để trợ lực và an ủi chúng ta. Khi chúng ta thất bại cay đắng,
Thiên Chúa ở bên ta. Ðó là phương diện phi thường của tình yêu Thiên Chúa. Người
ở với chúng ta để thách đố và tiếp tục làm việc với chúng ta. Người tiếp tục làm
cho chúng ta đối mặt với những thất bại và yếu đuối, nhất là với những bất công
xã hội. Không gì đau khổ và khó khăn hơn khi thấy chính những người cùng cảnh
ngộ lại ngoảnh mặt và xa lánh chúng ta.
Nhưng Thiên Chúa
tình yêu luôn mạc khải về chính mình và bản chất con người chúng ta. Ðường lối
Thiên Chúa mạc khải thật tuyệt vời. Ðó chính là Chúa Giêsu. Nói khác, Chúa Giêsu
trực tiếp cho thấy ngôi vị Thiên Chúa một cách rất rõ ràng. Không những Người tự
mạc khải vừa là con người vừa là Thiên Chúa một cách trọn vẹn, nhưng còn chỉ cho
chúng ta cách sống nữa. Cách sống của Người vô cùng hấp dẫn vì đã tuyệt đối tin
tưởng và hy vọng vào chương trình cứu độ của Chúa Cha. Người đã chết để tỏ lòng
thần phục. Nhờ đó, chúng ta mới biết ân sủng và tình yêu Thiên Chúa là gì đối
với nhân loại.
“Tình yêu Thiên Chúa
không gục ngã hay tĩnh tại. Trái lại, tình yêu ấy luôn vươn tới và lôi kéo người
khác nhập cuộc. Ở đây Thiên Chúa đưa ra khuôn mẫu tình yêu đích thực, nền tảng
cho mọi tương quan tình yêu. Vì yêu thương nhân loại, Thiên Chúa đã trả giá bằng
chính mạng sống của Người Con yêu quý. Ðó là giá mắc nhất Người có thể trả. Chúa
Giêsu chịu luận phạt vì tội lỗi chúng ta và cống hiến cho chúng ta sự sống mới”[2]
của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Ðó cũng là nguồn ân
sủng phi thường Chúa Giêsu cống hiến cho nhân loại. Nhờ đó, chúng ta mới biết
mình được Chúa kêu gọi hy sinh mạng sống cho anh em. Nhưng nếu không hiệp thông
với Chúa Thánh Thần, chúng ta không biết làm cách nào hy sinh giống như Chúa
Giêsu. Như các môn đệ, có lắng nghe Chúa Giêsu, chúng ta mới được Chúa Thánh
Linh hướng dẫn mà dõi theo gương Thày Chí Thánh. Quả thực, chỉ có Chúa Thánh
Thần mới có thể hướng dẫn chúng ta vào sự thật toàn vẹn là Chúa Giêsu, để hy
sinh tất cả cho Người.
Thần Khí sáng tạo
cùng với thần trí của ta làm chứng chúng ta là con cái Thiên Chúa và là người
đồng thừa tự với Ðức Kitô. Bởi thế, ngay từ trần gian, chúng ta không thể
làm ngơ trước sứ mệnh xây dựng Nước Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa được xây
dựng bằng “ân sủng Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn
thông hiệp của Chúa Thánh Thần.” (Lời chúc đầu lễ) Với sức mạnh ân sủng, tình
yêu và ơn thông hiệp, Ba Ngôi thực hiện công cuộc cứu độ, thánh hóa và hòa giải
con người với nhau và với Thiên Chúa. Bởi thế, Ba Ngôi là khuôn mẫu tuyệt vời
cho bất cứ công cuộc hòa giải nào giữa loài người.
MÔ HÌNH HÒA GIẢI
Trong công cuộc xây
dựng Nước Thiên Chúa, khuôn mẫu cho mọi cộng đồng nhân loại, hòa giải là công
việc bức thiết và quan trọng nhất. Không hòa giải với Thiên Chúa và với nhau,
con người không thể bắt đầu làm bất cứ điều gì. Nói khác, vì “Thày ở trong Chúa
Cha và Chúa Cha ở trong Thày” (Ga 14:10) và “Thần Khí Thày sai đến từ Chúa Cha”
luôn hiện diện để tha thứ hòa giải con cái loài người.
Hòa giải là một công
trình vĩ đại nhất Chúa Giêsu đã thực hiện cho nhân loại trong tình yêu Chúa Cha
và sự thông hiệp của Chúa Thánh Thần. Nhờ cuộc hòa giải đó, con người không còn
xa lạ và thù nghịch với cả Ba Ngôi Thiên Chúa. Họ được Chúa Cha nhận làm dưỡng
tử, Chúa Con gọi là bạn hữu, Chúa Thánh Thần coi là đền thờ riêng của Người. Nếu
thực thi giới răn của Thày, họ sẽ được cả Ba Ngôi Thiên Chúa đến cư ngụ trong
tâm hồn. “Giới răn của Thày là chúng con hãy yêu thương nhau.” Muốn yêu thương
nhau, cần tha thứ cho nhau. Có tha thứ cho nhau mới có thể tham dự vào sự sống
Thiên Chúa và hòa giải, hòa hợp với nhau.
“Với cái nhìn thực
tế, Kitô hữu thấy những vực thẳm đầy tội lỗi. Nhưng nhờ công cuộc cứu độ của
Chúa Giêsu Kitô, ánh sáng niềm hy vọng sẽ tiêu diệt tội lỗi và sự chết (x. Rm
5:18-21; 1 Cr 15:56-57) : ‘Trong Người, Thiên Chúa đã hòa giải con người với
chính mình.’ Chính Chúa Kitô, hình ảnh Thiên Chúa (x. 2 Cr 4:4; Cl 1:15) chiếu
sáng trọn vẹn và hoàn thành hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa nơi con người. Thiên
Chúa muốn cứu độ mọi người nơi một trung gian độc nhất là Chúa Giêsu Kitô (x. 1
Cr 15:47-49; Rm 5: 14).”[3]
Chính vì thế, Chúa Giêsu mới nói : “Không có Thày, chúng con chẳng làm gì được.”
(Ga 15:5) Bởi đó, khởi điểm và tận điểm của công cuộc hòa giải đều phải được
thực hiện trong Chúa Giêsu mà thôi.
Từ cuộc hòa giải đó,
con người mới có thể tiến đến hòa bình và xây dựng một xã hội tốt đẹp để chung
sống với nhau. Thực thế, “Chúa Giêsu ‘là hòa bình của chúng ta.’ (Ep 2:14) Người
đã giật sập bức tường thù địch ngăn cách dân chúng và hòa giải họ với Thiên Chúa
(x. Ep 2:14-16).”[4]
Trong Chúa Kitô, mọi người đều gặp gỡ nhau và tìm được giải pháp tốt đẹp nhất
làm vui lòng Thiên Chúa và hoạt động hữu hiệu cho lợi ích chung.
Nhưng nên nhớ “tại
trung tâm của ‘Tin mừng hòa bình’ (Ep 6:15) vẫn có mầu nhiệm thập giá, vì hòa
bình sinh ra từ sự hy sinh của Chúa Kitô (x. Is 53:5). Khi bị đóng đinh, Chúa
Giêsu đã thắng vượt mọi điều chia rẽ, tái thiết hòa bình và hòa giải qua thập
giá, ‘kết thúc mọi sự thù nghịch’ (Ep 2:16) và đem ơn cứu độ của Ðấng Phục Sinh
cho nhân loại.”[5]
Nói khác, sau khi chết, Chúa Giêsu đã phục sinh để làm cho mọi người nên công
chính và trả lại công lý cho mọi tương quan xã hội. Người đã phục vụ đến nỗi hy
sinh chính mạng sống cho công cuộc xây dựng Nước Thiên Chúa để mọi người có thể
sống trong hòa bình và hạnh phúc.
Như thế, rõ ràng
trong tình yêu của Chúa Cha và hiệp thông với Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu đã đổ
tràn ân sủng cho toàn thể nhân loại. Qua đó, dù bị thử thách, chúng ta cũng được
Thiên Chúa chỉ cho cách đối phó với những đau khổ và thất bại. Thánh Linh sẽ cho
chúng ta thấy cách thức Thiên Chúa đối xử với chúng ta. Người cho thấy lòng từ
bi và sự tha thứ vượt quá sức tưởng tượng. Khác hẳn với nhóm người Pharisêu,
Chúa Giêsu đã cố gắng giúp dân chúng tin tưởng vào những gì tốt lành, chân thật
và đúng đắn. Người hoàn toàn tha thứ cho con người. Ðó là nét đáng yêu nhất và
cũng là yếu tố cần thiết nhất để bắt đầu cuộc hòa giải chân thật.
Chính vì thế, không
ai đáng tin cậy và yêu mến bằng Chúa Giêsu. Niềm tin sẽ giúp khai thông mọi vấn
đề và nối kết mọi phe thù nghịch. “Tin nơi Chúa Giêsu Kitô sẽ làm cho chúng ta
có thể hiểu biết đúng đắn về sự phát triển xã hội, trong bối cảnh nhân bản toàn
vẹn và liên đới. Về phương diện này, Giáo huấn Giáo Hội về xã hội đã góp phần
rất hữu hiệu qua những suy tư thần học : ‘Trong khi soi sáng tận bên trong về
bản chất của sự phát triển, đức tin nơi Chúa Kitô Cứu thế cũng hướng dẫn chúng
ta hành động để hợp tác với nhau.’”[6]
Ðức tin có liên quan và ảnh hưởng sâu xa tới những quy luật chi phối xã hội.
Càng tin nơi
Chúa Kitô, càng thấy Ba Ngôi là một mô hình tuyệt vời cho sự hòa hợp hòa giải
đích thực.
Chúa Cha là suối nguồn tình yêu. Chúa Con chan hòa ân sủng và chân lý. Chúa
Thánh Thần khiến Chúa Cha và Chúa Con thông hiệp với nhau. Một cuộc hòa hợp hòa
giải kỳ diệu giữa Ba Ngôi. Nhờ đó Ba Ngôi liên kết thành một thực tại duy nhất
là Thiên Chúa.
THỰC TẾ PHŨ PHÀNG
Sau khi được mạc
khải về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta khám phá thấy mô hình vĩ đại và
lý tưởng cho công cuộc hòa giải và hòa hợp dân tộc. Ðã là một mầu nhiệm cao cả
cần phải có những con người thích hợp mới có thể cử hành và đem lại những ích
lợi thực tiễn cho cuộc sống. Chân lý tôn giáo là đỉnh cao của con người không
thể dùng những phương tiện trần thế mà vươn tới được. Nhưng ngay cả những ý niệm
và truyền thống tôn giáo cũng có thể vượt qua những năng lực và giới hạn của
những thực tại trần thế. Ý niệm về tình yêu chẳng hạn. Nếu đầu óc đặc sệt
vật chất, làm sao thấu hiểu những ý niệm siêu thoát về tình yêu. Thực thế, Tòa
Thánh cũng thú nhận : “Qua đối thoại, chúng tôi nhận chân ra tầm quan trọng là
qúi vị, những Phật tử, hiến dâng tình yêu cho đồng loại, được diễn tả bằng danh
từ ‘metta’, thứ tình yêu không muốn chiếm hữu mà là chỉ muốn giúp tha
nhân mà thôi. Một thứ tình yêu được hiểu là chỉ muốn tự hy sinh lợi ích cá nhân
cho lợi ích của chúng sinh. Như vậy tình yêu metta, theo Phật pháp không
đóng khung trong ý niệm nhân hậu mà thôi, nhưng được trải dài ra vào việc làm
phúc thiện, vào sự phục vụ tất cả. Như vậy nó là sự từ tâm đại chúng toàn cầu.
Ngoài ra cũng không thể bỏ qua một nhân đức khác, đó là karuna, qua đó
lòng thương cảm yêu mến được thể hiện cho khắp chúng sinh.”[7]
Làm cách nào
nhà cầm quyền Hà nội có thể nắm bắt hết những chiều kích sâu xa và phổ quát như
thế trong Phật giáo?
Trơ trẽn thay, một đại lễ tôn giáo lại do những người làm chính trị đứng ra tổ
chức. Thực vậy, “điều phối đại lễ là ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng ban Tôn giáo
nhà nước. Cầm đầu các tiểu ban Tuyên truyền, An ninh, Tài chánh, Hậu cần cũng là
các cơ quan nhà nước. Đọc diễn văn bế mạc là Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng và khai
mạc đại lễ là Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước !”[8]
Sở dĩ có sự sắp đặt chặt chẽ như thế vì nhà nước muốn hoàn toàn thành công
trong việc tuyên truyền cho thế giới về tự do tôn giáo tại Việt Nam. Nhưng
càng sắp đặt càng làm cho mọi người nghi ngờ về “thiện chí” của nhà nước. Ngày
08-05-2008, Bà Elaine Pearson, Phó Giám đốc Phân bộ Mỹ của Tổ chức Theo Dõi Nhân
Quyền (Human Rights Watch), tuyên bố: “Thật là một trò đùa khi Việt Nam tổ
chức một đại lễ Phật Đản quốc tế trọng đại đang lúc quốc sách của họ vẫn là kiểm
soát chính trị tất cả các tổ chức tôn giáo. Việt Nam vẫn tiếp tục nhốt tù, trấn
áp các Phật tử, tu sĩ Phật giáo cũng như các tu sĩ và tín hữu các tôn giáo khác
một cách có hệ thống.”[9]
Trong Thông bạch
Phật Đản Phật lịch 2552 ngày 18-4-2008, Hòa thượng Quảng Độ cũng vạch trần âm
mưu đen tối của nhà nước : “chúng tôi không tin sự kiện này phát xuất
từ cõi lòng chân thật của Cộng sản đối với Đức Phật, đối với Phật
giáo, mà xuất phát từ động cơ chính trị, lợi dụng Phật đản để sơn
phết bộ mặt yếu kém về tự do, dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo
của CSVN trước đông đảo quan khách quốc tế đến tham dự Phật đản Vesak
2008 tại Hà nội…”[10]
Hậu ý chính trị của nhà cầm quyền Hà Nội qúa lộ liễu. Bởi thế, nhiều nước, cụ
thể như Nhật, Sri Lanka, Thái Lan tỏ ý không hài lòng.
Sự thật thật phũ
phàng! Trước tình thế ấy, không hiểu sao các giám mục Nguyễn Chí Linh và Ngô
Quang Kiệt vẫn đích thân đến chúc mừng và trao tận tay thư của HÐGMVN với chữ ký
của GM Chủ Tịch Nguyễn Văn Nhơn với lời lẽ như sau: “Chúng tôi chung vui với
Qúy Vị vì năm nay đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc được tổ chức tại Việt Nam. Hi vọng
qua đại lễ này tình đoàn kết giữa hai Giáo Hội càng thêm tốt đẹp để cùng nhau
phục vụ hạnh phúc của đồng bào.”[11]
Hy vọng nhà nước sẽ
thành công trong việc hòa giải hai Giáo Hội Phật Giáo à? Khi chúc mừng như thế,
HÐGMVN có biết Hòa thượng Quảng Độ đã viết gì không? Hòa Thượng và
GHPGVNTN có vui khi xem thấy lời chúc mừng “ngây thơ” đó không?
Phải tìm trong thực
tế mới thấy câu trả lời đích đáng cho những âm mưu đen tối của nhà nước Việt
Nam. “Hà Nội nói rằng sẽ đón tiếp khoảng 5000 đại biểu từ 130 quốc gia, nhưng
sau đó báo chí loan tin chỉ có khoảng 2000 đại biểu từ 90 quốc gia tham dự. Hai
Giáo hội lớn không có mặt là Giáo hội Phật Giáo Tây Tạng của đức Ðạt Lai Lạt Ma,
và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong nước. ”[12]
Thái Lan vẫn cử hành đại lễ Vesak song song với Việt Nam để tẩy chay Ðại Lễ
Vesak tại Hà Nội.
Nhà nước tưởng thiên
hạ ngu cả. Lợi dụng tôn giáo làm công cụ tuyên truyền về tự do tôn giáo đã không
qua mắt thiên hạ được. Tất cả sự thật đã được phơi bày. Tham vọng toàn trị trong
cả lãnh vực tôn giáo đã phải trả một giá quá mắc!
Nhìn lại mô hình
hòa giải và hòa hợp nơi mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta mới thấy rõ con
đường đi tới lý tưởng đó. Quả thực, nếu là hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, con
người cũng phải sống như Ba Ngôi mới có thể hòa giải và hòa hợp với nhau. Muốn
hiệp thông với nhau, cần đối thoại để tìm ra chân lý. Càng nhận ra chân lý, càng
biết tôn trọng và yêu thương nhau. Ðó là con đường hòa giải đích thực.
Lạy Thiên Chúa Ba
Ngôi, xin cho chúng con được bước vào cuộc thông hiệp với Chúa để chúng con có
thể hòa giải và hòa hợp với nhau trong nỗ lực xây dựng cuộc sống hôm nay. Amen.
đỗ lực
18.05.2008
[1]
http://www.vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?Id=34603
[2]
Life Application Study Bible : New International Version, 1991:1878.
[3]
Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 121.
[4]
Ibid., 491.
[5]
Ibid. 493.
[6]
Ibid., 327.
[7]
http://www.vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?Id=34603
[8]
http://tiengnoigiaodan.net/anews/0805_078.html
[9]
Ibid.
[10]
Ibid.
[11]
http://www.vietcatholic.net/News/Html/54728.htm
[12]
http://www.sbtn.net/?catid=193&newsid=27100&pid=157