Viết từ Úc-châu

 

Muộn còn hơn không

Hồ Quỳnh-Uyển

 

            Vào những ngày đầu của Mùa Chay Thánh năm nay, dân Úc-đại-lợi xôn-xao bàn tán về một sự-kiện có tích cách lịch-sử của nước Úc vì nó có giây mơ rễ má với trọn vẹn quá-trình hình-thành một nước Úc như ngày nay. Đó là việc thủ-tướng Kevin Rudd chính-thức xin-lỗi người thổ-dân Aborigines về việc làm của nhiều đời chính-phủ trước từ khi người da trắng đặt chân đến xứ này. Việc xin lỗi diễn ra ngày 13-2-2008, tức là ngay trong phiên họp đầu tiên năm 2008 của Hạ-viện Liên-bang. Dân Úc gọi đó là “Sorry Day” hoặc “Sorry Motion” của tân thủ-tướng Úc về cái gọi là những “thế-hệ bị tước-đoạt” hay những “thế-hệ bị đánh cắp” (Stolen Gerenations)

            Để hiểu rõ ý-nghĩa đáng kể của biến-cố này, nhất là sự-kiện Stolen Gerenations, tưởng cũng cần nhìn thoáng lại đôi nét từ buổi đầu của những tiến-trình đã có để từ đó nước Úc mới đuợc manh-nha. Đây là một quá-trình lịch-sử khởi đầu bằng chính-sách thực-dân của những người da trắng từ các nước Âu-châu đi chinh-phục đất-đai làm thuộc-địa.

Ngay từ thế-kỷ thứ hai, người Âu-châu đã mường tượng ra đuợc về một miền đất phía nam bán cầu như nhà toán-học và điạ-lý học gốc Hy-lạp-Ai Cập Claudius Ptolemy đã có, chẳng hạn. Giữa khi ông còn loay-hoay suy-luận về sự khả-tín có một lục-điạ ở đâu đó thuộc nam Á-châu hay đông Phi-châu thì người Aborigines đã sinh sống tại dây hàng ngàn năm rồi. Sau Ptolemy là đến nhiều tác-giả và sử-gia khác lại hiểu sai khi đọc nhật-ký hành-trình của Marco Polo mà cho rằng đấy là vùng đất phía nam đảo Java như là Java-la-Grande hay Islands of Gold. Nhưng vẫn còn là những suy-luận giả-định.

 Mãi đến những năm 1520s người Bồ-đào-nha mới tìm đuợc vùng bờ biển phía đông của Úc.  Rồi người người Tây-ban-nha, Hoà-lan cũng đã mon men được đến gần bờ biển Úc vào năm  1606 nhưng tất cả đều thất-bại khi vào bờ. Người Anh cũng biết có vùng đất phía nam này và vào năm 1688, William Dampier đã dặt chân lên bờ biển tây bắc nhưng với con mắt một dân chuyên cướp biển nên William Dampier chỉ nhìn nó đơn-giản là một miền đất khô cằn. Cuối cùng thì vào ngày 29 tháng 4 năm 1770, thuyền trưởng James Cook chính thức bỏ neo con tầu thám-hiểm Indeavour của ông ở Botany Bay thuộc Sydney ngày nay. Và rồi, người Anh đã chọn vùng đất mới này trước hết như một nhà tù để chuyển bớt sang đây một số lượng tù nhân từ Anh-quốc. Vậy là vào tháng 5 năm 1787, một sĩ-quan hải-quân về hưu tên là Arthur Phillip chính-thức nhận nhiệm-vụ chỉ huy đoàn tầu xâm-lược đầu tiên (the First Fleet) đến vùng đất mới này, mang theo 750 tù-nhân, các nhân-viên hành-chánh, một viên toàn-quyền, một số quân-đội và lương-thực đủ dùng trong hai năm. Số tù nhân và những cai tù này chính là những người đầu tiên làm nên dân-số cho nước Úc vừa đuợc lập-thành dưới quyền-lực tối cao của viên toàn-quyền đúng với nghĩa toàn-quyền tức là không những có quyền đơn-phương làm ra luật và thi-hành luật về tư-pháp, quyết-định mọi điều về hành-pháp mà còn là tổng-tư-lệnh chỉ-huy toàn-thể thuộc-địa mới này với tên gọi đặt cho là xứ Wales mới phía nam. Đó chính

 là tiểu-bang New South Wales ngày nay và thủ-phủ Sydney là tên của người với tư-cách ngoại-trưởng trong chính-phủ Anh-quốc thời đó đã công-bố quyết-định này

Người thổ-dân trên lục-điạ Úc-châu khi đó là Aborigines đã sinh sống lâu đời trên miền đất vùng cực nam bán cầu từ ba chục ngàn năm trước trong những cố gắng khắc-phục thiên-nhiên để sống còn với kiến-thức đặc-biệt của họ. Họ biết làm chủ khi sử-dụng đất-đai cùng các nguồn tài-nguyên chứ không thụ-động duy-trì tình-trạng sơ-khai, như Bessant và một nhóm tác-giả đã nhận-xét trong tác-phẩm Australian History – The Occupation of a Continent là they had a tremendous knowledge and mastery of the land and its resources. Hundred of the edible plants and drugs, as well as an intricate knowledge of the elusive waters of the continent, all show a very high degree of environmental adaptation...They were not “primitive” (sách đã dẫn trang 3 – nhà xuất-bản Eureka 1980). Khi người Âu-châu đến định-cư vào năm 1788 thì đã có khoảng từ 250 đến 300 ngàn thổ-dân Aborigines thuộc 500 bộ-tộc ở rải-rác khắp nơi trong mức sống tương-đối đầy-đủ và an-bình.

Thời-gian đầu mới đuợc lập, New South Wales chỉ là một nhà tù hơn là một thuộc-địa mới vì chưa có liên-hệ gì đến dân bản-xứ là người Aborigines về mọi mặt. Chỉ sau khi lương-thực dự trù trong hai năm đã cạn, mẫu-quốc Anh coi như phủi tay trong trách-nhiệm cung-ứng hay tiếp sức về các nhu-cầu căn-bản, mọi người bắt đầu giáp mặt với cái đói, với bệnh tật và nhiều thứ khác nên đã nhìn vào đất đai để khai-thác. Dù vậy, tù-nhân vẫn đuợc tiếp-tục gửi sang, các chức-sắc trong guồng máy điều- hành cũng đều đều được chính-quyền mẫu-quốc tăng cường để áp-dụng những chương-trình, những chính-sách cai-trị kiểu cai tù, kiểu thực-dân.Từng vùng đất có thể khai-thác đuợc bị người da trắng chiếm và người Aborigines bị đẩy xa dần về các vùng hẻo lánh hơn. Sau khi người Anh thiết-lập xong hệ-thống chính-quyền chặt-chẽ với  đầy đủ quân-đội và hành-chính thì thuộc-điạ này đã có mặt đầy đủ các dạng thức của một xã-hội tư-bản tây-phương thời đó. Dĩ-nhiên là các nhà truyền-giáo cũng có mặt và cùng có cái nhìn về người Aborigines như quan-điểm của những người đến cai-trị là phải khai-hóa, phải “văn-minh-hóa” họ với những phương-cách phản nhân-bản vì không tôn- trọng đời sống tinh-thần, văn-hoá và tập-tục riêng của họ. Bắt buộc họ phải dứt bỏ hoàn-toàn quá-khứ của hàng chục ngàn năm. Bắt họ phải pha loãng mầu da và thay đổi diện-mạo với những hành-vi thô-bạo là cho phụ-nữ Aborigines lấy những nam tù-nhân da trắng....Vì vậy, họ đang sống thảnh-thơi, sung túc trên mặt đất thiên-nhiên của mình thì bây giờ bị tập-trung lại từng nơi, từng vùng trong những sinh-hoạt bó buộc phải theo và như những người ăn xin nhận ăn từng bữa món ăn lạ cho nên phần lớn đã bỏ trại tập-trung để tìm về cuộc sống bộ-tộc trước. Chính-sách của người Anh về thổ-dân đuợc siết lại chặt-chẽ thêm. Thế là người Aborigines bắt đầu bị săn lùng, bị đuổi bắt. Họ tự-vệ bằng khả-năng thô-sơ và dẫn đến những sự chống đối nhau từ cả hai phía. Cuối cùng là đã xẩy ra những cuộc tàn-sát tập-thể người Aborigines như vụ tàn-sát tập-thể tại Myall Creek vào năm 1838.

Tại tiểu-bang Tasmania, người da trắng đã có chính-sách đuổi tận giết tiệt thổ-dân đến độ họ có thể huy-động cả mấy ngàn người để chỉ tấn-công hoặc săn lùng vài ba thổ-dân Aborigines như đã xẩy ra vào ngày 7-10-1830. Đây là nơi mà thổ dân Aborigines đã bị diệt-chủng như Bessant và một  nhóm tác-giả ghi nhận là vào năm 1803, Tasmania có khoảng năm ngàn thổ dân, đến năm 1824 thì chỉ còn lại năm trăm người. Đến năm 1876, bà Truganini là người thổ-dân cuối cùng của đảo này cũng chết luôn và bị người da trắng đem phân thây để lấy bộ xương đi khảo-cứu.

Những nơi khác thì tương đôi nhẹ nhàng hơn nhưng những người sống sót bị tập trung lại dưới sự giám-quản của các nhà truyền-giáo và chính-quyền. Họ sống giữa cộng-đồng những người da trắng như một loại “công-dân hạng hai”. Sau năm 1866, chính-quyền người da trắng cố gắng thi-hành chính-sách đồng-hoá bằng cách tách rời ngững người Aborigines ở lớp tuổi dưới 34 cho nhập vào cộng-đồng người da trắng. Và để ngăn-ngừa việc lớp trẻ Aborigines vẫn được duy-trì truyền-thống cũng như văn-hoá và phong-tục tập-quán riêng thì họ đã tách các nam nữ thổ dân ra cho sống biệt lập và đem các trẻ em đi xa khỏi tầm tay nguời lớn. Việc làm này vừa là chủ-trương đồng-hoá của người da trắng vừa là mục-đích muốn bảo-vệ và giúp người Aborigines mau hội nhập của các tôn-giáo nhưng ngay cả những nhà truyền giáo cũng đã chỉ nhắm mục-đích giảng đạo mà không hiểu ra rằng họ đã xâm-phạm đời sống tinh-thần của thổ-dân để từ đó dẫn đến sự hủy-diệt nếp sống cộng-đoàn Aborigines – Many missionaries were only concerned with teaching basic Christian doctrine. Thay failed to understand how they were destroying Aboriginal society by attacking the spiritual life of Aborigines. They deliberately separated Aboriginal men and women and removed children from their elders. This prevented any chance of Aboriginal customs being passed on to the younger generations. Chính-sách này đã đuợc duy-trì hàng thế-kỷ cho đến cuối thập-niên 60 mới chấm dứt với đạo-luật công-nhận quyền công-dân của người Aborigines vào năm 1967 để cho họ đuợc quyền bầu phiếu.

 Với chính-sách gần như muốn diệt-chủng người Aborigines như thế mà  đã có hàng trăm ngàn trẻ em Aborigines bị tách lìa khỏi gia-đình, khỏi bộ-tộc để đem vào những khu tập-trung sống như trẻ mồ côi hoặc giao cho các gia-đình người da trắng nuôi dưỡng. Đây chính là sự-kiện lịch-sử “Stolen gerenations” và là lý-do tại sao có ngày “Sorry Day”, tại sao vào một ngày Thứ Tư lịch-sử, thủ-tướng Úc phải nói ba lời xin lỗi trong bài diễn-văn khai-mạc phiên họp đầu tiên năm 2008 của Quốc-hội Liên-bang Úc cách  long-trọng rằng: Với tư-cách là Thủ-tướng Úc, tôi xin lỗi  ....nhân danh chính-phủ Úc tôi xin lỗi...Nhân danh Quốc-hội Úc tôi xin lỗi về sự đau đớn, thống-khổ và tổn-thương của những thế-hệ bị đánh cắp, của con cháu và gia-đình họ bị bỏ lại, chúng tôi có lời xin lỗi. Chúng tôi xin gửi đến các bậc cha mẹ, các người anh, người chị lời xin lỗi vì đã làm tan-nát những gia-đình và những cộng-đoàn. Chúng tôi xin lỗi vì đã  làm cho một dân-tộc, một nền văn-hoá đáng tự-hào phải chịu đựng sự sỉ nhục và sự thấp hèn như vậy (As Prime Minister of Australia I am sorry. On behalf of government of Australia I am sorry. On behafl of Parliament of Australia I am sorry for the pain, suffering and hurt of these Stolen Gerenations, their descendants and for their families left behind, we say sorry. To the mothers and fathers, the brothers and sisters, for the breaking up of families and communities, we say sorry. And for the indignity and degradation thus inflicted on a proud people and a proud culture, we say sorry...)

Những việc làm sai trái, những lỗi-lầm và ngay cả những tội ác giữa con người với nhau đều có thể được thứ-tha từ một nhận-thức trung-thực về ý-nghĩa và hậu-quả của nó đi kèm theo lời xin lỗi chân thành  cho dù đó là một cá-nhân, một tập-thể hay một chính-phủ. Đó là lối suy nghĩ thẳng-thắn, lương-thiện và nhân-bản của những con người trí-thức thực-sự. Người Úc da trắng phương tây từ trong quá-khứ xa xưa đã vuợt ngàn trùng biển khơi đến xâm-phạm đất đai và cuộc sống của thổ-dân Aborigines để giờ này chính thủ-tướng công khai nói lời tạ-lỗi tại một diễn-đàn chính-trị của quốc-gia. Không những thế, trong thời-gian trước ngày xin lỗi, thủ-tướng Kevin Rudd đã đi gặp  một số cá-nhân kiểu “thân hào nhân-sĩ” thổ dân để cúi đầu xuống nắm lấy tay họ nói lời xin lỗi. Phải chăng đấy là tư-cách và đạo-lý của những người lãnh-đạo đúng nghĩa vì dân, vì nước.

Nhìn người lại nghĩ đến mình. Nhìn đất nước người chỉ mang danh đơn-giản là Úc-đại-lợi mà không cần gắn thêm bất cứ một mỹ-từ nào khác thì lại thực sự tự-do, dân-chủ như thế; trong khi nước Việt-Nam hiện-tại bị gắn theo bao nhiêu chiêu-bài như cộng-hoà, xã-hội, độc-lập, tự-do, hạnh-phúc...thì lại thiếu ngay cả một chút không-khí tự-do để người dân có thể có được quyền làm người đúng nghĩa với những quyền hạn căn-bản. Tám chục triệu con người lúc nào cũng mang lòng nghi kỵ, tị-hiềm, thủ-kỷ để tận-dụng mọi sở-trường, sở-đoản mà lo sao đuợc sống còn trong một xã-hội thoái-hoá cùng-cực về đạo-đức và các giá-trị tinh-thần nhân-bản. Thế nhưng, lúc nào và ở đâu cũng ba-hoa phô-bày hai chữ văn-hoá như dán bùa... vậy thì phải gọi những người cộng-sản Việt-Nam đang nắm quyền cai-trị là gì cho đúng? Từ lúc họ chiếm giữ đưọc quyền cai-trị người dân Việt tại một vùng, một phần đất nuớc rồi đến cả một giải giang-sơn thì đã tạo ra bao nhiêu là khủng-bố, tù đầy và thảm-sát cho từng cá-nhân, phe nhóm cũng như tập-thể? Bao nhiêu người quốc-gia bị thủ-tiêu, bị tù đầy đến chết; bao nhiêu người dân cần cù bị đấu tố chỉ vì có ruộng vuờn; bao nhiêu người dân Huế bị thảm-sát cách đây mới 40 năm mà còn tệ hơn cảnh thưc-dân da trắng thời thuộc-điạ tiêu-diệt người Aborigines vàrồi đến những trại cải-tạo giống như điạ-ngục trần-gian còn chưa nguôi thống-khổ... Thế mà bây giờ cứ trâng-tráo đòi quên đi thì hoạ chăng chỉ có người mất trí hay kẻ vô-tâm mới làm mà thôi. Những người Việt nào không ưa chủ-nghĩa cộng-sản vô-đạo, không muốn đất nước rơi vào cảnh “phồn vinh giả tạo” ngày hôm nay thì vẫn còn phải chống, phải tìm cách tẩy trừ đi những đầu óc bạo ngược và gian dối, giảo-hoạt.

Các sử-gia Úc không ngại ghi chép theo sự thật để mọi người nhớ lấy làm bài học cho ngày sau. Đó là những hành-vi trung-thực cần có và phải có. Nói chung, không ai được quên đi những việc đã làm, nhất là những lầm lỗi, mà là cần phải nhớ từng người từng việc để tránh, để sửa, để sám-hối. Còn nếu chỉ muốn đòi hỏi người ta phải  quên đi hoặc cố tìm cách che đậy hay né tránh sự thật thì đó chính là sự lấp-liếm mà chỉ những kẻ gian-hùng mới làm mà thôi.