Chúng ta chớ nên quên lãng họ
Frank F. Jeffers (Lê
Thiên trích lược dịch)
Đôi lời của người
trích lược dịch:
Theo dõi báo điện tử ngày 19/02/2008, tôi hân hạnh đọc được bài tường thuật của
Thiện Giao, phóng viên RFA,
viết về buổi ra mắt
tác phẩm nghiên cứu lịch sử về chiến tranh Việt Nam của giáo sư Andew Wiest tại
Falls Church, VA ngày 17/02/2008.
Tác phẩm của Andrew Wiest có tựa đề là
“Vietnam’s forgotten Army. Heroism and
betrayal.”
Theo Thiện Giao, tác
giả Wiest khẳng định,
quân lực Việt Nam Cộng Hòa là một quân
lực bị bỏ quên. Trong tư thế một
sử gia, Wiest khẳng định, bằng chính nghiên cứu của mình, rằng quân lực Việt Nam
Cộng Hòa là một quân lực anh dũng, đã
chiến đấu trong cuộc chiến 20 năm để bảo vệ tự do.
Quân lực ấy có rất
nhiều anh hùng, nhưng không được lịch sử đối xử công bằng. Wiest nói, Tây Phương
chỉ viết về chiến tranh Việt Nam như một cuộc chiến chỉ có người Hoa Kỳ đánh
nhau. Thực tế không phải như vậy, và càng không phải như vậy khi người Mỹ rút
khỏi Việt Nam.
Tôi chợt nhớ cách
đây hơn 10 năm, có một bài báo viết bằng tiếng Anh đăng trên tuần báo Tiếng
Chuông số 180 ngày 06/4/1995 tại New Jersey. Bài viết có nhan đề:
We must not forget them -
Chúng ta chớ nên quên lãng họ. Tác
giả ký tên là Frank F. Jeffers (Cuối bài viết có cả tên và chữ ký của tác giả).
Frank F. Jeffers tốt
nghiệp Cao học Luật khoa, Hành chánh và Điều tra tình báo, từng là cố vấn
CSQG/VNCH năm 1965-1969. Ông lìa đời tại miền Nam California vì đột quỵ năm
1998.
Nhân đánh dấu ngày
tang thương 30/4/1975, nhận thấy quan điểm của Frank F. Jeffers đến nay vẫn chưa
phải là lỗi thời, chúng tôi mạn phép trích lược vài ý tưởng của bài viết hầu
cống hiến bạn đọc,và đặc biệt thân tặng các chiến sĩ Quân lực VNCH.
Những ai đã trải qua cơn ác mộng
hãi hùng của cuộc chiến tại Việt Nam hẳn còn nhớ những lá cờ sao vàng mà Việt
cộng và cán binh Bắc Việt mang theo vào các chiến trường Miền Nam Việt Nam. Đối
với nhiều người, cái ngôi sao ấy là một biểu tượng ghê rợn đến nay hãy còn gợi
lên nhiều ký ức đau thương và nhiều cảm xúc nhức nhối….
Bảo rằng chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến không thuận lòng dân e là
một nhận định quá đáng! Trong thực tế, chính phủ Hoa Kỳ đã nhận được sự đồng
thuận của đa số dân chúng trong nước, nhằm giúp Việt Nam đấu tranh chống chủ
nghĩa Cộng sản. Hoa Kỳ đã cam kết với nhân dân Miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng
Hòa) rằng sẽ hậu thuẫn và hỗ trợ họ trong quyết tâm bảo vệ tự do dân chủ tại
Miền Nam Việt Nam. Vì đất nước bị chia đôi, Việt Nam đã mất phân nửa phía bắc
cho Cộng sản, còn phía Nam thì an ninh lãnh thổ luôn bị đe dọa bở sự xâm nhập
đánh phá lien tục của Cộng sản Miền Bắc. Vì lẽ đó, Nam Việt Nam buộc lòng lao
vào cuộc chiến chống Cộng sản xâm lăng vì không còn cách đối phó nào hữu hiệu
hơn.
Các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng chiến đấu bên cạnh các quân
nhân Hoa Kỳ, với cùng một lý tưởng: chống chủ nghĩa cộng sản quốc tế và sự xâm
nhập thô bạo của chủ nghĩa ấy vào đất nước của họ. Máu của chiến sĩ Việt-Mỹ chan
hòa khi họ cùng gục ngã trên khắp mọi miền lãnh thổ VNCH, từ rừng rậm, núi đồi
tới làng mạc, thị tứ. Sự tổn thất nhân mạng về phía Hoa Kỳ thật là một thảm cảnh
khó quên, nhưng chẳng thấm vào đâu so với hàng triệu người Việt bị Cộng sản giết
hại một cách dã man, kể cả quân-cán-chính lẫn thường dân vô tội.
Nhiều cựu chiến binh Mỹ trở về quê hương mang mặc cảm mình bị bỏ rơi.
Nhưng ít ra họ cũng còn có được một quê hương để mà trở về. Và nước Mỹ cũng đã
đền bù xứng đáng cho những người con chiến đấu dũng cảm ấy.
Nhưng còn với các
chiến sĩ VNCH đã từng sát cánh với chúng ta chiến đấu chống lại kẻ thù chung của
nhân loại thì sao? Điều gì đã xảy ra cho họ sau khi kết thúc cuộc chiến
30/4/1975? Cho cả gia đình của họ
nữa?
Rất ít ngưới Mỹ có
được một chút ý niệm về những nỗi khắc khoải mà các người bạn Việt Nam đã phải
gánh chịu.
Quả thật, quá ít
người Mỹ hiểu được bối cảnh lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ và cũng chẳng hiểu
nguyên do vì đâu xảy ra chiến tranh Việt Nam. Thậm chí có người còn lầm tưởng
rằng chiến tranh Việt Nam là một cuộc nội chiến hơn là một cuộc đối đầu giữa tự
do dân chủ và bạo quyền chuyên chính, từ đó lý luận một cách sai lầm rằng, Hoa
Kỳ gây chiến chống lại Việt Nam.
Càng sai lầm hơn nữa
khi lý luận theo giọng điệu tuyên truyền của cộng sản rằng Hoa kỳ là đế quốc xâm
lược. Sự thật, để bảo vệ những vùng lãnh thổ tự do bị thế lực Cộng sản đe dọa
nghiêm trọng, Hoa Kỳ được yêu cầu viện trợ cả nhân lực lẫn tài lực và vật lực.
Chẳng phải chỉ có Miền Nam Việt Nam, mà cả Miền Nam Triều Tiên (Nam Hàn) và quốc
gia Tây Đức đều có quân đội Hoa Kỳ trú đóng và tham chiến để ngăn chặn sự bành
trướng cùng sức phá hoại điên cuồng của làn sóng đỏ. Trên một số quốc gia khác
như Nhật Bản, Thái Lan, Phi Luật Tân cũng có mặt quân đội Hoa Kỳ, nhưng đâu có
nước nào trong các quốc gia trên mất quyền độc lập, tự do, tự chủ, tự trị và tự
quyết. Hầu hết các quốc gia trên đến nay vẫn còn chấp nhận cho Hoa Ký tiếp tục
đóng quân trên lãnh thổ của mình.
Chiến tranh là địa
ngục. Đúng vậy. Nhưng với Việt Nam, sau khi chiến tranh kết thúc, hàng triệu
người bị xua đẩy vào một thứ địa ngục khác còn khủng khiếp hơn nhiều. Cho nên
chúng ta hiểu vì sao có hàng vạn người liều chết giữa biển khơi hơn là quằn quại
ở chốn địa ngục trần gian.
Hiện tượng “Thuyền
Nhân Việt Nam” cả thế giới đều biết và đều xúc động! Bao nhiêu gia đình phải tan
tác hay chia ly, một cuộc chia ly không bao giờ thấy ngày đoàn tụ. Đối với bất
cứ xã hội nào, tình cảnh đó cũng đều là tấn bi kịch. Nhưng đối với người Việt
Nam thì đó thật là một thảm họa! Người Việt có truyền thống quây quần bên nhau
trong cùng một đại gia đình trên quê hương mình. Đại gia đình ấy nay bỗng rã tan
vì phong ba bão tố, vì hải tặc tàn sát, vì biết bao tai ách trên đường thoát
thân. Còn gì đau đớn hơn?
Thông thường, kẻ
chiến thắng có thói quen trả thù tàn nhẫn bằng tra tấn hoặc tàn sát dã man có
khi cả một họ tộc, có khi cả một thôn làng hay một thị tứ. Kẻ thắng trận coi đó
là cách phục thù trừng trị đích đáng đồng thời cũng dùng nó mà răn đe gây khiếp
sợ cho những ai sau này có ý đồ phản loạn chống lại chế độ.
Chuyện diệt chủng
nào phải chuyện cũ xưa gì đâu. Trong tâm trí người dân Việt nay hãy còn in dấu
những chiến dịch trừng trị man rợ của Cộng sản Miền Bắc thời Cải Cách Ruộng Đất
(1956) nhằm vào những người không cùng ý hướng với Cộng sản hay có ý phản kháng
chế độ Cộng sản hoặc chỉ vì sở hữu có vài ba mẫu ruộng đất. Rồi tại Miền Nam
Việt Nam hồi Tết Mậu Thân 1968, nhất là tại Huế, hàng ngàn người bị Cộng sản lôi
ra giết chết dã man, thậm chí chôn sống mà không hề đưa ra xét xử trước pháp
luật! Diệt chủng dã man như vậy, người dân Việt làm sao không khiếp hãi!
Vào lúc kết thúc
cuộc chiến tại Việt Nam, chắc hẳn đây đó đã có những cuộc hành quyết trả thù độc
ác. Nhưng may mắn là đã không xảy ra cuộc tắm máu. Quân Bắc Việt thực ra chẳng
hào hiệp gì đâu. Chẳng qua là vì vụ diệt chủng của bọn Khờ Me Đỏ đã bị quốc tế
lên án, Cộng sản Bắc Việt chùn tay đấy thôi. Nhưng thay vào đó là hàng loạt các
cuộc bắt bớ, tống vào các trại cải tạo, phải nói là những Trại Khổ sai thì đúng
hơn, nơi mà những người của chế độ cũ trải qua đủ mọi thứ nhục hình từ thể chất
đến tinh thần. Gia đình họ bị lùa về vùng nông thôn hay bị tống đi Kinh tế mới
với bàn tay trắng để bước vào kiếp sống đày đọa ăn tro mò trấu. Con cái họ bị
ngăn cản không cho kiếm việc làm thích hợp và cũng bị cấm cản học hành tiến thân
với lý do lý lịch xấu.
Sau những 5 năm, 15
năm, có khi tới 20 năm bị cầm tù lao động khổ sai nhọc nhằn, các tù nhân được
thả về sống trong một xã hội áp dụng một chính sách công khai kỳ thị, phân biệt
đối xử và thù địch đối với họ. Cả công ăn việc làm hợp khả năng họ cũng như mọi
quyền lợi chính đáng về an sinh xã hội đều bị khước từ. Nhiểu người trong các tù
nhân đã trở về với một gia đình xé nát từng mảng vụn, còn bản thân thì điên đảo
bơ vơ giữa chợ đời, mặc cho đời ruồng rẫy, thiên hạ khinh chê xỉa xói.
Thân thích của họ,
kẻ thì chết, người thì mất tích, người khác đã bị đày ải vào những nơi rừng
thiêng nước độc. Những thứ mà người tù trước đây chắt chiu gầy dựng được như tài
sản và nhà cửa nay đều thuộc về kẻ thắng trận. Chẳng mấy người tù trở về mà gia
đình còn toàn vẹn, cả về nhân sự lẫn tình cảm. Mất tất cả. Thậm chí, mất cả
quyền công dân của đất nước mà họ đã chôn nhau, cắt rốn! Cho nên chúng ta không
ngạc nhiên khi thấy bỗng dưng hàng triệu người Việt chấp nhận sống lưu vong trên
nước Mỹ này hay tại những quốc gia tự do dân chủ khác.
Quả thật, Hoa Kỳ có
giúp đỡ bao bọc những người bạn vốn chịu quá nhiều mất mát sau cuộc chiến. Âu
cũng là điều hợp lý và công bằng thôi. Tuy nhiên, nếu chúng ta đã và đang tiếp
tục có những bước nhìn nhận Cộng sản Việt Nam để xích lại gần đám người bất nhân
này vì lý do kinh tế, thương mãi, tức vì lợi nhuận, tại sao chúng ta lại không
có một nghĩa cử cao đẹp hơn và thực tiễn hơn với những người bạn cùng chung lưng
đấu cật với chúng ta? Ít ra, họ cũng là những người đã đổ xương máu, thậm chí bị
mang tiếng là phản quốc để cho thế giới - đứng đầu là Hoa Kỳ đạt mục tiêu giải
thể khối Cộng sản quốc tế và tiêu diệt chủ nghĩa Cộng sản trên địa cầu này, một
chủ nghĩa đã từng có gốc rễ tội ác từ gần một thế kỷ nay, gây biết bao chết chóc
khốn khổ cho loài người.
Hoa Kỳ phải nhìn
nhận những cống hiến to lớn của hết thảy quân-cán-chính Miền Nam Việt Nam vào sự
nghiệp chung của toàn thế giới. Những chiến sĩ dũng cảm ấy cần được xác nhận
rằng họ là đồng minh của Hoa Kỳ và của Thế giới Tự do, chứ không phải là bù nhìn
kiểu Miền Bắc Việt Nam chấp nhận làm chư hầu bù nhìn cho Nga sô và Tàu cộng
Quân-Cán-Chính Miền
Nam Việt Nam quả đã hy sinh cho lý tưởng Tự do, Dân chủ và vì cuộc sống hạnh
phúc của đồng bào mình. Những hy sinh của họ không nhỏ.
Chẳng phải chỉ mỗi
Hoa Kỳ thôi, mà cả thế giới cần phải nhìn nhận sự thật đó, sự thật ngày càng
sáng tỏ khi các hồ sơ tối mật từ các nước Cộng sản lần lượt được giải mật hay
phanh phui sau khi chủ nghĩa Cộng sản bị phá sản và khai tử!
Có vậy, chúng ta mới dễ dàng nhận diện giữa người Quốc gia và người Cộng sản, ai chánh đạo, ai tà đạo, ai chính nghĩa, ai phi nghĩa.