MỘT VÒNG TRÒN ĐANG KHÉP KÍN
VÀ NHỮNG SUY TƯ
J.B.
Nguyễn Hữu Vinh (Hànội)
Tôi được nghe câu chuyện về một nửa cái vòng tròn nhân tạo, đó là một nửa vòng tròn được tạo nên trên sân thượng Tòa Tổng Giám mục Hà Nội.
Dù nhiều khi muốn
khép lại một quá khứ buồn vì nỗi đau nào rồi cũng nguôi ngoai theo thời gian.
Nhưng quá khứ chỉ được khép lại khi hiện tại và tương lai không còn sự đe dọa
của cái bóng ma có nguy cơ tái hiện hoành hành bất cứ lúc nào. Bởi mầm mống của
cái quá khứ buồn đau vẫn còn manh nha những chồi mới độc hại hơn nên vẫn phải
suy nghĩ về nó.
Một nửa vòng tròn
ấy, cần được ghi vào lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam như một nhân chứng, vật
chứng cho một giai đoạn, một thời đại đầy đau thương của Giáo hội – Thời đại
Cộng sản.
Một nửa vòng tròn ấy
được nhìn nhận với những con mắt khác nhau, nhưng tất cả trong sâu thẳm tâm hồn,
đều nghĩ đến nguyên nhân sinh ra nó và không ai không khỏi bùi ngùi lẫn xót xa.
Đó là nửa vòng tròn được tạo ra bởi bước chân trong những đêm không ngủ của Cố Hồng y Trịnh Như Khuê trong những ngày Ngài bị “bó gối” tại Tòa Giám mục Hà Nội.
Chuyện kể rằng: Đêm
đêm, khi người Hà Nội đã chìm vào giấc ngủ sau một ngày lo toan chuyện xếp hàng
với sổ gạo, tem phiếu thực phẩm và muôn vàn khó khăn của cuộc sống thời kỳ “tiến
nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa Xã hội” thì trên sân thượng ngôi
nhà Tòa Giám mục, có một con người vẫn không thể nào đi vào giấc ngủ - Đức Hồng
Y Trịnh Như Khuê. Những khi đó, Ngài lại bước những bước nặng nề suy tư về những
đau khổ, những khó khăn của Giáo hội, đang đặt gánh nặng lên đôi vai của Ngài.
Những bước chân nặng
nề của Ngài, qua năm tháng dài, đã làm mòn đi lớp gạch lá nem được lát trên mái
sân thượng, để lại một nửa vòng tròn. Vì sao lại chỉ một nửa vòng tròn? Đó là
vì, phía bên Nhà thờ Lớn thì trống trải, gió lạnh từng đêm đã ngăn bước chân
Ngài đi về phía đó, hay có những mối hiểm nguy có thể xảy ra với Ngài bất cứ lúc
nào nếu có ai biết được giờ đó Ngài vẫn đi lại và suy nghĩ?
Nghĩ đến những năm
tháng đó, chắc ai đã từng sống ở một xã hội khác, đất nước khác và ngay cả những
người sống trên đất nước này nhưng sinh sau đẻ muộn cũng không thể nào tưởng
tượng nổi những điều gì đã xảy ra với Giáo hội nơi quê nhà.
Một giáo hội được
coi là khởi sắc và phát triển mạnh mẽ sau những cơn bách hại khốc liệt của một
số thời đại phong kiến Việt Nam. Hàng chục ngàn con người đã lấy máu mình tưới
cho thấm đẫm mảnh đất này, để nêu cao lòng kiên trinh của mình vào Thiên Chúa.
Hàng trăm Thánh tử đạo Việt Nam được công nhận trong những năm qua đã nói lên sự
khắc nghiệt và khốc liệt của một thời đau khổ. Những hạt máu đó đã sinh sôi nảy
nở nên một thế hệ những người công giáo Việt Nam kiêu hùng, dũng cảm.
Cũng chính những giáo dân kiêu dũng kia,
được phát triển mạnh mẽ, như cây mùa xuân đâm chồi nẩy lộc để chuẩn bị đón một
mùa đông giá lạnh và khắc nghiệt của lịch sử Giáo hội – Thời đại Cộng sản.
Với thời đại đó, khi
cơn bão cộng sản tràn vào đất nước Việt Nam, kéo theo những cuộc chiến tranh
liên miên để chiến đấu vì hệ tư tưởng Cộng sản, cả đất nước ngập chìm trong lửa
đạn. Giáo hội đã hứng chịu nhiều nhất những đau khổ của giai đoạn đó. Bởi Giáo
hội đã phải hứng chịu một lúc hai cuộc chiến, cuộc chiến bằng bom đạn bạo tàn
và cuộc chiến “cách mạng văn hóa và tư tưởng” cũng tàn bạo không kém nhằm
áp đặt thứ tôn giáo vô thần cộng sản lên trên cả dân tộc, cả đất nước.
Với Giáo hội, hệ
thống đào tạo linh mục hầu như đóng cửa. Các giám mục, linh mục đi ra khỏi nơi
cư ngụ phải được nhà nước cho phép. Nhiều linh mục bị triệu hồi, di chuyển không
theo điều động của đấng bản quyền. Thậm chí những khi thiếu thốn linh mục trầm
trọng, vẫn có những linh mục nằm dài ở Tòa Giám Mục mà không được đưa đến nơi có
nhu cầu.
Hệ thống Giáo hội trên miền Bắc Xã hội
chủ nghĩa hầu như bị cách ly với thế giới bên ngoài. Tất cả những vấn đề của
Giáo hội hoàn vũ, của những Giáo hội bạn, của Tòa Thánh Vatican đều là chuyện
của thế giới khác. Vì vậy, bản văn của Công đồng Vaticano II kết thúc từ giữa
những năm 60 nhưng chỉ đến được miền Bắc Việt Nam vào những năm sau khi đất nước
thống nhất.
Bên cạnh hệ thống
Giáo hội bị suy kiệt do bao vây tứ bề, thì một mô hình “giáo hội nhà nước”
được hình thành và manh nha phát triển bằng một cái tên “Ủy ban Liên lạc
Công giáo Việt Nam” vào tháng 3/1955. Ủy ban đó đặt dưới sự lãnh đạo của mặt
trận, mặt trận đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng cộng sản. Một tờ báo rất
kêu mang tên “Chính nghĩa”, tiền thân của tờ “Người Công giáo Việt Nam” sau này
– Thực chất, tờ báo này chỉ mang danh, người Công giáo Việt Nam đâu có mặt trong
tờ báo đó. Tờ báo quốc doanh này, chỉ là một phần trong chiến lược xây dựng một
Giáo hội mang bản sắc dân tộc – lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin - Staline làm kim chỉ
nam cho mọi hành động, lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt
theo đúng nghị quyết của Đảng.
Ở “Giáo hội nhà
nước” đó, cũng có các linh mục, các ông trùm, ông chánh… và đầy đủ hàng ngũ giáo
dân từ nông dân đến trí thức. Đã có lần, một linh mục giữ một trọng trách rất
lớn trong cái Ủy ban này, sau khi giảng ở nhà thờ mà bị người giáo dân luôn nhìn
với ánh mắt nghi kỵ đã nói: “Khi có một con quỷ và một con người đi trên một
con đường, thì phải dựa vào nhau mà đi tới đích, lúc đó quỷ sẽ là quỷ, và người
lại là người” .
Tiếc thay, khi đi
chưa đến đích, với sự quỷ quyệt và mánh lới của mình, quỷ đã làm cho người nhiều
phen thân bại danh liệt, và cuối cùng, trong một đại hội mà mình bị hạ bệ khi đã
già nua, vị linh mục “người” ấy mới chua xót khóc trước hội trường: “Tôi theo
Đảng từ mấy chục năm nay nhưng đến nay, Đảng đã không tin tôi nữa” – Điều
này, tôi được nghe từ một linh mục tham dự đại hội lúc đó.
Nhưng dù sao thì
theo Đảng vẫn được những điều mà linh mục khác không bao giờ có vinh dự nhận hay
được, đó là khi đến nghĩa trang, vị linh mục này nhận được những vòng hoa của
Trung ương Đảng và Nhà nước gửi tới đắp vào bay phất phơ trên mộ như ngao ngán
cho một cuộc đời đã trót làm tôi hai chủ.
Cũng có những vị
thiếu thông tin, ngây thơ tin vào những điều tưởng thật. Hoặc trong những hoàn
cảnh bó buộc, phải chọn lựa những điều ít bất lợi hơn. Nhưng rồi, sự nói dối lại
hay cùng. Người ta đã nhận ra bản chất vấn đề bằng những cái nhìn đơn giản nhất.
Vấn đề này, cần phải nhìn thẳng và thừa
nhận sự khôn ngoan và sáng suốt của Hàng giáo phẩm Việt Nam thời kỳ đó, nếu
không, đất nước chúng ta sẽ có một Giáo hội quốc doanh và một Giáo hội thầm lặng
như ở đất nước anh em Trung Hoa, người đồng chí và người bạn vĩ đại của Đảng và
Nhà nước, nhưng là kẻ xấu chơi của đất nước, nhân dân chúng ta hiện nay.
Những năm tháng đó,
nhà thờ, nhà nguyện được tận dụng làm kho, làm xưởng, làm chỗ nhốt trâu bò, làm
chỗ chứa rơm…
Giáo dân xung quanh nhà thờ, nhiều nơi được đưa đi những vùng kinh tế mới xa
xôi, để đưa những người lương dân vào nhà thờ, nhà xứ, tạo một sự chia rẽ sâu
sắc trong lòng dân tộc.
Có những nơi, cả nhà
thờ, cả khu vực chỉ còn một mình Cha xứ bơ vơ giữa nhà thờ, mà không có bất kỳ
ai ở quanh. Giáo dân thỉnh thoảng muốn tiếp tế cho Ngài cân gạo, con cá, nắm
muối cũng hết sức bí mật và vất vả. Vị LINH MỤC này cũng đã mất cách đây mươi
năm, nhưng những kỷ niệm về Ngài thì vẫn luôn trên môi những người tín hữu. Và
Ngài vẫn sống khi Giáo hội phát triển mạnh mẽ những năm sau này, với việc ghi
nhớ công lao mà cả đời Ngài đã phải trả giá.
Bên cạnh khía cạnh
vật chất, nhân lực đời sống Giáo hội gần như kiệt quệ, thì về tinh thần, hệ
thống báo chí, sách vở, tác phẩm văn học, báo chí, phim ảnh được huy động để đưa
đến cho người dân có hai cách nhìn. Người không công giáo, khi đọc các tác phẩm
như Bão biển (được đưa vào sách giáo khoa), Ngày Lễ Thánh, Giáp mặt,
Cuộc đời bên ngoài… đã nhìn người Công giáo với con mắt coi thường vì phản
động, các cha cố đồi trụy, các giáo dân chậm tiến.
Còn với người Công giáo, họ nhìn cách xử
sự với họ khi yếu thế của Đảng và Nhà nước để biết rằng họ chỉ là công dân
hạng hai. Điều đó giải thích cho cuộc bỏ phiếu bằng chân của hàng triệu giáo
dân và giáo sĩ bỏ ruộng vườn, đất đai mồ mả cha ông tổ tiên bao đời nay để di cư
vào Nam năm 1954.
Tất cả các linh mục,
hầu như được chỉ định ở nơi nào nhà nước thấy có lợi cho công cuộc xây dựng Chủ
nghĩa xã hội và giải phóng miền Nam, còn nhu cầu của giáo dân, của linh mục,
giáo phận… chỉ là thứ yếu, việc đi lại của các linh mục phải được phép, nếu
không muốn lên công an huyện ngồi nhổ cỏ.
Hàng loạt linh mục được đưa đi học tập
trong các trại giam, trại cải tạo hoặc cấm cố tại chỗ. Các chủng sinh được trả
về địa phương quản lý lao động sản xuất mà yên tâm lo việc gia đình, “xây dựng
con người mới”. Các lễ hội bị dẹp bỏ để tiết kiệm xây dựng Chủ nghĩa xã hội và
vì miền Nam ruột thịt đang “bị giày xéo dưới bàn chân, gót sắt của quân xâm lược
Mỹ - Ngụy”.
Thời đang sống và nửa vòng tròn còn lại
Cuộc sống người Công
giáo cũng như của cả nước, với một sức sống bản năng mãnh liệt như cỏ hạn gặp
mưa rào đã bừng lên trên mọi bình diện cuộc sống khi đất nước bước vào hội nhập
với thế giới. Sau mấy chục năm đóng cửa, đến lúc phải mở cửa cho ánh sáng mang
lại những lợi ích vật chất. Đảng quyết tâm “Hòa nhập nhưng không hòa tan”
với thế giới. Xã hội được dịp trỗi dậy mạnh mẽ những ham muốn bản năng về tiêu
thụ, về vật chất đúng tinh thần chủ nghĩa Mác – Lênin là “vật chất có trước,
tinh thần có sau”.
Tham nhũng lan tràn,
ngày càng sâu rộng trên mọi bình diện, xã hội đầy rẫy những tệ nạn về mại dâm,
ma túy và sự xuống cấp đạo đức như xe không phanh trên đèo dốc, giáo dục và y tế
là những lĩnh vực dễ thấy nhất.
Trong một xã hội vốn được nêu cao khẩu
hiêu vì hạnh phúc của nhân dân, thì càng ngày chỉ càng thấy hệ thống cán bộ đảng
viên sung túc. Con cái họ có những đứa chơi ngông đốt tiền không hết nhưng nhân
dân thì ngày càng bần cùng. Sự phân chia khoảng cách giàu nghèo ngày càng sâu
rộng.
Người dân Việt Nam
vốn anh hùng, cần cù, chịu khó, được sống trong một đất nước:
Nước ta ở vào xứ nóng, khí hậu tốt
Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu
Nhân dân dũng cảm và cần kiệm
Các nước anh em giúp đỡ nhiều
(Thơ Hồ Chí Minh)
Thì nay đã lần lượt
làm kiếp tôi đòi cho các nước gần xa không phân biệt là bầu bạn hay kẻ thù.
Những cô gái bán mình không cần biết đến tương lai hạnh phúc cho những kẻ có
tiền, tàn tật hay già cả ở tận Đài Loan, Hàn Quốc với những cuộc thoát y cho họ
ngắm chọn như những món hàng. Những cô gái bước đi làm gái mại dâm cho những nơi
xa xôi không cần biết đến ngày mai, chỉ vì họ đã bị bần cùng hóa.
Tất cả được cho là
“mặt trái của cơ chế thị trường”.
Tất cả những điều
đó, đã đặt Giáo hội công giáo trước những thách đố nặng nề. Người Công giáo
không đủ sức để giúp đỡ vật chất cho họ. Còn tinh thần ư, sau mấy chục năm, tư
tưởng bạo lực đã làm nhiều tâm hồn băng hoại khó có cơ hồi phục.
Việc đưa Giáo hội ra khỏi những cám dỗ, suy đồi của đạo đức xã hội đặt lên vai những chủ chăn hiện tại.
Bênh cạnh những nhu cầu cấp thiết của
Giáo hội phát triển như một thanh niên đã lớn, vẫn cứ bó buộc trong chiếc áo cũ
ngày xưa nhưng đã bị cắt xén rất nhiều. Vì vậy, đến lúc Giáo hội phải đòi lại
những manh áo của mình, đó là đất đai, tài sản bị chiếm đoạt nhằm phục vụ cho
tha nhân. Nhưng bằng cách nào, khi mà lòng tham của con người chưa dừng lại, não
trạng thù địch vẫn chưa thể gột rửa hay thay đổi.
Chính những điều cấp
thiết đó, đặt lên vai các vị chủ chăn của đoàn chiên đang khao khát sự phát
triển, đã trở thành một gánh nặng cho những đôi vai của chủ chăn, cho những mái
đầu của người thủ lĩnh.
Vì vậy, hàng đêm,
Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt lại tiếp bước trên mái nhà của Tòa Giám mục với
những bước chân và cái đầu đầy suy tư của mình. Những bước chân đó, như đã vẽ
thêm cái nửa vòng tròn còn lại mà người đã chấp nhận bước tiếp.
Việc kêu gọi Giáo
dân tiếp sức cầu nguyện đòi lại phần đất đai tài sản của mình, như là những hành
động cuối cùng bất đắc dĩ khi Ngài cảm thấy sức mình đã quá mệt mỏi bởi sự khiêm
nhu, bởi lòng kiên nhẫn đã hết giới hạn khi những công việc, nhiệm vụ vẫn nặng
nề mà sức người thì có hạn?
Sự hưởng ứng của
đoàn chiên kiên vững và đông đảo, đáp lời chủ chăn, phải chăng là để giúp Ngài
cùng khép kín một nửa vòng tròn còn lại. Để mãi mãi những khổ đau không có cơ
hội tái diễn. Để đất nước bước ra khỏi cái vòng tròn đau khổ mình buộc tự vẽ ra?
Một năm mới sắp đến,
khi cái tết đang cận kề, đào Hà Nội đang thu mình trong giá rét để chờ ngày khoe
sắc. Giáo hội đang bước qua sự sợ hãi của chính mình để khẳng định vị thế và khả
năng đóng góp cho con người, cho tha nhân đau khổ.
Cầu chúc một mùa
xuân thực sự là mùa xuân sẽ sớm đến với Giáo hội và dân tộc Việt Nam.
Hà Nội, Ngày 21 tháng 1 năm 2008.