“SPE SALVI – HI VỌNG KI-TÔ GIÁO”
Lời Tòa Soạn:
Số báo Diễn Đàn phát hành Mùa Xuân năm nay, chúng tôi không đưa Sớ Táo Quân,
những công trình nghiên cứu về những nét đặc thù của năm Mậu Tý, của chú chuột
cầm tinh trong năm, những áng thơ văn ca ngợi cảnh xuân tươi vui, đằm thắm lên
đầu sau những lá thư thông lệ. Chúng tôi quyết định chọn những suy tư của Phạm
Hồng Lam khi anh đọc “Spe Salvi –Hi Vọng Kitô Giáo”, Thông Điệp thứ hai của
đương kim Giáo Hoàng Biển Đức, để khời đầu cho số báo Xuân Mậu Tý (2008).
Phạm Hồng Lam là cộng tác viên thường xuyên của nguyệt san DĐGD. Anh định cư ở
Đức nên rất am tường văn hóa, ngôn ngữ quốc gia này. Vì thế, cũng như khi dịch
tác phẩm Muối Cho Đời của Hồng Y Ratzinger tức đường kim giáo chủ Bênêđictô
trước đây, anh là người đã chuyển ngữ Thông Điệp Spe Salvi của ngài trực tiếp từ
tiếng Đức sang tiếng Việt rất sớm với hy vọng dấy lên một cao trào đọc và nghiên
cứu sâu xa văn kiện giá trị này trong giới trí thức CGVN ở hải ngoại.
Tự thân Thông Điệp “Spe Salvi” đã cho thấy sự thất bại thảm thương của những
“đỉnh cao trí tuệ loài người” khi quá tin vào khả năng tưởng chừng vô địch của
trí tuệ và khoa học kỹ thuật, đồng thời mở ra cho con người bước vào cánh của
của Hy Vọng ở cõi đời này cũng như Hy Vọng về một Mùa-Xuân-Vĩnh Cửu mai sau.
Nhưng ở cương vị người đọc Thông Điệp, xuyên qua những suy tư trầm lắng của một
người Việt Nam có niềm tin Ki-tô giáo, Phạm Hồng Lam đã khơi gợi trong cõi riêng
tư của người đọc anh những cảm nghiệm thiết thực, rất NGƯỜI –cách riêng, người
Việt Nam Công Giáo- khi ngó sâu vào thân phận của chính mình cũng như khi nhìn
về một Giáo Hội, một Quê Hương nghìn trùng xa cách. Xa cách không chỉ vì không
gian mà chinh vì lòng người đã tự đánh mất chính mình để rơi vào đáy thẳm không
cùng của những đam mê vật chất, những tính toán riêng tư dẫn tới những hoài
nghi, đố kỵ, hận thù, không giới hạn nơi những thế lực biểu tượng cho vô vọng,
cho bóng tối, mà bao gồm cả những thành trì tự nhận là ngay chính, đạo đức nhưng
đã rời xa bản chất của ĐẠO, rời xa cái uyên nguyên làm nên Niềm Tin và Hy Vọng
của con người.
Ở một đoạn trong bài đọc, tác giả gợi ý các tổ chức, các cộng đồng người Việt
hải ngoại nên có một cử chỉ biết ơn vị giáo chủ vì khi viết Thông Điệp hẳn rằng
ngài đã thương cảm nhiều cho cảnh ngộ khó khăn nghiệt ngã mà đất nước, dân tộc
ta phải gánh chịu xưa nay nên đã đưa danh tính hai nhân vật VN là Thánh Tử Đạo
Lê Bảo Tịnh (triều đại nhà Nguyễn) và HY Nguyễn Văn Thuận (thời đại chúng ta)
vào những suy tư của ngài. Hy vọng nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân sẽ là một trong
những tập thể mạnh dạn đứng ra làm công việc ấy.
Trong khi chuẩn bị đón mừng năm Mậu Tý, mời độc giả cùng chúng tôi đọc Thông
Điệp Spe Salva với Phạm Hồng Lam trong niềm Hy Vọng dạt dào về một Mùa Xuân Mới
đang đến với chúng ta.
Năm trước, khi giới thiệu Thông điệp đầu tiên của mình (Deus
Caritas est - Thiên Chúa là Tình yêu), giáo chủ Biển-đức XVI đã mời độc giả
bước lên con tàu không gian, mà thi sĩ Dante (1265-1321) người Í đã mô tả trong
tập trường thi Divina Comedia của
ông, để cùng làm một chuyến du hành vũ trụ. Đi mãi, đi mãi, xuyên hết mọi hành
tinh, cuối cùng con người sẽ gặp một “Nguồn Sáng bất tận, vô biên”. Nguồn sáng
đó, người Ai-cập xưa có lúc gọi là thần Mặt Trời, người Hi-lạp bảo là Lửa. Mà dù
với tên gọi nào đi nữa, thì Nguồn Sáng đó là “nguyên lí nền tảng” làm chuyển
động và tạo nên sự sống cho vũ trụ. Và Dante gọi Nguồn Sáng đó là Thiên Chúa.
Hơn một ngàn năm trước đó, tác giả Tin Mừng Gio-an lại gọi đó là Tình Yêu: “Thiên
Chúa là Tình Yêu” (1 Yo 4, 16). Ki-tô hữu từ hai ngàn năm nay xác tín rằng,
Tình yêu Thiên Chúa chính là khởi nguồn của vũ trụ và sự sống.
Hôm nay, để giới thiệu Tông thư thứ hai “Spe
Salvi - Hi vọng ki-tô giáo” của Giáo chủ, tôi cũng muốn mời độc giả làm một
cuộc viễn hành khác, bằng chuyến xe lửa kinh dị của nhà văn Friedrich
Dürrenmatt. Dürrenmatt kể trong chuyện “Der
Tunnel - Đường hầm”: Đoàn tàu đi vào một đường hầm. Hành khách trên tàu cứ
tưởng đó cũng là một đường hầm như bao đường hầm khác. Có vào thì có ra. Nhưng
chuyến vượt hầm cứ kéo dài mãi. Tốc độ con tàu càng lúc càng tăng. Hành khách
bắt đầu đâm lo, rồi hoảng. Cuối cùng, một hành khách lấy được bình tĩnh, men lần
tới phía đầu phòng lái. Phòng lái trống không! Và qua màn kính, người đó thấy
con tàu cứ lao vun vút vào một vực thẳm tối đen, hun hút, kinh hoàng… Chuyện
chấm dứt. Dĩ nhiên, Dürrenmatt muốn dùng câu chuyện để nói lên hoàn cảnh “không
người lái” của thế giới trong thời hiện đại, đặc biệt kể từ khi Friedrich
Nietzsche hân hoan loan báo đã giết Thiên Chúa.
Nhưng, ta hãy trở lại chuyện con tàu. Hoạt cảnh sau đây là của người viết bài
này. Khi hay biết cơ sự, trên tàu hoảng loạn, diễn ra cảnh thiên đàng lẫn địa
ngục. Có vài hành khách trai trẻ, đầu chít vội mảnh khăn xanh, quấn bom vào mình
lao vào những nhóm hành khách khác, nổ tung. Họ cho rằng vì tội lỗi của những
đám vô đạo kia nên mới ra cơ sự. Phải giết chúng để mình được cứu rỗi. Ở những
toa khác, trong cơn nguy khốn chờ chết, người ta mỗi người rút vào một góc,
trong số đó có cả những tên cướp đã vứt đao, tịnh tâm mong kịp thời còn cởi bỏ
được mọi ham muốn phàm trần, để nhẹ gánh vào kiếp luân hồi. Chẳng mấy ai trong
họ tin có thể đạt tới tâm vô, nhưng viễn ảnh vào một tình trạng bớt khổ hơn ở
kiếp khác cũng làm họ an tâm đôi chút trong giờ phút lâm tử. Trong khi đó, một
số tay chuyên nghề trấn lột chạy đôn đáo hết toa này sang toa kia tìm khổ chủ để
xin lỗi và trả lại những gì đã bị cướp giựt, vì biết rằng trước sau gì cũng phải
trả lẽ công lí trước toà án sau cùng. Một số hành khách mắt xanh mũi cao thì lại
hốt hoảng chạy tìm giải thoát nơi các tín ngưỡng của các dân tộc sơ khai, vì họ
đổ cho rằng, Thiên Chúa giáo với những giáo huấn về tội, thiên đàng, hoả ngục,
ngày phán xét… đã cướp mất cái hồn nhiên ban đầu của con người và khiến họ lo sợ
trước cái chết. Và họ cũng đã thấy trong một đôi toa người ta đang hoảng hốt cắt
cổ mổ bụng những thiếu niên nam nữ xinh đẹp nhất để làm tế vật xoa dịu cơn thịnh
nộ của thần chết. Và, đó đây trong một vài toa, vẳng lên trong không khí ngột
ngạt tiếng ca: “Dầu tôi đi qua thung lũng
tối đầy hiểm nguy, tôi vẫn không sợ gì, vì có Chúa ở bên tôi… Cây trượng và cây
gậy Chúa đỡ tôi, khiến tôi an lòng…” Người ta thấy những nhóm hành khách,
không đông, quây quần bên nhau vui vẻ ca hát và cầu chúc nhau ra đi bình an. Như
chẳng có chuyện gì đang xẩy ra.
Chẳng nói, độc giả cũng thấy có hai hình ảnh trong hoạt cảnh trên nói lên ít
nhiều thái độ và hành động của ki-tô hữu. Thái độ bình thản ca hát, vì tin tưởng
và hi vọng vào sự quan phòng của Chúa. Thái độ hồi tâm quy chánh, vì nghĩ tới
công lí và hồng ân của ngày phán xét. Tắt lại, vì có Chúa, nên ki-tô hữu sống
“không vô vọng như những người khác.” Vì tin và hi vọng vào Chúa, nên ki-tô hữu
không hốt hoảng, trái lại bình tâm vui vẻ đón chờ cái chết. Họ biết, họ đã sống
một cuộc đời có í nghĩa, nên nắm chắc cuộc sống của họ sẽ không kết thúc trong
hư vô. Họ tin rằng, nếu thật tình sống theo lời Chúa, cuối cùng thì họ cũng được
đưa vào Nguồn Sáng bất diệt trên kia, và được ở lại vĩnh viễn (sống đời đời)
trong Tình Yêu sự sống đó.
Nếu chỉ muốn tóm tắt Tông thư của Giáo chủ, thì chúng ta có thể kết thúc ở đây.
Vì tất cả chỉ có thế. Giáo chủ Biển-đức chỉ muốn nói lên điều này: Con người
sống giữa đời cần có hi vọng, từ những hi vọng cỏn con thường ngày đến những hi
vọng lớn hơn trong nghề nghiệp, tình yêu, gia đình… Hi vọng là những chiếc
thuyền chở tôi băng qua đồi núi, thác ghềnh cuộc đời. Hay nói như giáo chủ
Biển-đức, hi vọng là cái “ẩn số không biết mà biết” đẩy ta đi tới. Mỗi hi vọng
đáp ứng một nhu cầu cá biệt. Nhưng có một hi vọng chung nhất, rốt ráo nhất, hầu
như ai cũng đặt ra cho mình, khi đối diện với cuộc sinh tử: Làm sao để đời tôi
được viên mãn hạnh phúc? Hay nói theo ngôn ngữ ki-tô giáo, làm sao tôi đạt được
“sự sống đời đời”, đạt tới “cứu độ”? Chỉ có Thiên Chúa, kì cùng ra, mới giúp tôi
đạt đến được hi vọng đó, chứ chẳng phải là khoa học, hay lí trí hay cái gọi là
“xã hội chủ nghĩa khoa học”, mà con người một thời tin theo và đã thất vọng.
Lược qua vài điểm nội dung Tông thư
Nhưng, như đầu bài gợi í, tôi muốn mời độc giả cùng đọc Tông thư, để cùng tìm
hiểu và nhắc nhở nhau về cái kho tàng nền tảng thứ hai (sau Deus caritas est)
cuả Ki-tô giáo, mà giáo chủ Biển-đức đã mở ra cho chúng ta trong dịp mùa vọng –
mùa của hi vọng – vừa qua.
Trong một buổi chuyện trò, một trí thức xã hội chủ nghĩa đã lớn tuổi hỏi tôi:
Thưa anh, Kinh Thánh Thiên Chúa giáo viết gì trong đó, anh có thể tóm tắt cho
tôi hiểu được không? Thật tình vị này muốn tìm hiểu đạo. Tôi lúc đó đã không
biết phải trả lời như thế nào, phải bắt đầu từ đâu với một cuốn sách cả ngàn
trang, bàn hết chuyện trên trời dưới đất, kéo dài cả nhiều ngàn năm. Làm sao có
thể tóm gọn được nội dung!
Nhưng sau khi đọc được Spe Salvi, tôi
thấy câu trả lời chẳng còn khó khăn. Toàn bộ Kinh Thánh, nói theo giáo chủ
Biển-đức, được tóm lại trong chữ Tin. Tâm điểm của vấn đề là Tin. Mà Tin, theo
như Kinh Thánh hiểu và Giáo hội sơ khai minh chứng, cũng đồng nghĩa với Hi vọng.
“Tin là bản chất (nền tảng/ bảo chứng)
của điều ta hi vọng, là bằng chứng của những gì ta không trông thấy” (Rom
11,1). Tiếng Đức có hai từ để dịch chữ la-tinh “Fides” (đức tin): Glauben (tin)
và Vertrauen (phó thác, cậy trông). Tin là Hi vọng. Đức tin mở ra cánh cửa Hi
vọng. Và Hi vọng dẫn ta tới hành động, làm đổi đời ta. “Để
mở rộng kiến thức, cần khoa học tự nhiên, nhưng để hành động, phải cần đức tin”,
Max Planck (…) nhà vật lí cha đẻ thuyết lượng tử (Quantentheorie) nổi tiếng của
Đức đã khẳng định như thế. Hi vọng mở ra một tương lai cho ta vươn tới. Vì thế,
cuộc đời của người theo Chúa có hậu, chứ không vô vọng “như
những người khác vì không có Chúa…” Nhờ gặp Chúa, tin vào Chúa, mà ki-tô hữu
có một cuộc sống khác, đời họ đổi khác.
Trải dài trong lịch sử ki-tô giáo có vô số bằng chứng nói lên điều đó. Không cứ
gì ở Rô-ma cổ, mà cả ở Kẻ Chợ, đâu đâu dân ngoại cũng trầm trồ ngỡ ngàng về
“những kẻ theo đạo yêu thương”. Đạo gì mà quả lạ, chưa gặp nhau mà họ đã yêu
nhau rồi! Nhìn vào những tấm gương mới hơn: một An-tịnh (Augustinus), một I-nhã
ở Loyola, một Phan-sinh ở Assisi, một Tê-rê-xa ở Calcutta… Trác táng hay hoang
phí đến đâu đi nữa, sau khi gặp Chúa, đời họ chuyển hướng. Hay như tấm gương
thánh Bakhita, mà giáo chủ Gio-an Phao-lô mới đưa lên bàn thánh, và đã được giáo
chủ Biển-đức nêu danh trong Tông thư. Bakhita là một cô gái nô lệ ở Sudan, bị
người ta năm lần bảy lượt mang ra chợ trời bán và đánh đập tàn nhẫn (với tổng
cộng 144 vết thẹo trên mình). Cuối cùng về làm nô lệ cho một công chức, và ông
này đã mang cô về Í để hầu hạ gia đình ông. Ở đây, cô đã gặp được ông Chủ lí
tưởng của cô, đó là “Paron” Giê-su, và từ đó đời cô biến đổi hoàn toàn. Thành
một nữ tu hết lòng phục vụ cộng đoàn và không ngừng đi khắp đây đó để loan báo
cho mọi người hay về cuộc đổi đời và về ông Chủ mới của mình.
Biến chuyển trong thời mới
Khi nhìn lại quá trình lịch sử trong mấy trăm năm gần đây, ta thấy đức tin / hi
vọng ki-tô giáo bị ảnh hưởng nặng nề bởi Thời mới (từ thế kỉ 16 trở đi). Đấy là
thời mở màn Tiến bộ khoa học với hai hậu cảnh lớn là Lí trí và Tự do. Thời mới
đã ảnh hưởng lên Hi vọng ki-tô giáo trên hai mặt. Nó làm thay đổi mục tiêu của
Hi vọng, và đẩy Đức tin vào vòng cá nhân.
- Thay đổi mục tiêu Hi vọng: Cho tới lúc này, người ta đặt hết hi vọng vào Thiên
Chúa qua đức Ki-tô. Ngài sẽ “cứu độ” họ, bằng cách giúp họ lấy lại được những gì
đã mất khi bị đuổi khỏi vườn địa đàng. Ngài sẽ mở cánh cửa hạnh phúc đời đời của
“Vương quốc Thiên Chúa”, để con người bước vào. Cuộc sống viên mãn là đó. Hạnh
phúc tràn đầy là đó. Ơn cứu độ là đó. Chính Chúa là Đấng sẽ trao cho họ chìa
khoá hạnh phúc, cuộc sống đời đời.
Nhưng tiến bộ không ngừng gia tăng của khoa học đã làm choá mắt con người. Tiến
bộ khoa học dựa trên nền tảng khám phá ra các quy luật thiên nhiên. Và với những
khám phá đó, con người nghĩ rằng mình đã lấy lại được địa vị bá chủ trên tạo vật
của mình, cái địa vị uyên nguyên mà họ đã có khi còn trong địa đàng. Như vậy,
thì tôi mới là chủ thật, chứ cần gì “cái giả thuyết Thiên Chúa” (Laplace)[1]
kia nữa. “Với sức người, sỏi đá cũng thành cơm” mà. Như thế, thì cần gì cái
“Vương quốc Thiên Chúa” xa xôi nào nữa. Hi vọng vào Chúa giờ đây chuyển sang hi
vọng vào Tiến bộ khoa học. Mà Tiến bộ khoa học cũng đồng nghĩa với khả năng bá
chủ của Lí trí. Và, tôn thờ Lí trí cũng có nghĩa là phải chống lại mọi trói buộc
của tôn giáo, song song với việc tuyên xưng Tự do vô biên cương của con người.
Con người giờ đây là tối cao. Nó tự đặt ra chân lí cho nó. Nó tự tạo công lí cho
nó. Nó sẽ tự cứu độ nó, chẳng cần phải ai giúp. Và lịch sử kinh hoàng của thế kỉ
20 với hai trận thế chiến, với các chủ nghĩa cộng sản và phát xít, độc tài cực
đoan cho thấy con tàu không người lái đã đưa nhân loại về đâu. Vì khi không còn
Thiên Chúa cầm lái nữa, thì chỉ còn luật kẻ mạnh, mọi người có quyền tự do làm
điều mình muốn. Hitler, Mussolini, Franco, Lenin, Stalin, Mao, Hồ, Polpot, cha
con Kim Nhật Thành, Adi Amin, Taylor … đã hành xử cái tự do chính đáng của họ.
- Cá nhân hoá đức tin: Đã có Vương quốc con người, không cần gì hi vọng cứu rỗi
nơi «Vương quốc Thiên Chúa » nữa. Thời mới và khoa học thật ra không (thể) triệt
tiêu Thiên Chúa. Nhưng trước sức ép vũ bão của chúng, Ki-tô giáo đành bảo nhau
mang Hi vọng rút vào sân sau cá nhân cố thủ. Vì vậy, càng ngày nó càng bị chỉ
trích mạnh mẽ. Người ta bảo rằng, Hi vọng ki-tô giáo là thứ thuần tuý cá nhân
chủ nghĩa, nó giúp con người chạy trốn khỏi thế giới đầy bất hạnh, để đi tìm cứu
rỗi cho riêng mình. Karl Marx đã điểm được yếu huyệt này, nên đã cổ vũ một cuộc
cứu độ tập thể. Ngọn cờ tập thể này đã mê hoặc bao nhiêu thế hệ trong thế kỉ 20,
đặc biệt nơi giới gọi là trí thức. Nhưng cứu độ của ông không bằng phương tiện
Tình yêu (như Ki-tô giáo chủ trương), mà bằng con đường chém giết, bằng những
cuộc cách mạng long trời lở đất. Nhân danh tập thể, ông coi con người cá nhân là
thứ rác rưởi, dùng làm nhiên liệu cho cỗ máy cách mạng. Và lịch sử đã cho thấy
chủ trương cứu rỗi tập thể và Vương quốc con người hoang tưởng do Marx và hậu
duệ của ông hô hào thiết lập đã đi về đâu.
Tóm lại, để giải quyết cái khủng hoảng không người lái hiện tại của thế giới,
theo giáo chủ Biển-đức, một đàng Thời mới phải tự kiểm điểm, bằng qua đối thoại
với Ki-tô giáo và bằng cách tìm hiểu khái niệm Hi vọng của nó; đàng khác Ki-tô
giáo cũng phải tự xét lại mình. Ki-tô giáo phải tự hỏi, đâu là nội dung Hi vọng
thực sự của mình, và Hi vọng đó có thể và không có thể mang lại ơn ích gì cho
thế giới? Còn Thời mới sẽ phải tự hỏi, đâu là thực chất của Tiến bộ, nó hứa hẹn
gì và không hứa hẹn gì? Bởi vì, nếu Tiến bộ kĩ thuật không đi đôi với sự tăng
trưởng đạo đức, thì nó sẽ chẳng phải là tiến bộ, mà là mối đe doạ cho nhân loại
và thế giới, như ta đã và đang thấy. Thời mới cũng phải hỏi, đâu là biên giới
của Lí trí và Tự do:
« Phải chăng thứ lí trí giúp mở rộng khả năng thể chất của ta và giúp ta hành
động đã là toàn bộ lí trí? Nếu tiến bộ đòi hỏi sự gia tăng đạo đức của nhân loại,
thì loại tiến bộ về khả năng và hành động cũng nhất thiết phải được bổ túc, bằng
cách nó phải mở ra cho lực cứu độ của đức tin và cho sự phân biệt tốt xấu. Chỉ
có như thế, nó mới là lí trí con người đích thực. Để được gọi là lí trí con
người, lí trí đó phải có khả năng hướng đạo cho í muốn; và để làm được điều này,
lí trí đó dứt khoát phải vượt lên trên chính nó. Nếu không, thì với tình trạng
mất thăng bằng giữa một bên là khả năng thể chất và bên kia là thiếu phán đoán
của con tim, con người sẽ trở thành mối đe doạ cho chính mình và cho tạo vật. Về
“tự do” cũng vậy. Ta phải nhớ rằng, tự do con người luôn đòi hỏi một sự song
hành của nhiều tự do. [Tự do cũng có nghĩa là tự do làm điều xấu] Nhưng, không
thể có được sự song hành này, nếu như các tự do đó không được chỉ đạo bằng một
khuôn thước nội tâm chung, và khuôn thước này là nền tảng và là mục tiêu tự do
của chúng ta. » (23)
Môi trường học hỏi và đào luyện Hi vọng.
Tông thư gồn 50 đoạn, nội dung tương đối ngắn, 27 trang A4, nhưng trọng lượng
khá nặng, vì sự súc tích và chiều sâu kiến thức của nó. 31 đoạn đầu bàn về lí
thuyết, mà chúng ta đã lược qua một vài điểm trọng yếu trên đây. Đoạn 32 tới 48
trình bày phần thực hành Hi vọng. Hai đoạn cuối là một bài ca tuyệt đẹp về Mẹ
Maria như là mẫu gương Hi vọng.
Về môi trường học tập và thực hành Hi vọng, Giáo chủ kể ra ba : Cầu nguyện, Hành
động và khổ đau, Cuộc phán xét.
Cầu nguyện là môi trường căn bản đầu tiên để luyện tập và thực hành đức tin. Đó
là nhựa sống từ lòng đất thân cây hút vào để nuôi sống mình. Trong mục này, Giáo
chủ nhắc tới gương cầu nguyện của cố hồng i Nguyễn Văn Thuận. Trải qua 13 năm tù,
trong đó 9 năm biệt giam, cầu nguyện đã trở thành nguồn Hi vọng sống sót của
ngài, mà ngài đã gọi đó là « Đường Hi Vọng ». Trong cầu nguyện, ta không còn cô
đơn. Nỗi cô đơn của ta (Solatio), đã có một kẻ khác cùng hiện diện trong đó và
được chia sẻ (Cum / Con): Con-solatio. Con đường hi vọng đó giúp tôi vươn tới,
vượt lên trên cả những o ép và đày đoạ của quyền lực chính trị. Nó giúp tôi chấp
nhận và vượt thắng khổ đau, vì tôi hiểu rằng đau khổ đó làm cho đời tôi có í
nghĩa. Về điểm này, Giáo chủ lại nhắc tới gương một người Việt khác, đó là thánh
tử đạo Lê Bảo Tịnh (+1857). Trong lao tù, giữa cô đơn, đày đoạ, cực hình, và
hàng ngày phải chứng kiến bao cảnh phạm thượng, nhờ sức mạnh hi vọng từ đức tin,
thánh nhân đã chuyển hoá đau khổ thành ra những bài ca hi vọng bất tận: Lượng từ
bi Chúa tồn tại tới muôn đời! «Giữa cơn
phong ba bão táp, tôi thả neo lên tận ngai Chúa; chính Ngài là niềm hi vọng sống
mãi trong lòng tôi », thánh Tịnh đã kết thúc chứng từ của mình với niềm tác
tín đó.
Trong kho tàng Hi vọng của Giáo hội, thiếu gì và có biết bao tấm gương còn lớn
hơn. Nhưng giáo chủ Biển-đức đã đưa ra những tấm gương từ hai miền đất thế giới
hiện đang phải trải qua hoàn cảnh nghiệt ngã. Sudan, từ nhiều năm nay, là vùng
đất của bạo lực và máu, của những tiếng gào thất thanh của hàng triệu người dân
tị nạn vô tội. Hồ sơ Nguyễn Văn Lý và con đường thánh giá của cố hồng i Thuận
cũng như của Giáo hội Việt-nam cũng chẳng xa lạ gì đối với giáo chủ Biển-đức. Ở
đây, tôi không có í « chính trị hoá » lá thư mục vụ của ngài. Nhưng việc ngài
nêu tên hai địa danh đó lúc này không phải là không có nghĩa. Ngài muốn chia sẻ
khổ đau đặc biệt với hai dân tộc qua lời nguyện hi vọng, và hơn thế, đó cũng là
lời động viên gởi đến đồng đạo của ngài.
Tôi nghĩ, các cộng đoàn, tổ chức công giáo người Việt nên viết cho ngài đôi lời
cám ơn về niềm ưu ái đó. Đấy là hành động biết ơn cụ thể. Đừng để lá thư tâm
huyết hữu ích của ngài chìm đi như không có gì cả. Hồng i Karl Lehmann, chủ
tịch Hội đồng giám mục Đức, hôm họp báo giới thiệu Tông thư, đã thay mặt Giáo
hội Đức cám ơn giáo chủ Biển-đức đã cho họ một bài văn đẹp, một tài liệu hữu ích
cho việc sống mùa Vọng.
Trở lại với Hi vọng và đau khổ. Cầu nguyện và Hi vọng là sự có xát tẩy sạch con
người tôi, để tôi có thể mở lòng ra cho Chúa và tha nhân. Hi vọng chở tôi băng
qua mọi thác ghềng cuộc đời, vì tôi biết rằng đàng kia có người đang yêu tôi,
đang sẵn sàng đồng hành với tôi trên con đường lữ thứ và đang đón chờ tôi nơi
điểm hẹn. Và như thế, Hi vọng đẩy tôi dấn thân hành động, góp phần đổi mới thế
giới, góp tay vào việc làm giảm bớt khổ đau cho thế giới, nhất là cho những
người vô tội.
Cuối cùng, toà phán xét cũng là cơ hội để ta Hi vọng. Thiên Chúa không chỉ là
Tình yêu, mà Ngài còn là Công lí. Và toà phán xét là nơi công lí của Ngài sẽ thể
hiện. Vì rằng, nếu chỉ là Tình yêu hay Hồng ân mà thôi, thì tôi lo gì với điều
đánh cuộc của Pascal
[2], và như thế Chúa sẽ mắc ta món nợ công lí.
Tôi cứ mặc sức ăn chơi, tự do làm điều xấu, vì cuối cùng rồi thì lượng hồng ân
bao la của Chúa cũng sẽ thứ tha, xoá sạch tội của tôi. Nhưng Thiên Chúa không
chỉ là hồng ân. Và hồng ân của Ngài không biến sự ác thành công lí. Kẻ bất lương
không thể cuối cùng ngồi chung bàn tiệc với nạn nhân của nó. Nhưng nơi toà án
của Chúa có cả hồng ân lẫn công lí, và hồng ân đó luôn đủ lớn để ta bất cứ giờ
phút lịch sử nào của đời mình cũng có thể trở về cậy trông và hi vọng vào nó.
Tôi không có kết luận cho bài này, vì không đủ khả năng để nhận định hay phê
bình. Mà chỉ muốn mở ra đôi điều về cuộc hành trình tư tưởng của giáo chủ
Biển-đức XVI. Chúng ta đang ở trong một thời đại khủng hoảng Hi vọng (Đức tin).
Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ Thời mới ở Âu châu, với sự Tiến bộ của khoa
học và với việc đề cao tuyệt đối Lí trí. Và khủng hoảng ki-tô giáo cũng là khủng
hoảng của văn hoá văn minh âu châu. Mục tiêu của Biển-đức là làm sao để thế giới
thoát ra cơn khủng hoảng này. Ngài đưa ra hai phương thuốc :
Thời mới phải đặt lại vấn đề niềm tin mù quáng vào Tiến bộ khoa học và vào Lí
trí của mình. Lịch sử thế giới, được xây trên niềm tin đó, hơn một trăm năm qua
với bao kinh hoàng và vực thẳm đã đủ để Thời mới phải đặt lại vấn đề. Nếu cứ
tiếp tục chấp nhận tình trạng không người lái, chắc chắn con tàu sẽ đưa nhân
loại vào những kinh hoàng vô lường khác. Đây là một đòi hỏi sống chết của
Biển-đức; một mặt trận mà ngài đã mở ra từ ngày còn là một giáo sư đại học.
Phía Ki-tô giáo cũng phải xét lại mình. Xét mình để tìm lại đâu là bản chất đích
thực của mình. Đâu là lí do làm cạn kiệt sức sống và hiệu năng vốn có của mình,
khiến mình phải rút lui vào thế thủ. Trong quá trình hai ngàn năm, Ki-tô giáo đã
vì hoàn cảnh hoặc vì lòng người chất chứa lên con tàu khí cầu của mình qúa nhiều
thứ, khiến nó nặng nề không bay bổng lên được. Phải xem lại hành lí, lọc lựa ra
cái gì là bản chất để làm hành trang lên đường. Hãy « Verwesentlichung » (bản
chất hoá, tìm cái cốt tuỷ, một từ mà nhà thần học Ratzinger tâm đắc) Giáo hội.
Với nhận thức này, với « Spe Salvi »
về Lòng cậy tiếp theo « Deus caritas est »
về Lòng mến, giáo chủ Biển-đức đã đưa ra cho chúng ta hai nét bản sắc tuyệt đẹp
của Ki-tô giáo, những thứ mà, nếu xét cho kì cùng, không một tôn giáo nào khác
có thể cung ứng cho ta được.
Nắm được sợi chỉ đỏ trên, ta sẽ hiểu rõ hơn về hành trình tư tưởng đã, đang và
sẽ tới của Giáo chủ.
Augsburg, ngày 10.01.2008
[1] Cuối thế
kỉ 18, hoàng đế Napoléon cho triệu nhà vật lí nổi danh Laplace vào cung,
để trình bày cho ông về hình ảnh thế giới theo bước tiến của khoa học
thời đó.
Laplace say sưa thuyết giảng cho vị Hoàng đế ham học hỏi. Cuối phần
thuyết trình, Napoléon bất ngờ hỏi: “Thế còn Thiên Chúa?” Laplace đứng
thẳng người, kênh kiệu trả lời: “Thiên Chúa? Tôi chẳng cần gì tới giả
thuyết ấy nữa!”
[2]
Pascal đưa ra một đánh cuộc nổi tiếng về Thiên Chúa và cuộc sống như
sau: Nếu tôi sống đàng hoàng như có Thiên Chúa, mà cuối cùng không có
Ngài hiện diện thật sự, thì tôi có thể chỉ mất đi một phần nào vui thú
cuộc đời thôi, nếu tôi đã không sống một cách ích kỉ. Còn nếu tôi sống
phóng túng như không có Chúa, mà cuối cùng lại có Ngài thật sự, thì tôi
sẽ phải lãnh án phạt đời đời.