Linh
Mục
ARNOLD WEBER,
O.S.B.
Giáo
xứ Thánh Danh Chúa Giêsu ở thành phố Medina, tiểu bang Minnesota thành hình vào
năm 1865, lúc ấy chỉ là một xứ nhỏ của những người gốc Đức. Ngày nay giáo xứ đã
lên đến 8,000 giáo dân. Linh mục chánh xứ, cha Arnold Weber, được biết đến khắp
miền Trung Tây như một nhà lãnh đạo có tài, nhà giảng thuyết lợi khẩu và nhà
phụng vụ tuyệt vời. Giáo dân đã quay video những thánh lễ của Cha và sao thành
nhiều bản để gửi cho những người không thể đến nhà thờ được. Trong mỗi thánh lễ,
đến phần tiến dâng lễ vật, các thiếu nhi dâng thực phẩm lên bàn thờ để tặng cho
những người nghèo. Nguyên năm 1995 thôi giá trị thực phẩm phân phát cho các gia
đình nghèo lên tới 40,000 Mỹ-kim. Những chương trình này và các hoạt động khác
làm cho giáo xứ Thánh Danh Chúa Giêsu nổi tiếng là một cộng đoàn đức tin sinh
động, và tích cực dự phần.
Xét
theo bề ngoài, những gì mà mỗi linh mục coi xứ làm đã định nghĩa ngài là một
linh mục thế nào, đồng thời tăng thêm ý nghĩa cho chức linh mục. Trong câu
chuyện của cha Weber, chúng ta khám phá thấy một linh mục đã khơi nguồn sinh lực
cho giáo xứ của ngài qua việc giải quyết thỏa đáng các nhu cầu của dân chúng và
khuyến khích họ mở rộng vòng tay giúp đỡ những người cần trợ giúp.
Cha
Arnold sinh năm 1925 trong một gia đình nói tiếng Đức và lớn lên trong một nông
trại. Một nửa trong số 12 người con gia đình Weber đi tu dòng: 4 chị em của ngài
trở thành nữ tu dòng Bênêđictô, còn ngài và một người em nữa làm linh mục dòng
Bênêđictô. Ngài chịu chức năm 1952.
Đời Linh mục
của tôi luôn là niềm vui cho bản thân tôi. Tôi coi bổn phận chính yếu của linh
mục là phục vụ người dân trong giáo xứ. Người giáo dân không mong đợi nơi chúng
ta để học hỏi điều gì vĩ đại, mà là sự thánh thiện. Họ muốn chúng ta có đức tin,
tình yêu và kính trọng họ.
Nông trại của gia đình
chúng tôi ở gần giáo xứ thánh Martinô, một thành phố nhỏ mà 100% là người Công
giáo. Ơn gọi làm linh mục và vào tu viện rất nhiều. Thành phố này chỉ có 200 gia
đình, thế mà đã sản xuất ra khoảng 75 nữ tu và 25 Linh mục.
Khi tôi bước vào bậc
trung học, cha tôi gửi tôi đến học ở tu viện Bênêđictô của thánh Gioan. 13 trong
số 35 người trong lớp tôi sau này trở thành linh mục. Ngay sau khi thụ phong,
tôi được cử về dạy tại tu viện thánh Gioan để giúp các tu sĩ chuẩn bị lên đại
học. Chẳng bao lâu sau tôi được cử làm giám đốc ơn gọi đầu tiên của tu viện. Năm
1970 trường trung học Benilde ở Minneapolis suýt bị đóng cửa vì thiếu tu sĩ quản
trị. Đức giám mục xin tu viện thánh Gioan điều hành. Chúng tôi đã nhận lời và
tôi dạy học ở đó 3 năm liền.
Sau khi phục vụ một
giáo xứ ở Hồ Detroit được 4 năm, tôi trở lại Benilde. Lúc đó có nhiều vấn đề
đang diễn ra trong giáo xứ Thánh Danh Chúa Giêsu ở Medina và tôi được yêu cầu
đến đấy. Trong thời gian đó tôi còn rất nhiều sinh lực để vừa trông coi giáo xứ
Thánh Danh vừa quản trị trường trung học Benilde. Tôi đã hoạt động như vậy cho
mãi đến năm 1980 mới dành toàn thời giờ cho giáo xứ. Vào ngày đầu tiên khi đặt
chân đến cái giáo xứ rất chia rẽ này, tôi đã nhận được 20 lá thư của những người
muốn lấy hẹn để bàn về những vấn đề đã gây nên chia rẽ giữa họ. Tôi bằng lòng
gặp tất cả những người đã viết thư. Tuy nhiên, vào cuối tuần sau tôi lại đổi ý.
Trong bài giảng, tôi nói: tôi muốn giữ những cuộc hẹn đó, song với 2 điều kiện:
một là bất cứ ai đến với tôi không được chỉ trích nhóm khác trong giáo xứ, hai
là mỗi người chỉ kể cho tôi nghe những vấn đề riêng của họ thôi. Thế là sau đó
không có ai đến gặp tôi cả!
Khi làm việc về Ơn Gọi,
tôi có cơ hội quen biết với cha Andrew Greeley, một tác giả viết sách và một nhà
xã hội học. Ngài thường viết cho tạp chí dòng Bêneđictô "Orate Fratres" (anh em
hãy cầu nguyện). Ngài đã đưa ra một định nghĩa rất hay về chức linh mục:
“Linh mục là người để người ta tìm đến.”
Trở nên người mà dân chúng tìm đến là một việc phục vụ vừa hay bị bỏ quên vừa
phải hạ mình. Nếu chúng ta không sẵn lòng, giáo dân không đến với chúng ta. Nếu
chúng ta sống xa giáo xứ, người ta không đến với chúng ta được. Chúng ta không
cần bắt chước cái thế giới của doanh nghiệp bằng những giờ giấc hành chánh. Tôi
thấy khó mà hoàn tất công việc nếu chỉ làm việc có 40 giờ một tuần. Tôi đã đọc
nhiều về các linh mục làm việc quá tải, song chẳng coi đó là vấn đề đối với tôi.
Chúng ta phải là những linh mục hăng say làm việc. Cũng thế, chúng ta không cần
gì cho riêng tư. Dĩ nhiên là một
linh mục dòng, tôi không mong mỏi các linh mục giáo phận làm theo thời khóa biểu
của tôi.
Những người trẻ hỏi tôi:
cần phải làm gì để trở thành một Linh mục.
Tôi trả lời rằng:
“Bạn cần 2 điều: một tinh thần biết hài
hước, và một nền tảng vững chắc. Nếu không có hai thứ đó bạn không làm linh mục
được, bởi vì văn hoá của chúng ta quá khác với lý tưởng của các linh mục. Nếu
bạn không có tính hài hước, lúc bạn bị căng thẳng khi gặp các vấn đề gai góc bạn
sẽ không thể giảng Tin Mừng được. Bạn cũng cần có nền tảng, vì nếu không, bạn sẽ
sớm ngả theo nền văn hoá chung quanh bạn.”
Hàng giáo sĩ chúng ta
cần nền tảng vững chắc hơn. Họa hoằn lắm chúng ta mới phải tấn công vào những
vấn đề gây cấn của thế giới chúng ta, bằng các bài giảng hay bằng tờ thông tin
Chủ nhật. Chúng ta tránh nói về những vụ ly hôn, có lẽ vì chúng ta sợ đụng chạm
đến nhiều người ly hôn trong giáo xứ. Song những người ly hôn chỉ muốn chúng ta
cảm thông hơn với họ thôi. Linh mục như chúng ta cần cả hai: lý tưởng cao thượng
và lòngï cảm thông. Nhiều năm qua chúng ta đã có đủ thứ lý tưởng nhưng lại không
biết chạnh thương cho lắm. Bây giờ thì chúng ta lại coi thường lý tưởng mà hoàn
toàn chỉ có thương cảm. Chúng ta cần cả hai. Chúng ta không nên để
lòng chạnh thương phá huỷ lý tưởng của mình. Đó là điều đang xảy ra với
các vấn đề phá thai, ly hôn và sống chung không cưới hỏi –– một dấu hiệu cho
thấy lý tưởng không còn. Nếu chúng ta chỉ kêu gọi sự thông cảm thì hóa ra chúng
ta đang quên mất giáo huấn của sứ điệp Chúa Kitô. Trái lại, nếu chúng ta rao
giảng sứ điệp Tin Mừng mà không biết người chúng ta đang nói với là ai, thì
chúng ta sẽ bị kể là những con người vô tâm. Bởi vậy, chúng ta phải loan truyền
sứ điệp với sự cảm thông; không hề lên án. Cá nhân tôi thấy rằng thực hành được
cả hai thật là một thách đố. Tôi học được nhiều ở các dụ ngôn: cứ để cỏ lùng và
lúa mọc bên nhau; một vài hạt giống gieo trên đất tốt, vài hạt rơi rớt trên sỏi
đá. Việc chúng ta phải làm không
phải là thành công, mà là trung thành với công việc.
Một trong những điều
làm cho đời linh mục của tôi dễ dàng hơn đó là bây giờ tôi hiểu được thế nào là
trao quyền cho giáo dân, và thế nào là thật sự tin vào bí tích Rửa tội. Bất cứ
cộng đoàn nào muốn vững mạnh trong phụng vụ và trong công tác xã hội, thì cần
hiểu bí tích Rửa tội đã trao quyền cho giáo dân như thế nào. Một số linh mục
chẳng những đã không trao, mà còn độc quyền. Đã có một thời tôi nghĩ rằng mình
phải có tiếng nói trong bất cứ quyết định nào. Việc tôi được đào luyện theo kiểu
người Đức đã khiến tôi đi theo hướng đó. Tuy nhiên, bây giờ tôi không những chỉ
trao quyền cho giáo dân, mà còn tin cậy họ sẽ hoàn thành tốt công việc như tôi,
nếu không nói là tốt hơn cả tôi nữa. Ngày nay mà độc tài kể như bạn không hiểu
Vaticanô II là gì.
Công việc quan trong
nhất đời linh mục của tôi là tập trung vào Thánh Thể. Công việc quan trọng nhất
trong việc dạy dỗ là bài giảng. Tôi dành ra từ
7 đến 10 tiếng đồng hồ mỗi tuần để soạn các bài giảng Chúa nhật. Giáo xứ
lớn mạnh một phần nhờ việc giảng dạy. Giáo dân của tôi đến từ khoảng 75 vùng bưu
số khác nhau. Họ đến nhà thờ Thánh Danh Chúa Giêsu vì phụng vụ và vì bài giảng.
Khi tôi bắt đầu về đây 16 năm trước, xứ đạo có 250 gia đình; nay chúng tôi có cả
thảy 2,500 gia đình với 8,000 giáo dân. Ngày nay giáo dân sẽ không hưởng ứng,
trừ khi phụng vụ, thánh nhạc và bài giảng phải thật hay. Chẳng hạn, tôi sẽ không
đề cập đến chiến tranh hay hạn chế sinh sản mọi ngày Chúa Nhật, dầu đó là những
đề tài quan trọng. Thật ra chúng chẳng cung cấp món ăn tinh thần gì cho dân.
Phụng vụ Chúa Nhật đòi hỏi giảng Phúc Âm. Là chủ tịch câu lạc bộ Serra, tôi đã
làm cuộc thăm dò xem hội viên mong đợi gì nơi linh mục. Hết thảy họ đều trả lời
điều họ muốn thấy nhất là lòng đạo đức vững vàng và sự am hiểu thần học.
Người dân đói lương
thực tinh thần. Một trong những mối phúc tôi thích nhất là
“Phúc cho ai đói khát điều chính trực, vì
họ sẽ được thoả lòng.” Nếu quả như thế, thì những ai không đói khát hẳn lòng
họ trống rỗng nhất. Trong công việc làm cố vấn cho người ta, tôi khám phá rất
nhiều sự trống rỗng. Cần phải nhấn mạnh nhiều vào lãnh vực hành động xã hội. Tôi
có thể dùng nhiều thời gian để giúp họ đạt tới việc tận hiến cá nhân với Chúa
Giêsu và sự cứu độ bằng đức tin mà quên mất đoạn Tin Mừng
Matthêu 25:
“Vì xưa Ta đói các ngươi đã cho ăn. Ta
khát các ngươi đã cho uống. Ta là khách lạ các ngươi đã tiếp rước. Ta mình trần
các ngươi đã cho mặc. Ta ốm đau các ngươi đã chăm sóc. Ta ngồi tù các ngươi đến
viếng thăm.” (35 - 36)
Giáo xứ chúng tôi triệt
để lưu tâm đến Lời Chúa trong đoạn Matthêu 25 này một cách nghiêm chỉnh. Chúng
tôi vừa hoàn thành một cuộc lạc quyên giúp một giáo xứ trong vùng nội thành với
số tiền đạt tới 600,000 Mỹ-kim. Chúng tôi sẽ cung cấp cho họ mỗi năm 60,000
Mỹ-kim trong vòng 10 năm để ngôi trường của họ được hoạt động. Khi xảy ra vụ bom
nổ ở Oklahoma City, tổng giáo phận chúng tôi gửi tiền cứu trợ, 14% của tổng số
tiền đó là do giáo xứ chúng tôi góp vào. Chúng tôi có chương trình xe bán bánh
kẹo. Chúng tôi gom những người lang thang hè phố lại để họ làm và đem bán. Qua
chương trình này, năm nay chúng tôi gây quỹ được 75,000 Mỹ-kim. Lợi tức của giáo
xứ chúng tôi được gần 3,000,000 Mỹ-kim, và chúng tôi dành 24% cho công việc bác
ái. Chúng tôi có 360 trẻ em học trường giáo xứ. Chúng tôi giúp các bạn trẻ học
trường trung học Benilde với học bổng là 1,200 Mỹ-kim. Chúng tôi không giữ lại
một xu nào từ lợi nhuận của nhiều kế hoạch. Tiền thu trong lễ hội sắp tới, chúng
tôi sẽ được 35,000 Mỹ-kim, và chúng tôi sẽ tặng toàn bộ cho cơ quan từ thiện.
Trong giáo xứ có khoảng 500 người cần có ai đó giúp họ đi chợï. Chúng tôi đã mở
chương trình bán phiếu đi chợ cho các dịch vụ trong vùng, và cho bà quản lý biết
rằng toàn bộ tiền lời được dùng vào các chương trình xã hội trong xứ. Lần quyên
góp thứ hai dùng vào việc bác ái. Chúng tôi có cả thảy 10 dự án xã hội như vậy.
Giáo dân ngày nay không
vững mạnh về phương diện tinh thần. Họ cần được chữa lành. Khi tôi mới chịu chức
và có người qua đời, chúng tôi đã không có thánh lễ chữa lành cho gia đình họ.
Nay thì trước khi an táng, chúng tôi đã khởi sự sắp xếp để trợ giúp người còn
sống. Dĩ nhiên về phía cạnh cực đoan thì có thể nói rằng tất cả là ý Chúa, thế
nhưng lòng thương cảm chân thành vẫn là điều cần thiết. Bằng cấp của tôi liên
quan đến việc cố vấn cho hôn nhân, và tôi dành cho công việc này trung bình 20
giờ một tuần. Tôi kêu gọi đức tin và sức mạnh ý chí của họ. Tôi luôn ngạc nhiên
là nhiều người sẽ có đủ khả năng để tự giải quyết các vấn đề của chính họ, chỉ
cần họ dựa trên hai điều: đức tin và sự phán đoán của họ.
Theo ý tôi, giáo xứ cần
có nhiều những thực hành đạo đức khác nhau. Tôi không đẩy mạnh các việc sùng
kính cá nhân, song cũng không loại trừ các việc đạo đức ấy. Chúng tôi tổ chức
chầu Thánh Thể trong tuần từ 2 giờ sáng đến 9 giờ tối, 5 ngày một tuần. Giáo dân
trong xứ đạo lần chuỗi sau thánh lễ hằng ngày. Một số người trong nhóm
Medjugorje có khuynh hướng muốn thái quá, song những cuộc hành hương ấy cũng
phát sinh kết quả tốt. Tôi đã dẫn một nhóm 40 bạn trẻ đến đó tĩnh tâm. Khi chúng
tôi trở về, ba em trong số ấy đã gia nhập cơ quan Hoà Bình, một em vào chủng
viện. Người ta hỏi tôi có tin Medjugorje không? Câu trả lời của tôi là: ý kiến
phán đoán về các cuộc hiện ra không phải là nhiệm vụ của tôi. Tôi chỉ biết rằng
một số người được tôi đem đến đó, không phải là những người cầu nguyện nhiều,
thì nay họ thích cầu nguyện. Tôi đã gửi một cô gái bị bệnh thần kinh tới đó; nay
cô đã lập gia đình, có 4 con và từ đấy trở đi không cần gặp bác sĩ nữa. Như vậy
vấn đề đối với tôi không phải là “Đức Mẹ
có hiện ra hay không,” mà là “Medjugorje
có biến đổi người ta yêu thích cầu nguyện hơn không?” Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II đã có lần đề cập về vấn đề này, Ngài nói:
hiện tượng không thể xấu được, nếu kết
quả lại quá tốt như vậy.
Một trong những niềm
vui của đời linh mục là được thấy người ta trở lại với Giáo hội trước khi chết.
Ở vùng Hồ Detroit, tôi biết một gia đình có 7 người con mà người cha rượu chè
say sưa. Từ mẹ đến con không ai thèm nói chuyện với ông cả. Lúc tôi đến thăm ông
ta trong bệnh viện, ông sắp chết. Tôi nói:
“Người ta cho tôi biết ông chẳng còn
nhiều thời gian nữa, nếu ông chịu làm hoà với gia đình thì tốt biết mấy.”
Ông trả lời: “Vâng, nhưng họ không muốn
tới gặp đâu.” Tôi gọi điện thoại cho
vợ ông ta. Bà ấy bằng lòng đến. Tối hôm đó cả gia đình họ tới bệnh viện. Tôi rời
căn phòng và một giờ sau tôi trở lại. Vợ và các con đang ôm ông ta, tất cả đều
xin lỗi nhau. Rồi ông đã chết một cách hạnh phúc.
Trong bao nhiêu năm đời
linh mục của tôi, 5 năm sau cùng là khó khăn nhất, song cũng là những năm đầy
phấn khích và vui nhất. Tôi là linh mục duy nhất trong xứ. Tôi cử hành hết mọi
Thánh lễ. Cuối tuần có 5 lễ, đôi khi 7 lễ nếu có đến hai đám cưới. Trung bình có
80 hôn lễ một năm và 250 nghi lễ rửa tội. Khi những người tôi làm phép hôn phối
sinh đứa con đầu lòng, họ lại muốn tôi rửa tội cho chúng. Cuối cùng tôi phải yêu
cầu ngưng cái truyền thống này và nhường việc rửa tội cho các Phó Tế. Mặc dầu
tôi phục vụ 8,000 giáo dân, tôi vẫn không cảm thấy bị căng thẳng. Tôi không lấy
một ngày nghỉ nào. Tôi thường làm việc cả 7 ngày mỗi tuần. Mỗi năm tôi đi đâu đó
một lần. Và tôi sắp xếp thời giờ một cách thoải mái. Tôi không đề nghị người
khác theo một thời khóa biểu như tôi, và không cảm thấy đó là nhân đức gì cả.
Nhưng tôi làm được, và tôi làm thế bởi nghĩ rằng đó là điều giáo dân tôi cần.
Tôi thường nói với bất
cứ bạn trẻ nào suy nghĩ về ơn gọi linh mục rằng: trong thời buổi này họ đang
chọn một sự chọn lựa tốt nhất. Trong cả đời tôi chưa bao giờ có nhiều thách thức
như bây giờ. Có phải lúc này đi vào thế giới vi tính là tốt? Cái không chắc chắn
trong thế giới đó thì nhiều lắm. Tuy vậy người ta cứ dấn thân vào, và khám phá
ra đó là một thách đố tuyệt vời. Làm linh mục ngày nay là một thách thức còn lớn
lao hơn nữa, bởi vì chúng ta đang sống trong một xã hội cần rất nhiều ơn trở về.
Giúp cho người ta quyết định tận hiến cho Chúa Giêsu thì cần nhiều thứ hơn tiếng
gọi phục vụ nơi bàn thánh. Nó đòi hỏi một sự biến thái hệ thống giá trị. Tôi
không biết có ai làm tốt hơn trong lãnh vực này bằng linh mục.
n