Lm
WILLIAMS TRIENEKENS
Linh
mục Bill Trienekens sinh tại Hoà Lan năm 1932, và chịu chức linh mục năm 1961
cho Giáo phận Calgary, Canada. Ngài là Cha sở xứ Thánh Luca ở Calgary, Alberta,
Canada
Thời
thơ ấu ở Hoà Lan, cha và gia đình cha đã trải qua những điều mà những người lớn
lên ở Mỹ không cảm nghiệm được ––một nước bị người ngoại quốc chiếm đóng. Đức
Quốc Xã đã xâm chiếm đất nước của ngài. Việc làm, thức ăn, trường học đều thiếu
thốn. Sau một thời gian dài vật lộn để giúp đỡ gia đình sau cái chết của thân
phụ và gắng sức hơn nữa để có được nền học vấn căn bản, Trienekens di cư sang
Canada và theo học làm linh mục.
Mặc
dầu những thử thách đầu đời đã tạo nên một con người trưởng thành nơi linh mục
Trienekens, song cha vẫn khiêm nhường cho rằng có được sự trưởng thành đó là nhờ
chức linh mục mà cha yêu quí.
Tôi sinh ra trong một làng nhỏ chuyên
về nông nghiệp ở Hòa Lan. Lúc Thế Chiến thứ II gần kết thúc, cha tôi qua đời khi
tôi mới 13 tuổi. Sau khi cha tôi mất, chúng tôi rời đến một trang trại nhỏ ở
ngoại ô, và lối sống của chúng tôi thay đổi khá nhiều. Chúng tôi sống gần một
phi trường quân sự bị quân Đức chiếm đóng. Họ chiếm cứ hết các trường học. Trong
thời gian chiến tranh chúng tôi được học rất ít. Khi hoạ hoằn được người Đức cho
phép đến lớp, thì chúng tôi phải học trong những hội quán công cộng tại địa
phương, trong xưởng mộc hay nhà kho. Một vài thầy giáo làm nghề dưới hầm, nên có
những ngày các thầy không đến lớp được. Kết quả là, khi chiến tranh kết thúc,
vài người chúng tôi chỉ biết đọc, biết viết sơ sơ.
Sau chiến tranh tôi vào học nội trú một năm.
Vừa đến nơi. tôi khám phá ra mình đần quá sức, kém xa các học sinh khác. Song có
một người đàn ông rất tốt đã cho tôi núp bóng và đã giúp tôi học văn và toán.
Sau đó tôi ra ngoài học 4 năm văn phạm và trung học. Cuối cùng tôi đã thành đạt.
Ý tưởng làm linh mục tôi đã ấp ủ từ những
năm thơ ấu. Nhìn lại, tôi nhận ra rằng cha mẹ tôi đã có công rất nhiều với ơn
gọi của tôi, vì các ngài yêu mến Giáo Hội và chức linh mục. Cha sở giáo xứ chúng
tôi cũng gây một âm hưởng. Ngài là một người tốt, đạo đức, có tinh thần cầu
nguyện, tích cực và tấm lòng mẫn cảm. Ngài không chỉ ảnh hưởng trên tôi, mà còn
trên một số người trẻ cả nam lẫn nữ bước vào đời sống linh mục hay tu dòng. Vóc
dáng nhỏ nhắn như cái làng của tôi, song ngài đã có cái nhìn bao quát vào thế
giới, đầu tư phần lớn số lương của ngài vào việc giáo dục thanh thiếu niên, đặc
biệt những em muốn vào chủng viện. Ngài giúp đỡ cả tinh thần lẫn vật chất. Ngài
hướng dẫn chúng tôi đi theo ơn gọi, không phải ngồi chờ mọi chuyện xảy ra, mà
phải có những quyết định khiến cho mọi việc xảy ra. Khi Ngài qua đời, mọi người
từ khắp thế giới đến dự lễ an táng của ngài.
Được khích lệ trong bối cảnh này, tôi quyết
định vào nhà tập. Đây là nơi lạc hậu nhất mà tôi từng được thấy, và tôi chỉ ở
được có hai tháng. Vào thời điểm này cha tôi qua đời, người để lại một gia đình
đông đúc: Em nhỏ nhất mới có ba tháng, và lợi tức thì rất ít. Hai chị lớn của
tôi, một anh trai và tôi thay phiên nhau làm việc để nâng đỡ gia đình, trong khi
các em khác tiếp tục đi học. Lúc 22 tuổi, tôi đi lại khá đều đặn với một cô bạn
gái, song tôi cố trì hoãn cái ý tưởng làm đám cưới, vì còn phải làm để giúp đỡ
gia đình. Ba em trai nhỏ coi tôi như là người cha, đi đâu cũng theo. Sau cùng cô
bạn gái nói với tôi: “Tốt hơn anh nên
quyết định xem anh muốn làm chồng em hay tiếp tục làm cha của các em trai em gái
của anh.”
Trong khi đầu óc tôi mang hai áp lực đó, một
áp lực thứ ba xảy đến: niềm ao ước học làm linh mục. Cha sở bảo tôi:
“Nếu con thực sự muốn làm linh mục, con
đừng cắm dùi ở đây. Bao lâu con còn cầm chân nơi làng quê này, con vẫn còn bị
yêu cầu làm người cha của gia đình con.” Vì thế tôi di cư sang Canada và học
6 năm ở chủng viện Thánh Giuse tại Edmonton.
Quan niệm về vai trò Cha sở của
tôi là trước tiên tôi phải là người của hiệp nhất, là người đem người ta đến với
nhau và giữ họ lại với nhau. Tôi phải cẩn thận để không bao giờ gây ra những mối
bất hòa; đúng hơn, tôi là người giải quyết những bất đồng xảy ra không tránh
được bất cứ ở nơi đâu có những nhóm người mang mục tiêu khác nhau. Tôi cần phải
giữ họ ngồi với nhau, để mỗi khi họ đến cử hành tiệc thánh thể, họ là một nhóm,
cùng một trí, cùng một lòng. Khi tôi thấy thế giới của linh mục ngày nay khác xa
với thời tôi còn nhỏ, tôi có thể sẽ nghĩ là vai trò của linh mục đã thay đổi.
Song nó thực ra không đổi. Vị Cha sở đáng kính ở làng quê tôi và tôi chia sẻ với
nhau cùng một vai trò; chúng tôi là những người hiệp nhất các giáo dân trong xứ.
Dường như mỗi linh mục đều có một mục vụ
tông đồ đặc biệt thích hợp với tài năng riêng của mình. Tôi thích làm việc ở một
giáo xứ trong thành phố. Tôi thích làm việc với người trẻ và tôi thích thú trong
việc giảng dạy.
Tôi đã thành công trong việc đem các nhóm
lại với nhau. Thanh niên và các gia đình trẻ đã quá quen với điều mà xã hội bảo
họ phải làm, cái gì nên mua, cái gì nên tạo mãi, đến nỗi những mối tương giao
không được để ý đủ. Mối giây ràng buộc vợ chồng lỏng lẻo; nó không tiến triển
như đáng lẽ phải làm. Quá nhiều học sinh trung học xuất thân từ những gia đình
đổ vỡ. Có nhiều em lang thang. Bởi vậy sự dấn thân và lưu tâm của chúng tôi cần
tập trung vào người trẻ. Nếu chúng ta có người trẻ, chúng ta sẽ có tương lai.
Giảng dạy là cơ hội tuyệt vời để liên kết
người ta lại. Trong giáo xứ tôi có 2,400 gia đình; chừng 3,000 thành viên đến dự
lễ cuối tuần. Còn ai khác có được cái tai nghe của 3,000 người thường xuyên như
thế? Khi tôi nói với họ, tôi phải nói cái đáng nói. Những giờ phút hiếm hoi đó
sẽ là những phút cao điểm của cả một tuần lễ. Sẽ chẳng có lúc nào khác để tôi
ảnh hưởng trên con số đông như vậy với chỉ một vài lời.
Song là nhà giảng thuyết, tôi phải có lòng
thương cảm và hiểu biết những vấn đề mà giáo dân tôi phải đương đầu. Vừa rồi một
bạn trẻ đến thăm tôi. Vị mục tử của anh đã giảng một bài nẩy lửa chống lại việc
ly dị. Người bạn trẻ nói với tôi: “Con đã lập gia đình được 7 năm và có ba con.
Vợ con bị bệnh tâm thần. Cô ta ra đi đem cả các con theo. Con cần một chút hy
vọng để có thể bằng cách nào đó giải quyết được vấn đề của mình. Thế mà con chỉ
được nghe toàn những mạt sát về ly dị, không có một chút cảm thông hay hiểu biết
gì về hoàn cảnh của con."
Những người có vấn đề trong hôn nhân hay có
khó khăn về việc làm hoặc sức khoẻ rất cần một người nào đó đem hy vọng lại cho
họ. Khi chúng ta có hy vọng, chúng ta sẽ có bình an.
Chẳng còn gì có vẻ vững bền nữa
cả trong xã hội của chúng ta. Đặc biệt là khó khăn cho các bạn trẻ để cố gắng
dấn thân vĩnh viễn. Khi chúng ta đảm nhận một nhiệm vụ, chúng ta cần thiết phải
gạt qua một bên một số việc để chỉ nhắm vào một đích điểm. Song ngày nay chúng
ta lại muốn xía ngón tay vào mọi thứ chuyện. Chúng ta muốn mọi cái tốt, mọi cái
dễ chịu, và xã hội ngày nay không khuyến khích chúng ta bỏ đi một thứ gì cả. Cái
kiểu môi trường đó chẳng gợi hứng được cho một người nào cam kết suốt đời với
chức linh mục. Khi một người nam quyết định cưới mộtï người nữ, thì có cả 10,000
người nữ khác mà chàng không cưới. Như vậy khi chúng ta quyết định làm bất cứ
một điều gì, thì chúng ta phải gạt qua một bên vô số những hành vi khả thi khác.
Khi tôi nói tôi sẽ sống đời độc thân, có nghĩa là tôi phải bỏ qua một bên nhiều
thứ, dĩ nhiên kể cả tình bạn riêng tư với một phụ nữ, cũng như những con cái từ
đó mà có. Bất cứ một sự cam kết nào cũng phải có phấn đấu. Tôi phải thường xuyên
nhắc nhở bản thân tôi rằng tôi là một người độc thân, và rằng tôi muốn theo đuổi
quyết tâm này trong suốt quãng đời còn lại của tôi .
Khi tôi chịu chức, tôi chấp nhận sự kiện đây
là chuyện suốt đời, song sự phấn đấu vẫn luôn có đó. Có lẽ cứ phải phấn đấu là
một điều tốt. Một sự dấn thân mà dễ dàng thì chẳng còn phải là dấn thân nữa.
Niềm vui đến khi ở giữa những cơn gió lốc tư bề mà mình vẫn không nao núng. Cuối
đời nhìn lại mà thấy mình phạm một lỗi lầm tệ hại nhất là rời bỏ đời linh mục
thì sẽ buồn biết bao! Lúc ấy tôi sẽ
tự nhủ: “Bao năm miệt mài học hành để cuối cùng được chịu chức, bây giờ tôi đã
để trôi xuống cống rãnh hết cả.” Chúng ta rất thường hay quên rằng bất cứ lời
cam kết nào cùng đòi phải hy sinh, một sự tận hiến trọn vẹn bản thân mình. Nó
không phải là lời cam kết một lần. Chúng ta phải lập lại lời cam kết mỗi buổi
sáng.
Đã có những lần tôi đã nghĩ tới việc xếp
va-ly và ra đi. Hầu hết các bạn lớp tôi đã rũ áo bỏ về rồi. Một số người trong
bọn họ có viết thư bảo họ không hạnh phúc. Thật là buồn khi thấy họ xoay trở
không lối thoát. Một trong những khó khăn tôi thấy khi đem những linh mục đã lập
gia đình trở lại phục vụ là: nhiều người trong số ra đi đã già. Người trẻ của
giáo xứ lại cần một linh mục trẻ trung hơn để họ có thể gần gũi.
Niềm vui mà hằng ngày tôi cảm
nghiệm được là biết rằng sự phục vụ tôi đang dâng hiến được người ta đón nhận.
Thật tuyệt vời biết mấy khi nghe giáo dân nói: “Con rất sung sướng có Cha ở
đây,” hoặc “Con vui mừng thấy Cha tĩnh tâm trở về.” Mới đây trong lúc tập dượt
cho hôn lễ, một cô phù dâu xin được nói chuyện với tôi. Cô nói: “Con đã xưng tội
với Cha gần một năm rồi. Đời sống con trước đó rất bê bối và Cha đã thực sự giúp
con. Con đã làm đúng những gì Cha bảo và chấp nhận những giá trị mà Chúa Kitô
bày ra trước mặt chúng ta. Con đã đổi đời hoàn toàn và bây giờ con rất hạnh phúc.
Hôm nay con đã thoát khỏi nghiện ngập và những thói xấu đã làm khổ con.” Một sự
kiện nhỏ nhoi, nhưng đầy tưởng lệ.
Tại sao tôi còn đứng vững được? Tôi tin rằng
vì tôi có đức tin vững chắc vào Chúa. Hằng ngày tôi cảm ơn Chúa về đức tin đó.
Một điều khác được củng cố mỗi ngày và dễ dàng giúp tôi đứng vững là tình thương
mến dạt dào của giáo dân dành cho linh mục. Sự liên hệ mật thiết với dân xứ của
tôi là một món quà vô giá. Linh mục đến với giáo xứ gần giống như một con tàu.
Ngài bốc hàng và bốc hàng mãi qua đời sống phục vụ và giảng dạy. Song ngài cũng
chất cái khác lên. Ngài nhận được rất nhiều thứ từ nơi giáo dân, và khi ngài rời
bến cảng, con tàu của ngài lại chất đầy.
Nếu không có linh mục, khi gặp khủng hoảng
giáo dân sẽ đi đâu? Người ta rất thường hay trở lại với tôi sau một thời gian
dài từ khi tôi khuyên nhủ họ và nói: “Con không biết điều gì sẽ xảy ra nếu con
đã không nói chuyện với Cha.” Một hay hai người như thế cũng đủ nặng ký hơn tất
cả những hy sinh mà chúng ta được kêu gọi để làm. Chức Linh mục có giá trị rất
lớn lao trong xã hội, cho dù ngày nay chúng ta vẫn nhận được những bêu xấu trên
báo chí.
Chức Linh mục đã đưa đẩy tôi đi khắp nơi,
song cũng đã giúp tôi nên người, và cũng đem lại cho tôi niềm vui. Linh mục bây
giờ hoàn toàn khác lúc tôi còn là cậu bé. Không còn phải là tiếng gọi đầy mộng
mơ của những năm xưa; mà là một ơn gọi thực tế hơn nhiều. Chúng tôi giống như
các ngôn sứ thời Cựu Ước. Nhiều người trong số họ bị bách hại; nhiều người mất
mạng sống. Chúng tôi là những dụng cụ Thiên Chúa dùng để đem sự thật đến cho dân
chúng, rõ ràng và thuyết phục hết sức có thể. Nếu có ai đang đi tìm một cuộc
picnic, hãy để người ấy lấy giỏ của mình và đi xuống giòng sông. Người ấy sẽ
không tìm thấy điều đó trong chức linh mục. Song ngài sẽ thấy rằng: linh mục là
một đời sống tuyệt diệu, một đời sống chứa chan niềm vui. Ngài cũng khám phá ra
rằng ngài có thể là một ảnh hưởng tốt cho hàng trăm, hàng ngàn người.
·