Ngày 30-11-2007, Đức
Giáo Hoàng Bênêdictô XVI đã ký và công bố Thông Điệp SPE SALVI
(Được cứu độ nhờ hy vọng), đề cập mối
tương quan giữa đức tin và hy vọng trong thời đại đức tin bị giảm sút và niềm hy
vọng của con người cũng càng ngày càng tàn héo. Đức Giáo Hoàng viết Thông Điệp
này có lẽ vì, như ngài nói: “Chủ thuyết
vô thần đã đẫn tới những hình thức độc ác ghê gớm nhất và những vi phạm công lý”.
Ngài cho rằng nhân loại sẽ không được giải cứu bởi tiến bộ khoa học hay cách
mạng chính trị, nhưng chỉ có thể bằng niềm hy vọng do Thiên Chúa Giáo tặng hiến,
“một thế giới tự tạo công lý cho riêng
mình là một thế giới không có niềm hy vọng”. Thông Điệp có 50 phần, dài 83
trang bằng tiếng Pháp và được ấn hành bằng 7 thứ tiếng khác. Với phẩm và lượng
quan trọng như thế, tôi không dám cống hiến bạn đọc bản dịch toàn phần, cũng
không dám bình luận lời nào. Việc này đã có các chuyên viên lo liệu rồi. Tôi chỉ
xin “xé lẻ” bằng cách dịch hai đoạn của Thông Điệp liên quan đến hai nhân vật
Việt Nam được nêu làm gương mẫu trong Thông Điệp. Giữa tên các Thánh Phaolô,
Augustinô, các triết gia Kant, Francis Bacon, Bernard de Clairvaux và cả Engels,
Karl Marx, Đức Giáo Hoàng đã trân trọng nhắc tới Đức cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận
và Thánh Tử Đạo Phaolô Lê Bảo Tịnh. Thật là một trường hợp chưa hề có từ trước
tới nay. Hai người thuộc giòng giống con Hồng cháu Lạc được vinh danh trong một
thông điệp dài chưa tới 100 trang. Phải chăng đó là một niềm hãnh diện và cũng
là một gánh nặng đòi hỏi chúng ta phải sống xứng đáng với tiền nhân? Xin mời qúy
độc giả xem Đức Giáo Hoàng nói gì về hai vị này dựa trên nguyên bản Anh ngữ:
“32. Việc sắp đặt
thiết yếu đầu tiên để học hỏi về hy vọng là cầu nguyện. Khi không ai nghe ta nữa,
Thiên Chúa vẫn nghe ta. Khi ta không thể nói với ai hay kêu gọi ai nữa, ta vẫn
luôn có thể nói với Thiên Chúa. Khi không còn ai giúp ta giải quyết một nhu cầu
hay một sự trông đợi vượt qúa khả năng hy vọng của con người, Thiên Chúa vẫn có
thể giúp ta. Khi ta chìm sâu trong sự cô đơn tuyệt đối, nếu ta cầu nguyện, ta sẽ
không bao giờ cảm thấy cô đơn hoàn toàn. Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, một tù nhân
mười ba năm, trong đó chín năm bị biệt giam, đã để lại cho chúng ta một cuốn
sách nhỏ qúy giá:
Những Lời Nguyện Cầu
của Hy Vọng (Đường Hy Vọng). Suốt mười ba
năm bị tù đày, trong một hoàn cảnh có vẻ như vô cùng tuyệt vọng, việc ngài có
thể nghe và nói với Thiên Chúa đã giúp ngài thêm sức mạnh để hy vọng, điều này
cũng giúp ngài, sau khi được thả, đã trở thành chứng nhân của hy vọng cho dân
toàn thế giới - chứng tỏ rằng niềm hy vọng lớn lao không hề tàn lụi dù trong
những đêm cô độc”.
“37. Chúng ta hãy
trở lại đề tài của chúng ta. Chúng ta có thể cố gắng giới hạn sự đau khổ, chống
lại đau khổ, nhưng không thể loại bỏ đau khổ. Khi chúng ta cố tránh đau khổ bằng
cách rút khỏi bất cứ điều gì có liên quan tới đau khổ, đó là lúc chúng ta trốn
tránh nỗ lực và sự đau đớn trong việc tìm kiếm sự thật và sự thiện, đưa chúng ta
nổi trôi vào một cuộc sống trống rỗng, trong đó hầu như không có đau đớn, nhưng
cảm giác tối tăm của sự vô nghiã và buông rơi lại lớn hơn nhiều. Không phải bước
sang bên lề hay trốn tránh đau khổ mà chúng ta được chữa lành, nhưng là khả năng
chấp nhận đau khổ, trưởng thành qua đau khổ và tìm ý nghiã qua việc kết hợp với
Chúa Kitô, người đã chịu đau khổ vì tình yêu vô biên. Trong ý nghiã này, tôi
muốn trích dẫn một đoạn trong lá thư do Thánh Tử Đạo Việt Nam Phaolô Lê Bảo Tịnh
(tử đạo năm 1857) viết, trong đó diễn tả sự biến đổi đau khổ qua sức mạnh của hy
vọng được triển nở do đức tin:
“Tôi, Phaolô, bị
xiềng xích vì danh Đức Kitô, tôi muốn kể cho anh em những khổ hình tôi phải chịu
hàng ngày, để anh em được đốt cháy bằng tình yêu Thiên Chúa và chung lời với tôi
trong việc ca tụng Người, vì lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời (Ps
136). Nhà tù ở đây đúng là hình ảnh của hỏa ngục đời đời: đủ hình thức tra tấn
độc ác - còng, xiềng xích, khóa tay - cộng thêm thù hận, trả thù, vu cáo, lời
thô tục, cãi cọ, những hành động độc ác, thề thốt, chửi rủa, cũng như sự âu lo
và buồn phiền. Nhưng Thiên Chúa, đã có lần cứu ba trẻ khỏi lò lửa tàn bạo, luôn
luôn ở với tôi; Người đã giải thoát tôi khỏi những khổ não và làm cho chúng trở
nên ngọt ngào, vì lòng thương xót của Chúa tồn tại đến muôn đời. Giữa những nỗi
thống khổ đó, thường làm cho những người khác phải hoảng sợ, tôi, nhờ ơn Chúa,
được tràn đầy niềm hân hoan vui sướng, vì tôi không cô đơn – Chúa Kitô ở với tôi.
Làm sao tôi chịu được cảnh thấy mỗi ngày các hoàng đế, các đại thần và đám tùy
tùng của họ báng bổ Thánh Danh Ngài, ôi lậy Chúa, Người ngự trên các Thiên Thần
Cherubim và Seraphim? (cf. Ps 80:1). Phải chứng kiến những người tà giáo chà đạp
Thánh Giá của Người dưới chân! Đâu là vinh quang của Người? Khi con phải nhìn
tất cả những cảnh đó, con muốn, bằng tất cả tình yêu nồng cháy của con đối với
Chúa, từng chi thể của con được bẻ nát và chết như một chứng nhân của tình yêu
Thiên Chúa. Ôi lậy Chúa, hãy chỉ cho con sức mạnh, hãy cứu con, hãy chống đỡ
con, để trong sự yếu đuối của con, sức mạnh của Chúa được thể hiện và được vinh
quang trước mọi quốc gia. Anh em thân yêu, khi anh em nghe những điều này, anh
em phải dâng trong niềm vui những lời cảm tạ không ngừng lên Thiên Chúa, tự nơi
Người phát sinh mọi điều thiện hảo; hãy chúc tụng Thiên Chúa với tôi, vì lòng
thương xót của Người tồn tại đến muôn đời. Tôi viết những điều này cho anh em để
đức tin của anh em và của tôi hiệp nhất với nhau. Giữa cơn phong ba, tôi bỏ neo
về phiá ngai Thiên Chúa, neo này là nguồn hy vọng sống động trong tâm hồn tôi”.
Đây là một lá thư từ
“Địa ngục” Nó phơi bầy trần trụi tất cả sự kinh hoàng của trại tập trung, nơi
những bạo chúa gây cực hình cho các nạn nhân, và làm nẩy sinh thêm sự ác nơi
chính các nạn nhân, như đến lượt họ trở thành dụng cụ thi hành sự độc ác của
những người hành hình họ. Đây đúng là một lá thư từ Địa ngục, nhưng nó cũng hé
lộ cho ta thấy sự thật được viết trong Thánh Vịnh: “Nếu tôi lên thiên đàng, thì
người ở đó; nếu tôi chìm xuống cõi đọa đầy, người cũng có mặt ở đó. Nếu tôi nói:
‘Chắc bóng tối sẽ che khuất thân tôi, và đêm đen sẽ là ánh sáng của tôi’ – vì
bóng tối tự nó không tối, và đêm cũng sáng như ngày; bóng tối và ánh sáng cũng
giống nhau” (Ps 139; cf Ps 23). Chúa Kitô đã xuống “Địa ngục” và do đó cũng gần
gũi với những gì xảy ra nơi địa ngục, Người đã biến đổi bóng tối thành ánh sáng.
Sự đau khổ và dầy vò vẫn khủng khiếp và tự nhiên không chịu đựng được. Tuy nhiên
ánh sáng của vì sao hy vọng đã mọc lên - chiếc neo của tâm hồn đã chạm đúng ngai
Thiên Chúa. Thay vì sự dữ được thả lỏng trong con người, ánh sáng đã chiếu rọi
một cách vinh quang: sự đau khổ – không ngừng là đau khổ - bất chấp mọi sự, đã
trở nên một bài ca tán tụng ngợi khen”
Thánh Lê Bảo Tịnh là
một linh mục, nên thư của Ngài viết từ trong tù pha lẫn thư của Thánh Phaolô và
Thánh Vịnh. Đức đương kim Giáo Hoàng đã trích dẫn rất dài thư của Thánh Lê Bảo
Tịnh và kết thúc đoạn 37 bằng ý tưởng của Thánh Tử Đạo Việt Nam. Tác giả của
Thông Điệp “Spe Salvi” là một học giả uyên bác. Nói tới đâu Ngài dẫn chứng tới
đó. Lối hành văn tuy trong sáng nhưng uyển chuyển, hoa mỹ, ngôn từ súc tích,
khiến người dịch đổ mồ hôi hột. Tôi mới chỉ dịch hai đoạn mà đã sợ rồi. Nhưng
điều tôi sợ hơn hết là liệu con cháu Việt Nam có bám được tí gót chân nào của
hai vị tiền nhân được trang trọng tôn vinh trong Thông Điệp để làm gương cho
toàn thể thiên hạ? Chẳng lẽ hổ phụ lại sinh khuyển tử? Một điều khác cũng đáng
cho chúng ta suy ngẫm: Chỉ trong đau thương mới nảy sinh những vĩ nhân, những vĩ
nhân cứu đời và nêu gương sáng cho đời, giống như trong bóng đêm mới xuất hiện
những vì sao. Có ai đi ca tụng những người mũ cao áo dài, võng tiá lọng vàng,
mới đi Đồ Sơn nghỉ mát do Mặt Trận Tổ Quốc chiêu đãi, vừa về dến nhà đã kêu mệt?
PHONG CÁCH CỦA HÀNG
GIÁM MỤC CANADA
Tôi không dám mở
miệng là khen Canada, sợ bị mang tiếng “mèo khen mèo dài đuôi”. Nhưng đôi khi
thấy có gì hay và lạ ở quê hương thứ hai của tôi, tôi cũng phải nói lên. Không
nói là bất công. Một việc mới xảy ra vào tháng 11 vừa qua đã khiến nhiều người
xúc động và nhiều thầy tu phải suy gẫm. Đức Hồng Y Marc Ouellet, tổng giám mục
Québec, đã chính thức xin lỗi về những lỗi lầm mà người Công Giáo và những chức
sắc của Giáo Hội đã phạm từ trước năm 1960 tại Québec. Đức Hồng Y đã “xưng tội”
một cách công khai về việc bao che các vụ xâm phạm tình dục và về thái độ đồng
tình với việc kỳ thị, chống người Do Thái, thờ ơ với quyền lợi của dân bản thổ,
phân biệt đối xử với phụ nữ và những người đồng tính luyến ái. Ngài cũng nói
thẳng là “nhiều người trẻ đã là đối tượng
tấn công tình dục của một số linh mục”. Về vụ này, giáo hội Canada cũng đã
tốn nhiều trăm tiệu đô la bồi thường, nhưng vẫn còn thua xa Mỹ, vì ở Mỹ cái gì
cũng vĩ đại hơn. Trong lá thư ngỏ, Đức Hồng Y Marc Ouellet nhìn nhận những lạm
dụng quyền lực đã làm xấu đi hình ảnh của Giáo Hội và ngài đã viết:
“Xin tha thứ cho chúng tôi về việc đã gây
ra những đau đớn này”. Có điều hơi thắc mắc là Đức Hồng Y chỉ xin lỗi về
những gì xảy ra trước năm 1960. Chẳng lẽ sau năm này, mọi sự đều hoàn hảo, không
có chức sắc nào phạm tội nữa, nhất là dưới triều đại cai quản của ngài? Hội Đồng
Giám Mục Canada cũng không lên tiếng ủng hộ việc xưng tội và cáo mình của Đức
Hồng Y Marc Ouellet. Phát ngôn viên của Hội Đồng là Sylvain Salvas nói rằng các
giám mục được tự do muốn nói điều gì thì nói trong giáo phận của các ngài.
Đúng là các ngài
được tự do, nhưng là tự do nói, không phải tự do ngậm miệng. Chẳng hạn Đức Giám
Mục Frederick Henry của giáo phận Calgary tôi, ngài nổi tiếng là “to mồm”, thấy
việc bất bình là chẳng tha, quan lớn quan bé nếu nói bậy làm bậy đều bị ngài
phang hết. Vậy mà lần này khi thấy nhiều nơi, kể cả một số giáo phận tại Canada,
ồn ào phản đối phim “The Golden Compass”
vì cho rằng phim có nội dung chống Thiên Chúa Giáo, làm say mê để đầu độc những
người trẻ, ngài Giám Mục của tôi vẫn tỉnh bơ, lại còn tuyên bố rất hách:
“Chúng ta hãy lờ nó đi. Có người muốn tôi
tạo cho họ một diễn đàn và một lớp thính giả để tranh luận. Tổ chức phản đối là
rơi vào bẫy của họ, vì chỉ làm quảng cáo không công cho họ…Có nhiều vấn đề khác
cần giải quyết, thí dụ lo cho những người vô gia cư trong mùa đông này. Đâu có
thời giờ đi chống đối một cuốn phim khùng”.
Cuốn phim mà Đức Cha
Henry gọi là khùng được thực hiện với 150 triệu đô la vốn, nữ tài tử chính là
minh tinh nổi tiếng Nicole Kidman, vợ cũ của Tom Cruise, đã trở lại đạo Công
Giáo. Phim được tung ra thị trường vào mùa Giáng Sinh 2007. Truyện phim dựa vào
một cuốn tiểu thuyết của tác giả Philip Pullman, viết năm 1995, và là một phần
của bộ truyện His Dark Materials.
Phim The Golden Compass kể chuyện cô
bé Lyra 12 tuổi cố gắng cứu một người bạn khỏi tay bọn bắt cóc trong một thế
giới mà linh hồn con người hiện thân bằng những con vật, nơi đó những con gấu
biết nói tham gia chiến trận và những phù thủy hiện diện đầy dẫy. Lyra được diễn
tả như một “E-và của thời đại mới”. Tác giả đã tạo nên một thứ Sáng Thế Ký mới
để mê hoặc khán giả trẻ, tương tự như bộ sách và phim Harry Potter.
Tại Hoa Kỳ, một tổ
chức có tên Liên Đoàn Công Giáo (Catholic League, không phải Liên Đoàn CGVN đâu)
đã khuyên các phụ huynh tẩy chay cuốn phim này. Họ cho rằng cuốn phim nhắm vào
những người trẻ để quảng cáo và cổ võ cho thuyết vô thần. Tại Canada, ít nhất đã
có 3 học khu Công Giáo quyết định rút cuốn sách mà phim
The Golden Compass lấy cốt truyện ra
khỏi các thư viện thuộc học khu. Học khu Công Giáo Calgary cũng vừa quyết định
rút cuốn sách này khỏi thư viện các trường Công Giáo và còn hứa từ nay sẽ không
mua và bầy bất cứ cuốn sách nào có nội dung giả tưởng kỳ dị về đời sau, về linh
hồn con người. Đức Giám Mục Henry không phản đối, không công kích gì hết vì
không muốn làm to chuyện, nhưng tuyên bố sẵn sàng đích thân trả lời và giải
thích cho các phụ huynh, nếu hỏi ngài bằng điện thoại hay email, về những điều
vô lý và tai hại của nội dung cuốn phim. Phải nói là các giám mục Canada có tinh
thần cởi mở, rất “liberal”, nhưng cũng đầy tinh thần trách nhiệm.
GIÒNG DÕI BÀ TRƯNG,
TRIỆU TRONG QUỐC HỘI CANADA
Dân Việt tại Canada
chúng tôi có đọc tin một phụ nữ gốc Việt, Ève-Mary Thái Thị Lạc, mới được bầu
vào Quốc Hội Liên Bang Canada trong một cuộc bầu cử bổ túc tại tỉnh bang Québec,
nhưng chưa ai thấy dung nhan của nữ dân biểu này. Bà không phải dân tỵ nạn,
không sinh hoạt với cộng đồng Việt Nam, chỉ sinh sống với dân da trắng. Khi sửa
soạn cho cuộc điều trần tại Quốc Hội Canada ngày 24-10-2007, chúng tôi có nhấn
mạnh với ban tổ chức là đừng quên gửi giấy mời cho Dân Biểu Thái Thị Lạc. Mấy
ngày trước khi cuộc điều trần diễn ra, văn phòng Dân Biểu Rob Anders gửi cho
chúng tôi danh sách các dân biểu và nghị sĩ đã nhận lời tham dự cuộc điều trần.
Chúng tôi vui mừng khi thấy trong danh sách có tên Dân Biểu họ Thái.
Khi cuộc điều trần
bắt đầu, chúng tôi cứ căng mắt tìm một hình bóng phụ nữ Việt Nam trong hàng ngũ
dân cử Canada, nhưng không thấy. Đến mục mọi người trong phòng họp lần lượt tự
giới thiệu mình, chúng tôi thấy một phụ nữ còn trẻ có nước da ngăm ngăm đen, vẻ
mặt hơi lai, tự giới thiệu là Ève-Mary Thị Lạc. Bà ngồi ngay bên cạnh anh Phan
Khánh Phương và cách tôi có hai người. Sở dĩ anh Phương không nói chuyện với bà
vì bà không nói tiếng Anh, chỉ nói tiếng Pháp. Sau buổi điều trần, mọi người
trong phái đoàn Việt Nam đã đến gặp bà, tay bắt mặt mừng, đúng cảnh
“tha hương ngộ cố tri”, nhưng đồng
hương phải nói chuyện với nhau bằng tiếng Tây. Chúng tôi mời bà dự bữa cơm tối
do phái đoàn khoản đãi một số dân biểu tại một tiệm ăn Việt Nam ở Ottawa.
Dân Biểu Thái Thị
Lạc xin phép đưa ông chồng da trắng đi dự bữa cơm tối với bà. Chúng tôi phải cử
một nhóm gồm Bs H., cháu Phương Anh và tôi ngồi bao quanh hai vợ chồng này để
tiếp chuyện bằng ngôn ngữ của họ. Qua cuộc đàm đạo, chúng tôi được biết bà là
người Việt lai Chàm, sinh tại Qui Nhơn. Vì vậy nước da bà ngăm đen và nét mặt
hơi khác phụ nữ Việt Nam. Năm 1973, khi mới 2 tuổi, bà được một cặp Canada xin
làm con nuôi và đưa về Canada. Như vậy, năm nay dân biểu này mới 34 tuổi, bằng
tuổi con gái út của tôi. Cha mẹ nuôi có nông trại nên bà từng lái tracteur và
máy cầy đi làm ruộng. Nhưng nhờ cha mẹ nuôi cho học hành đàng hoàng, sau này bà
làm phụ tá cho một dân biểu liên bang thuộc đơn vị Saint-Hyacinthe, cách thành
phố Montréal khoảng 50 cây số. Khi ông này về hưu, Thái Thị Lạc quyết định ứng
cử vào ghế dân biểu ông bỏ trống. Dĩ nhiên, khi có miếng mồi ngon là có nhiều
người tranh. Dư luận lúc đầu cho rằng ứng cử viên Thái Thị Lạc sẽ thất cử. Không
ngờ ngựa về ngược, bà đã đắc cử vẻ vang, loại các đối thủ da trắng. Dân biểu
Thái Thị Lạc đầu quân theo đảng Bloc Québecois, một đảng chủ trương tách tỉnh
bang Québec khỏi Canada. Đảng này rất mạnh tại đơn vị bầu cử của bà. DB Thái Thị
Lạc nói với chúng tôi rằng bà theo đảng này là chỉ muốn sự khác biệt của Québec
được công khai nhìn nhận trong Liên Bang Canada, không chủ trương chia rẽ.
DB Thái Thị Lạc cho
biết cách đây mấy năm, hai vợ chồng bà có đi thăm Việt Nam, đặc biệt thăm sinh
quán Qui Nhơn của bà. Bà nói không hiểu sao bà thích ăn nước mắm và muối biển ở
Việt Nam. Bà thấy không có muối ở đâu ngon bằng muối ở Việt Nam. Ông chồng cười
giải thích rằng dù em rời Việt Nam lúc mới 2 tuổi, nhưng chất muối biển VN đã
thấm vào máu thịt em rồi. Khi bà biết tên đầy đủ của Phạm Ngọc Phương Anh, bà
nói khôi hài: “Thế là chị hên hơn tôi, vì
tên của chị không có chữ THỊ”. Điều này cho thấy không phải người phụ nữ này
không biết gì về truyền thống và văn hóa Việt Nam. Tôi cột thêm cho bà một sợi
dây nữa vào Việt Nam bằng cách cho bà biết họ Thái của bà là một giòng họ lớn ở
Huế, có nhiều người nổi tiếng, như học giả Thái Văn Kiểm, đã có thời cùng phục
vụ trong ngành ngoại giao với tôi.
Sau bữa cơm tối,
chúng tôi mời vợ chồng bà và Dân Biểu Rob Anders đến thăm Trung Tâm Việt Nam tại
đường Rochester, Ottawa. Tại đây, bà đã chụp hình chung với chúng tôi trước bàn
thờ Tổ Việt Nam và lá cờ vàng ba sọc đỏ. Anh em nói với bà nửa đùa nửa thật là
bà đã bị “đóng dấu” rồi, không thể chạy sang hàng ngũ khác được nữa. Bà tỏ ý
sung sướng được bắt liên lạc với cộng đồng người Việt ở Canada và mong muốn sự
liên hệ càng ngày càng chặt chẽ. Chúng tôi đã phân công cho một số anh chị em
giữ liên lạc thường xuyên với bà. Cách đây mấy bữa, anh Bs H. gửi cho chúng tôi
một “message” với nội dung “xin
phép” anh em cho anh được gia nhập đảng Bloc Québecois để anh vận động đảng này,
và để … dễ “săn sóc” nữ dân biểu liên bang giòng dõi Bà Trưng, Bà Triệu đầu tiên
tại Canada. Anh cho biết anh chị em ở miền Đông Canada sẽ có một chương trình
hành động rất ngoạn mục vào dịp Tết Nguyên Đán sắp tới tại Montréal.
“Vas-y, mon
cher frère! Go ahead, dear
brother!”.