Lối mòn
Phạm Minh-Tâm
Trong Thánh-lễ Chúa-nhật thứ V Mùa Chay, các tín-hữu Công-giáo đã được nghe một
câu chuyện do thánh-sử Gio-an thuật lại về cái chết và sự sống lại của La-da-rô
với một số lời đối-thoại sống-động giữa Thầy trò Chúa Giê-su. Câu chuyện này
đáng lẽ phải được Ki-tô hữu đọc và suy trong sự liên-hệ đến cái nhìn tâm-linh
của chính mình nhưng nó chỉ đựợc đa-số người tin ghi nhận đây là một phép lạ
trong số những phép lạ Chúa Giê-su đã làm mà thôi. Đi kèm theo phép lạ này là
thái-độ biểu-hiện niềm tin của những cá-nhân vây quanh. Mở đầu là Tô-ma rất
cảm-khái nói với anh em mình “Cả chúng ta nữa, chúng ta cùng đi để cùng chết với
Thầy” (Ga 11, 16) khi các môn-đệ lo ngại can ngăn nếu Chúa trở lại Giu-đê sẽ gặp
nguy-hiểm vì bị chống đối. Tiếp đến là cô Mác-ta tuyên xưng những lời thật
trơn-tru, trôi chảy “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây em con đã không chết. Nhưng
bây giờ con biết bất cứ điều gì Thấy xin cùng Thiên-Chúa, Người cũng sẽ ban cho
Thầy...Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau
hết...Con tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên-Chúa, Đấng phải đến thế-gian” (Ga 11,
1-27). Rồi đến một vài người trong đám đông đang có mặt băn-khoăn “Ông ta đã mở
mắt cho người mù lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư?” (Ga 11, 37)...
Và rồi, khi niềm tin đó đuợc thúc đẩy phải chứng thực bằng việc làm, bằng
hành-động cụ-thể trước mắt mọi người cho dù do chính Chúa Giê-su nói thì ngay
tức khắc, Mác-ta đã quên những điều vừa nói mạnh-mẽ về niềm tin của mình để
hoàn-toàn trở về với bản-chất con người mà vội-vàng lên tiếng “Thưa Thầy, nặng
mùi rồi vì em con ở trong mộ đã đuợc bốn ngày” ...Vậy là, những lời chân-lý của
Đức Ki-tô đã bị bỏ rơi, bị đẩy lui
bởi những hiểu biết thường tình,
những kinh-nghiệm quen thuộc của tâm-lý thông thường kiểu xưa thế nào nay vẫn
vậy, không thay đổi và cũng không tiến-thủ; cho dù Chúa đang đứng trước mặt và
phán truyền thì cũng vẫn bị trí khôn loài người nghi ngại không cần suy nghĩ. Đó
là chuyện đã xẩy ra cách đây gần hai ngàn năm khi Chúa Giê-su chưa biểu tỏ đủ
quyền-năng là một Thiên-Chúa hằng sống với tin mừng Phục-sinh và cũng chưa được
người đời tôn-vinh nữa.
Ngày nay, cái nhóm người vây quanh Đức Ki-tô thuở ấy đã được nhân lên gấp triệu
triệu lần sau hai thiên-niên-kỷ, đầy đủ cả những Tô-ma, Mác-ta...Và không những
cũng vẫn với một niềm tin kiểu trước sau như một ấy mà xem ra còn lỉnh-kỉnh hơn
nhiều. Nhất là với những Tô-ma, Mác-ta Việt-Nam, chẳng hạn.
Kể từ ngày đầu Tin Mừng của Chúa được loan báo trên đất nước Việt-Nam vào khoảng
giữa thề-kỷ 16 đến nay tính ra cũng đã gần năm trăm năm. Dọc theo chiều dài của
hành-trình đức tin này, Giáo-hội Công-giáo Việt-Nam đã trải biết bao nhiêu là
thăng trầm, biến-động và gian-nan dưới ảnh-hưởng của thời-thế, của từng
giai-đoạn lịch-sử, từng hoàn-cảnh cho nên nếp sống đạo của tuyệt-đại đa-số giáo
dân thường là thụ-động theo kiểu vâng lời tối mặt với tâm-trạng hình như chỉ cần
tìm trong đạo một hy-vọng cho phần hồn đời sau. Kịp đến khi Hàng Giáo-phẩm
Việt-Nam đuợc chính-thức thành-lập ngày 24-11-1960 để thực sự trở thành một
Giáo-hội điạ-phương trưởng-thành và phát-triển với cơ-cấu giáo-phận chính-toà
thay vì hiệu-toà như trước và cũng vừa kịp lúc Giáo-hội hoàn-vũ chuyển mình qua
Công-đồng Vatican II để thích-ứng với một số vấn-đề mới mẻ của Giáo-hội trong
thế-giới hôm nay thì Giáo-hội Việt-Nam vẫn không chủ-động bắt kịp đà tiến để
cập-nhật với những bước đổi mới của thời đại hậu Công-đồng này, vẫn lặng-lẽ lê
chân trên một lối mòn xưa cũ. Thực ra, lối mòn tự nó không đi ngược với
thời-gian và càng không cản bước chân ai cả. Bất cứ một con đường mòn nào cũng
đều có giá-trị khai-phá của những người khởi đầu đã can-đảm chấp-nhận thử-thách
để có những bước mở đuờng. Cái tệ-hại là ở nơi những người bước sau chỉ biết dẵm
lên lối cũ sẵn có mà không bỏ thêm công sức vào, không đóng góp khả-năng và
kiến-thức để mở rộng hay chỉnh-trang, uốn nắn thêm cho phù-hợp và cập-nhật với
một thế giới luôn biến-động và thay đổi không ngừng.
Con đuờng lữ-hành đức tin của người Công-giáo Việt-Nam cho đến nay không những
vẫn còn lòng-vòng uốn khúc trên một lối mòn muôn năm cũ mà lại còn thêm nhiều
rác rưởi vương vãi đó đây. Công-đồng Vatican II đã khởi-xướng nhiều đổi mới gần
nửa thế-kỷ rồi mà nhiều giáo-sĩ, tu-sĩ vẫn giống như mắc bệnh di-truyền bất-trị
cái thói tục phách lối và chuyên-chế đối với giáo dân, làm mục-vụ mà giống như
người cai-trị và giáo hữu là những kẻ bị-trị. Sự bất quân-bình trong tương-quan
giữa giáo-sĩ và giáo dân Việt-Nam hiện nay chẳng qua chính là cái di-sản
lệch-lạc thoát-thai từ một quá-khứ bị đô-hộ mà tất cả hai phía đã lẫn lộn giữa
cái thánh-thiêng và cái trần-tục. Lệch-lạc và lẫn-lộn là vì buổi đầu sơ-khai,
đạo đưọc rao giảng từ những vị thừa sai ngoại-quốc. Do ngôn-ngữ bất-đồng và do
cái nhìn sợ hãi, e-dè và vâng phục sẵn có của một người dân thuộc-điạ với những
người thực-dân cai-trị ngoài đời như thế nào thì đến khi là giáo dân họ cũng lại
nhìn những nhà truyền-giáo Tây-phương như vậy và cộng thêm vào đấy sự kính-trọng
với chức thánh thiêng-liêng nữa. Vì vậy, giữa giáo-sĩ và giáo dân đã thiếu vắng
tương-quan huynh-đệ. Từ cái nhìn sai lệch trong hoàn-cảnh sơ-khởi này mà người
giáo dân vô-hình-trung tạo cho giới tu-sĩ và giáo-sĩ một quyền-lực đáng uý-kỵ
rồi lâu ngày dài tháng cứ tiếp nối ăn sâu mãi thành một não-trạng mà cả hai phía
đều khó thay, khó đổi hay đúng hơn là không chịu thay đổi. Thành ra cho dù
hoàn-cảnh sống đang ở giữa thế-kỷ 21, người ta vẫn có nhiều lý-do để lập lại lối
sống đạo từ thời xưa cũ thay vì đem đạo áp-dụng trong cuộc sống hiện-tại.
Phía giáo dân thì phần lớn xưa nay theo đạo như giữ một thói quen, như theo một
công-thức tự-động có những nút bấm đơn giản của một cái máy. Bây giờ phải học
hỏi, phải tìm hiểu và nhất là phải thực-hành giáo-lý của đạo vào đời sống thì
thật là phiền phức. Còn đa-số các tu-sĩ, giáo-sĩ vẫn an-nhiên tự-tại trong cái
nếp ăn theo từ thời bị đô-hộ để làm “cha thiên-ha” thay vì là phục-vụ thiên-hạ.
Tác-phong này vừa sai lạc với nhiệm-vụ một thừa-tác-viên của Chúa, lại vừa như
cố níu lấy tính-chất thực-dân, phong-kiến.
Nhìn vào đời sống đức tin của tín-hữu trong Giáo-hội Việt-Nam xem ra lại còn
nhiều khuôn sáo mầu-mè của một não-trạng chai cứng và cố-chấp còn hơn cả bà
Mác-ta nữa. Người ta có thể rất nhậy bén với bất cứ những gì nằm trong giới-hạn
của con người nhưng lại rất xa-lạ với mọi dấu chỉ về thực-tại tâm-linh giữa
trần-thế.
Lời Chúa là nền-tảng của niềm tin luôn luôn ở nơi miệng lưỡi con người, nhưng
khi cần phải thực-hiện những điều miệng lưỡi đó thì lại đuợc lọc qua những thói
quen hẹp-hòi và lối suy nghĩ
giới-hạn bị lệ-thuộc nơi bản-năng của con người nhiều hơn. Những xứ đạo, những
xóm giáo, những tổ-chức này hay hội-đoàn nọ cứ nhẩn-nha diễn đi diễn lại một số
sinh-hoạt lỉnh-kỉnh, rườm-rà và vô bổ của hàng trăm năm trước như một cái khung
rêu khép kín mà không có một chút cửa ngõ nào cho ánh thái-dương có thể chiếu
đến cách lành-mạnh và sáng-sủa hơn.
Nếu chịu khó lưu-tâm một chút để nhận-định thì người ta rất dễ nhận ra rằng phần
lớn giáo dân Việt-Nam - cho dù ở trong nước hay tại khắp nơi ở hải-ngoại - vẫn
chung nhau một mẫu-số
theo đạo bất-biến. Mẫu-số chung
này là không thực sự
sống đạo theo những điều-kiện và
hoàn-cảnh của cuộc sống hiện-tại để cập-nhật với những chuyển-biến của xã-hội
đương-đại mà cứ khư-khư giữ các thói quen, tập-tục cũ rồi cho đấy mới là giữ
đạo. Còn lại thì cứ dửng dưng theo cách nhìn mọi sự bằng thái-độ thờ-ơ, thụ-động
và bàng-quan. Mỗi ngày ký-thác thêm vào chương-mục Nước Trời một giờ đi lễ vào
buổi sáng sớm hay chiều tối kèm theo ít lời kinh đã thuộc lòng chẳng hạn. Cuối
tuần đi làm việc đền tạ, đi tập hát ca-đoàn, đi họp các hội Dòng Ba, hội tán-trợ
Đạo-binh Đức Mẹ vân vân...là đủ tư-cách ước hẹn với Chúa một cuộc trùng-phùng
trên Thiên-quốc. Những việc còn lại coi như không phải thuộc đấng bậc mình với
trăm ngàn lý-do rất chính-đáng. Bởi vì sống đạo thì phải hành, phải nhúng tay
vào ngay từ những khía-cạnh thực-tế nhất của cuộc sống đức tin; phải quan-tâm
đến anh em, đến người khác. Như vậy là lại phải đem Lời Chúa ra suy-nghĩ,
tra-vấn lương-tâm mình và thực-hành bằng những việc làm thiết-thực, cụ-thể; phải
thực sự dấn-thân và chấp-nhận các thử-thách cũng như
phiền-phức mà chắc-chắn là còn phải thiệt-thòi nữa.
Sống bác-ái, yêu thương ư?
Thì tôi có ghét ai đâu; nhưng nếu phải giúp người này người nọ thì thực không có
giờ vì việc nhà nhiều quá, đâu đã có dư để sẻ cho ai; vả lại người nghèo nhiều
quá lo sao cho xuể và chính tôi cũng phải làm mới có chứ ai cho?
Công-bằng xã-hội ư?
Việc to lớn như vậy đã có cơ-chế xã-hội gánh vác, mình làm sao đuợc...
Lên tiếng về các trường-hợp bị đàn-áp, bất công ư?
Mình chỉ là người dân thường, uy-tín gì và tài cán gì mà làm? Coi chừng lại liên
quan đến chính-trị mà tôi thì không làm chính-trị; không có giờ đi làm những
việc bao-đồng rồi lại ách giữa đàng đem quàng vào cổ thôi.
Trách-nhiệm liên-đới với anh em về cả tội lẫn phúc-lộc ư?...Thây
kệ, hồn ai nấy giữ, nói làm gì cho mất lòng, mất thời giờ và mất cả bạn bè.
Các giới chức trong đạo có hành-vi sai trái, có cung cách ngang ngược nên gương
mù gương xấu ư?
Thôi, hãy cầu nguyện cho các “ngài”, bởi vì dù sao cũng là con người với những
yếu đuối. Hãy để Chúa lo-liệu còn mình thì chỉ nên vâng theo thôi, nói làm gì
mang tội chết. Ấy là chưa kể sau khi góp ý còn có nguy-cơ bị thù ghét, bị đem
lên toà giảng rêu rao cho mọi người ghép tội là chống cha, chống Chúa...
Ngày 27 tháng 2 năm 2000, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô đệ nhị đã minh-định
“Công-đồng Vatican II đã cho chúng ta
nhiều tặng thưởng quý giá từ 35 năm qua và còn tiếp tục dẫn đưa chúng ta trong
nhiều năm nữa. Công việc của Giáo Hội bây giờ là học hỏi những điều đã đề ra
trong những văn kiện của Công Đồng và đem ra thực hành có hiệu quả...”
Giáo-hội Việt-Nam đã đáp lại lời khuyên bảo của người đứng đầu Hội-thánh Chúa
bằng lý-do chẳng “lô-gích” như sau: “Giáo
hội Việt Nam, trong thời gian trước đây, từ năm 1965 đến 1975, do hoàn cảnh
chiến tranh của đất nước, chưa có dịp học hỏi kỹ lưỡng các văn kiện của Công
đồng, trừ một vài giáo phận ở miền Nam Việt Nam. Chỉ trong các thành phố và đô
thị lớn, giáo dân mới có dịp học hỏi về Công đồng này ít nhiều, còn lại hầu như
chẳng mấy khi nghe nói đến, nhất là ở miền Bắc Việt Nam. Sau khi thống nhất đất
nước năm 1975, dân tộc ta lại gặp nhiều khó khăn, vì thế các bài học đổi mới,
hợp nhất của Công đồng hầu như ít được nhắc đến như những định hướng cơ bản cho
Giáo hội Việt Nam. (Giáo Hội Công Giáo Việt Nam - Niên giám 2004). Trước
1975 thì tại vì chiến-tranh, còn sau 1975 thì lại gặp nhiều khó-khăn, thế thì
chẳng biết đến đời nào mới đuợc đây trong khi từ Bắc chí Nam vẫn rầm-rộ xây cất
và mở-mang về mặt cơ-sở vật-chất và những sinh-hoạt nặng tính trình-diễn kiểu
thế-tục.
Vì bước mãi trên lối mòn như thế mà thay vì giáo dân Việt-Nam đúng ra phải được
các mục-tử nhắc cho đôi chút về Sắc-lệnh Tông-đồ Giáo Dân thì lại chỉ đuợc “dạy
dỗ” dằn mặt bằng giọng điệu tự-cao tự-đại như một ông quản-nhiệm đã viết
“...linh-mục là người đuợc Chúa chọn, đuợc thánh hiến để thay mặt Ngài mà tế lễ
Thiên Chúa thay cho toàn dân và kéo ân sủng của Ngài xuống trên người giáo dân,
các ngài có ba nhiệm vụ phải thi hành, đó là cai quản, dạy dỗ và thánh hoá cộng
đoàn dân Chúa...Cho nên đừng đòi lật đổ hay bãi nhiệm các ngài...Linh mục là
“con ngươi” trong mắt của Thiên Chúa canh chừng phần rỗi đời đời của chúng ta,
chúng ta phải hết sức cám ơn Chúa qua các ngài”. Có lẽ vì tự lý-luận kiểu “vơ
vào” như vậy mà tại hải-ngoại này, các cộng-đoàn giáo-dân Việt-Nam lại có chức
“quản nhiệm” đặt thêm vào cạnh chữ “Tuyên-uý” và dần dần chữ “tuyên-uý” bị rơi
đi để chỉ còn lại cái chức “linh mục quản nhiệm” nằm ngoài Giáo-luật
Ba thừa-tác-vụ Chúa Giê-su trao ban đã
đuợc một quản-nhiệm hiểu và diễn-đạt như thế thì giáo dân làm sao dám tin vào
lời Công-đồng xác-nhận giá-trị và thế đứng của họ trong Sắc Lệnh Tông Đồ Giáo
Dân là
những
người có phần riêng biệt và cần thiết trong sứ mệnh của Giáo-hội
(quorum partes in missione
Ecclesiae proprias et omnino necessarias ) hoặc Giáo dân có
bổn phận và quyền làm tông-đồ do chính việc kết hợp với Chúa Ki-tô là
Đầu. Họ đuợc chính Chúa chỉ định làm việc tông đồ, vì phép Rửa Tội sát nhập họ
vào Nhiệm Thể Chúa Ki-tô, phép Thêm Sức làm cho họ nên mạnh mẽ nhờ quyền năng
của Chúa Thánh Thần. Họ đuợc thánh hiến vào chức vụ tư tế, vuơng giả và dân tộc
thánh (Laici officium et ius ad apostolatum obtinent ex ipsa sua cum Christo
Capite unione. Per Baptismum enim corpori Christi mystico inserti, per
Confirmationem virtute Spiritus Sancti roborati, ad apostolatum ab ipso Domino
deputantur. In regale sacerdotium et gentem sanctam consecrantur).
Biết đến bao giờ những đoá hoa tin yêu này mới đưọc triển nở trên con đường
lữ-hành đức tin của Việt-Nam cho lối mòn uốn khúc khởi sắc thành quan-lộ thẳng
băng.