|
|
Tin Mừng
cho Người Thời Đại
Chúa Nhật 16.03.2008
Lm. Đỗ Vân Lực, op.
|
(Mt 21:1-11)
Trong khi cả Giáo
Hội sắp bước vào Tuần Thánh kỷ niệm cái chết đau thương của Chúa, một môn đệ
Chúa Kitô, TGM Paulos Faraj Rahho, đã bị quân khủng bố giết chết.[1]
ÐGH Benedict XVI gọi đó là “hành động bạo lực vô nhân đạo vì xúc phạm đến nhân
phẩm và gây nguy hại nghiêm trọng đến cuộc chung sống thân tình của dân chúng
Iraq mến yêu.” ÐGH đã cầu xin lượng từ bi Chúa khiến “ biến cố bi thương này góp
phần xây dựng một tương lại hòa bình cho vùng đất tử đạo tại Iraq.”[2]
Lòi cầu nguyện hay
niềm hy vọng đó không biết có thành sự thật không ? Nhưng chắc chắn TGM Paulos
Faraj Rahho đã theo sát gót Thày Chí Thánh, Ðấng đã chết để giao hòa nhân
loại với Thiên Chúa. Nếu Chúa Kitô không hy sinh mạng sống, liệu Giáo Hội có thể
có cái nhìn nhân ái và bao dung như thế không ? Nếu Chúa không chết đi, chúng ta
không thể nào thoát ra khỏi vòng xoáy bạo lực. Cái chết của Chúa đã đem lại hòa
giải đất trời và giữa con người với nhau.
Thời đó, dân Do thái
chờ mong Ðấng Cứu thế đến giải phóng dân tộc và phục hồi nền quân chủ. Có lẽ
người ta đã nhìn việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem như vị quân vương xuất
hiện trước quần chúng. Nhưng ngôn sứ Isaia cho biết vị vua này là đầy tớ khiêm
tốn và đau khổ vì loan truyền Lời và sứ điệp của một Thiên Chúa mỗi buổi sáng
đánh thức ông dậy học hỏi cho thấm nhuần sứ điệp ấy (Is 50:4-7). Vị vua-tôi này
sẽ là một người đau khổ. Vinh quang thực sự của Người chỉ chiếu tỏa ở Giêrusalem
thiên quốc, chứ không phải thành thánh Giuđa ...
Con Thiên Chúa bị
đánh giá ngang hàng nô lệ.[3]
Như vậy vẫn chưa đủ ! Chúa còn bị kết án tử hình như một tên đại gian phi. Trước
các trưởng tế và Thượng Hội Ðồng, người ta tìm chứng cứ giả dối để lên án Người
(Mt 26:59-60). Khi hỏi Chúa về khả năng phá hủy và tái thiết Ðền Thờ trong ba
ngày (Mt 26:61), hình như họ không tìm thấy lý do để kết án tử hình Người. Khi
Philatô chất vấn, Chúa Giêsu tự xưng là Thiên Sai và Vua dân Do thái. Xưng mình
như thế bị coi là phản bội chính quyền Rôma và sẽ bị án phạt nặng nề. Cuối cùng,
họ đã đóng đinh Người trên khổ giá, một hình phạt dành cho người nô lệ, trộm
cướp và nổi loạn. Ðấng Công Chính đã bị xếp vào hạng người bất chính! Còn bất
công nào lớn hơn?!
Nhìn thẳng vào vấn
đề, chúng ta mới thấy Chúa từ bỏ tới mức nào! Không những từ bỏ vinh quang Thiên
Chúa, Người còn khước từ danh dự của một con người bình thường. Cuộc khổ nạn
không phải chỉ nói về sự đau khổ, nhưng rốt ráo về sự vâng phục, cởi mở và tín
thác nơi Chúa Quan phòng. Chính vì tội lỗi nhân loại, Chúa đã hủy mình ra không.[4]
Người phải chịu cảnh bất công cùng cực mới bù lại những tội lỗi chúng ta xúc
phạm đến Chúa! Như thế chúng ta mới thấy Chúa quảng đại biết chừng nào! Không độ
lượng như thế, Chúa Giêsu không thể hòa giải chúng ta với Thiên Chúa.
Chịu cảnh bất công
như vậy, Chúa Giêsu mới có thể công chính hóa mọi người. Thực vậy, “vì đã nếm
mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công
chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ.” (Is 53:11) Nói khác, nơi Giao ước mới,
Chúa chấm dứt cảnh bất công trong lề luật cũ. Không ai còn phải cúi đầu vâng
phục những luật lệ phi lý, như luật ngày sabbat chẳng hạn. Lý do, lề luật được
lập ra vì con người, hình ảnh Thiên Chúa. Không còn bị lệ thuộc và giam hãm
trong cảnh bất công, mọi người đều sống tự do trong bầu khí hòa giải với Thiên
Chúa và tha nhân. Hình ảnh Chúa ngồi trên lưng lừa như một vị vua hòa bình tiến
vào thành Giêrusalem (x. Is 62:11; Dcr 9:9). Còn hình ảnh nào lý tưởng hơn để
diễn tả cảnh hòa giải đất trời ?
Dù bị bao vây giữa
một rừng người gian ác, Chúa Giêsu vẫn khẳng quyết về bản chất Nước Thiên Chúa
và đường hướng hoạt động của mình : "Nước tôi không thuộc về thế gian này.” (Ga
18:36) Vua hoà bình sẽ thực hiện công cuộc hòa giải trong phạm vi Nước Thiên
Chúa với “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” (Rm 14:17) Cuộc
hòa giải chỉ có thể thực hiện trong sự công chính. Hơn nữa, công cuộc hòa giải
chỉ được hoàn thành khi Chúa chu toàn sứ mệnh như đã xác định: “Tôi đã sinh ra
và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật.” (Ga 18:37) Chính
dân chúng cũng khẳng quyết Người là vị Ngôn sứ, nghĩa là người công bố sự thật
nhân danh Thiên Chúa. Tóm lại, công lý và chân lý là những điều kiện tất yếu để
hòa giải nhân loại với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã hiến cả mạng sống mới có thể
thỏa mãn những đòi hỏi đó.
GIAO DUYÊN
Chân lý và công lý
đã giao duyên trên thập giá. “Khi tha thứ cho nhau, con người càng đòi hỏi công
lý và càng mau tiến tới sự thật. Công lý và chân lý là những đòi hỏi tiêu biểu
và cụ thể cho công cuộc hòa giải. Hơn nữa, cần phải thúc đẩy mọi người tôn trọng
quyền sống hòa bình. Quyền này đốc thúc mọi người xây dựng một xã hội, trong đó
những cơ chế quyền lực nhường bước cho những cơ cấu hợp tác mưu tìm công ích.”[5]
Dựa vào quyền lực, con người dễ xa nhau vì những tranh chấp vô tận và không dễ
dàng hợp tác để phục vụ cộng đoàn. Nhưng một khi biến thành cơ cấu hợp tác giữa
mọi người, con người sẽ không còn tranh đua và sẽ tìm thấy con đường xây dựng
cho nhau và cho cộng đoàn. Chỉ có thể xây dựng trong bầu khí hòa bình.
Ðể quy tụ muôn dân
và hiệp nhất mọi người với Thiên Chúa và với nhau trong Giao Ước mới, Chúa Giêsu
đã hy sinh tất cả để xin Thiên Chúa tha thứ cho nhân loại. “Nơi Người bao giờ
cũng có thể nhận ra dấu chỉ sống động về tình yêu vô lượng và siêu việt của
Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Người đã mang lấy những yếu đuối của dân Người.
Người đồng hành với họ, cứu độ và hiệp nhất họ với nhau. Nơi Người và nhờ Người,
có thể tái khám phá đời sống xã hội như một nơi tràn đầy sự sống và hy vọng, bất
chấp mọi mâu thuẫn và vô minh. Chính nơi đó, mọi người sẽ liên tục thấy một dấu
chỉ ân sủng và một lời mời gọi dấn thân và chia sẻ mãnh liệt hơn.”[6]
Nhìn lên thập giá, con người sẽ thấy nguồn ân sủng chan hòa vinh quang Thiên
Chúa.
Nơi thập giá, tín
hữu sẽ gặp thấy điểm nối trời đất và con người. Mọi người sẽ chứng kiến tất cả
những nét kỳ diệu lớn lao của tình yêu. Thực vậy, “Chúa Giêsu Nadarét làm cho
mối liên kết giữa tình liên đới và lòng bác ái chiếu sáng trước mắt mọi người,
soi sáng cho họ thấy toàn thể ý nghĩa của sự liên kết này. Trong ánh sáng đức
tin, tình liên đới tìm cách vượt qua chính mình, mang lấy những chiều kích đặc
biệt Kitô giáo như việc cho đi một cách vô điều kiện, lòng tha thứ và sự hòa
giải. Người lân cận không những là người có quyền riêng và bình đẳng với mọi
người khác tận nền tảng, nhưng còn trở nên hình ảnh sống động của Thiên Chúa
Cha, được Máu Chúa Giêsu Kitô cứu chuộc và sống dưới tác động của Chúa Thánh
Linh. Bởi đó, ngay cả khi là kẻ thù, người thân cận cũng phải được yêu thương
bằng tình yêu Chúa đã yêu thương họ.” (x. Ga 3:16) Thực hiện được điều đó, Nước
Thiên Chúa sẽ xuất hiện trên trần gian. Chúa Kitô sẽ là Vua Hòa Bình. Cuộc hòa
giải sẽ đến với muôn dân.
Tự bản chất, các môn
đệ Giêsu phải là những sứ giả hòa bình. “Thực vậy, Chúa Giêsu đã ủy thác cho các
môn đệ rao giảng ‘Tin Mừng hòa bình’ (Cv 10:36; x. Ep 6:15) cho mọi người. Ngay
tại trung tâm của ‘Tin Mừng hòa bình’ là mầu nhiệm khổ giá, vì hòa bình sinh ra
từ cuộc hy tế của Chúa Giêsu (x. Is 53:5) – ‘Người đã chịu sửa trị để chúng ta
được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.’ Chúa Kitô
chịu đóng đinh đã chiến thắng sự chia rẽ, đem lại hòa bình và hòa giải, nhờ cây
thập giá, ‘Người đã tiêu diệt sự thù ghét’ (Ep 2:16) và đã Phục sinh để cứu độ
nhân loại.”[7]
Như thế rõ ràng công cuộc hòa giải đã mặc vẻ huy hoàng trong dịp Chúa vào thành
Giêrusalem. Nhưng cũng chính tại thành Giêrusalem, Chúa đã trả giá cho công cuộc
hòa giải đó bằng cái chết của mình.
Khác hẳn với Chúa
Giêsu, người ta muốn hòa hợp hòa giải, nhưng lại không muốn để ý tới những điều
kiện tất yếu là công lý và chân lý. Khi không có công lý, con người không
biết tôn trọng nhau. Lẽ phải hay sự thật cũng bị gác qua một bên. Trong khi Chúa
quên mình mới có thể hòa giải, người ta lại chỉ nhớ tới mình và những quyền lợi
của mình. Không có công lý và chân lý, nhân quyền là một mộng ảo. Dùng mọi thủ
đoạn để che dấu sự thật đàn áp nhân quyền và những lỗi lầm quá khứ, như cuộc sát
hại đồng bào tại Huế trong dịp Tết Mậu thân chẳng hạn, nhà nước lấy tư cách gì
để kêu gọi hòa giải và hòa hợp dân tộc ? Họ còn dùng mưu thần chước quỷ để biến
tôn giáo thành công cụ phục vụ chế độ.
Cuộc tranh chấp Tòa
Khâm Sứ tại Hà Nội đang phơi bày tất cả những nham hiểm của lòng người. Vatican
không lường trước sự khôn ngoan như con rắn của những người cầm quyền. Còn nhớ
khi viết thư cho TGM Ngô Quang Kiệt, ÐHY Bertone hứa sẽ “giải thích” cho nhà
nước Việt Nam hiểu mà trả lại cơ sở cho tòa TGM. Còn bao nhiêu cơ sở khác bị
tịch thu, chứ đâu phải chỉ có Tòa Khâm Sứ! Giải thích tới bao giờ mới thu hồi
được các sơ sở đó?
Chưa kịp nghe giải
thích, họ đã lật vấn đề sang mặt khác. Họ khôn khéo chuyển cuộc tranh chấp giữa
nhà nước và Giáo Hội Công giáo thành cuộc đôi co giữa Phật giáo và Công giáo.
Ðang là đối tượng bị mọi người chĩa mũi dùi, họ đã nhảy ra ngoài để nhìn hai con
mồi Công giáo và Phật giáo đấu đá nhau. Tới lúc này, không biết ÐHY Bertone làm
sao giải thích để họ nhả Tòa Khâm Sứ ra?
Sau khi đưa những
bằng chứng trong sách lịch sử của nhà nước, nhóm Phật giáo quốc doanh đặt vấn đề
: “Tại sao vào năm 1883, Hà Nội đất rộng người thưa, có rất nhiều lô đất khác mà
Puginier không muốn, mà chỉ thèm muốn lô đất Chùa Báo Thiên? Vì giám mục
Puginier muốn tiêu diệt Phật giáo, là tôn giáo có gần 2.000 năm hiện diện tại
Việt Nam và là tôn giáo của đa số nhân dân Việt Nam, để dễ dàng phát triển Thiên
Chúa giáo mà ông là một trong những nhà truyền giáo cuồng tín nhất vào thời đó.”[8]
Không hiểu họ lấy bằng chứng ở đâu để quả quyết “giám mục Puginier muốn tiêu
diệt Phật giáo”?
Phụ họa cùng Phật
giáo quốc doanh, nhóm Giao điểm cuồng tín hô hào một cuộc thánh chiến giữa Phật
giáo và Công giáo. “Đòn kích động của nhóm Giao Điểm không nhiều thì ít đã gây
tác hại cho tình đoàn kết dân tộc, thí dụ website Huongtran (hatnangusa) vẫn
hàng ngày phổ biến tin tức và bài vở bênh vực Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống
nhất, ngày 21-01-2008 đã đăng một số lời kêu gọi và kết án có nội dung rất “cạn
tầu ráo máng”, khởi đầu bằng một khẩu hiệu in chữ lớn đậm: “Bà con Phật Tử
hãy đến nơi gọi là “toà khâm sứ” đòi bọn Việt gian Catô trả lại chùa Báo Thiên
cho PGVN.”[9]
Chẳng biết có ai bị mắc lừa vì bọn hoạt đầu chính trị và tay sai này không
Sự thật đã bị bóp
méo tới mức nào trong vụ tranh chấp này? Ai đã tạo cơn hỏa mù để phủi tay và
hưởng lợi trong vấn đề này ? Ở đây không có ý nêu lên những lý chứng hai bên
biện hộ cho tính cách pháp lý của Tòa Khâm Sứ, nhưng cũng không thể bỏ qua một
ghi nhận khả tín: “Nhà thờ có thể được xây trên một phần đất rộng lớn của Chùa
nhưng không nhất thiết ở chỗ có chính điện Chùa. Đây là một chi tiết rất quan
trọng vì nếu cố ý phá chính điện Chùa để xây Nhà thờ lên trên thì phải coi đó là
một hành động hoàn toàn xấu của các chức sắc Công giáo thời ấy muốn bỉ mặt những
người Phật giáo. Tôi chắc là không như vậy vì trước khi xây Nhà thờ Lớn, ở trên
khoảng đất đó đã có một nhà thờ bằng gỗ (có hình còn để lại) bị quân Cờ Đen đêm
15-5-1883 đột kích giết giáo dân và đốt cháy (theo nhật ký của Marolles, sĩ quan
phụ tá của Henri Rivière viết ngày 16-5-1883).”[10]
Sự thật còn phải đợi thời gian trả lời qua những công trình nghiên cứu lịch sử,
văn hóa, pháp lý, xã hội, tôn giáo v.v.
Ðứng trước những
tranh chấp đó, nhà nước có đóng vai hòa giải được không? Làm sao hòa giải được
khi họ đã có định kiến sẵn trong đầu và những phương tiện đàn áp trong tay? Sự
thật nghiêng về phía kẻ cầm quyền có còn là sự thật nữa không? Sự thật sờ sờ
trước mắt như việc đàn áp nhân quyền tại Việt Nam còn bị chối bỏ thẳng thừng,
nói chi đến những sự kiện lịch sử! Mới đây, “trong cuộc trả lời phỏng vấn Đài
BBC nhân chuyến công du ba nước Châu Âu vừa qua, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn
Dũng vẫn cho rằng tại Việt Nam không có tù nhân chính trị và không hề có việc
đàn áp những tiếng nói đối lập. Tuy nhiên trên thực tế, ngoài những trường hợp
bị sách nhiễu, giam giữ do dám công khai chính kiến khác biệt với nhà cầm quyền,
hiện nay vẫn có những cá nhân bị rơi vào tình trạng tương tự.”[11]
Tóm lại, công cuộc
hòa giải bao giờ cũng đòi phải được xây dựng trên nền tảng công lý và chân lý.
Chính vì muốn hòa giải nhân loại với Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã phải chết để
giành lại công lý và lẽ phải cho con người. Con đường đó đang chờ đón bước chân
của những người dám hy sinh cho công lý và chân lý để xây dựng Nước Thiên Chúa
giữa trần gian như TGM Paulos Faraj Rahho tại Iraq mới đây.
Lạy Chúa, hôm nay
Chúa tiến vào thành Giêrusalem để tỏ vinh quang Thiên Chúa ngang qua cây khổ
giá. Xin cho chúng con cùng chung tiếng với đoàn dân ca ngợi Chúa và cộng tác
với Chúa thực hiện cuộc hòa giải nhân loại với Thiên Chúa. Amen.
16.03.2008
[1]
TGM Paulos Faraj Rahho bị bắt cóc ngày 29.02.2008, sau khi chủ sự ngắm Ðàng
Thánh giá với giáo dân.
[2]
http://www.zenit.org/article-22049?l=english
[3]
Khi một con bò húc chết một người nô lệ, người chủ của người nô lệ ấy phải đền
một số tiền là ba chục đồng (x. Xh 21:32).
[4]
Chúa từ khước vinh quang, chứ không hủy bỏ bản tính Thiên Chúa.
[5]
ibid., 518.
[6]
Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 196.
[7]
ibid., 493.
[8]
Lý Khôi Việt http://talawas.de/
[9]
Mặc Giao http://talawas.de/
[10]
Phong Uyên http://talawas.de/
[11]
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/03/14/
Two_more_cases_of_HumanRights_violation_in_Vietnam_GMinh/