MÙA XUÂN CỦA GIÁO HỘI
TRẦN PHONG VŨ
I.- Một chuyển mình
ngoạn mục
Một biến cố được dư luận trong và ngoài nước coi là quan trọng hàng đầu diễn ra tại tổng giáo phận Hànội trong suốt thời gian chuẩn bị tưởng niệm ngày Ngôi Hai Thiên Chúa giáng sinh làm người năm 2007. Đó là cuộc vận động công khai và ôn hòa mang nội dung thuần túy tôn giáo (cầu nguyện) của hàng ngàn tín hữu Công Giáo địa phương nhằm đánh động lương tri của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam để họ trả lại cơ sở và đất đai Tòa Khâm Sứ cũ vốn thuộc chủ quyền của tổng giáo phận từng bị bạo quyền cưỡng chiếm từ nhiều thập niên qua.
Cuộc vận động khởi
sự từ buổi thắp nến cầu nguyện, hát Thánh ca của khoảng 4000 giáo dân, linh mục,
tu sĩ tại sân tòa TGM Hànội tối
18-12-2007. Những cuộc tập hợp với mục tiêu tương tự tiếp diễn nhiều ngày sau đó
cho tới lễ Giáng Sinh và đầu năm dương lịch 2008 vừa qua. Hơn một lần, hàng ngàn
giáo dân đã tập họp cầu nguyện ngay trong khuôn viên hoặc ngoài hàng rào tòa
Khâm Sứ cũ. Theo ghi nhận của giới thạo tin thì những cuộc tụ tập như thế có lúc
lên tới cả 5,000 người. (Xin đọc bản tin chi tiết kèm hình ảnh trên DĐGD số
này).
Một biến cố nổi bật là trong buổi tập họp cầu nguyện của khoảng 4000 tín hữu ngày 20-12, một số thanh niên đã kiệu tượng Đức Mẹ Sầu Bi tới dựng dưới gốc cây đa cổ thụ ở góc sân Tòa Khâm Sứ cũ, nơi bị bạo quyền CSVN cưỡng đoạt chủ quyền lâu nay. Mấy ngày sau, một cây Thánh Giá cũng được thiết trí bên cạnh tượng Đức Mẹ.
Cho tới những ngày đầu năm 2008, song hành với những buổi cầu nguyện đòi tài sản của giáo dân, có hai sự kiện đáng chú ý: 1/ Khi cuộc vận động vừa khởi đầu, trước ngày lễ Giáng Sinh, ông Phạm Thế Duyệt, chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc bất ngờ tới thăm tòa TGM. Sau đó, đúng ngày cuối năm, trong khi hàng ngàn giáo dân đang cầu nguyện và ký tên vào văn bản đòi trả lại tòa Khâm Sứ, thủ tướng CS Nguyễn Tấn Dũng, cũng tới tòa TGM thăm gặp đức TGM Ngô Quang Kiệt trong 15 phút. Sau đó cả hai đã tiến qua thị sát quang cảnh tòa Khâm Sứ. Điều bất bình thường là hai sự kiện này đều không được báo đài nhà nước đưa tin hay đăng hình ảnh. Phía tòa TGM Hànội cũng không có tiếng nói chính thức về hai cuộc thăm viếng không hẹn trước này.
Trong thực tế, đây không phải là lần đầu tiên, các chức sắc và giáo dân trong GHCGVN lên tiếng đòi (hay xin) nhà nước trả lại tài sản và đất đai bị cưỡng chiếm. Ngay tại tổng giáo phận Hànội, thời các đức hồng y TGM Trịnh Văn Căn và Phạm Đình Tụng, những cuộc vận động tương tự cũng đã diễn ra. Chính đức TGM Ngô Quang Kiệt trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 26-12 cũng cho hay là kể từ năm 2003, hàng năm ngài cũng có những văn thư gửi nhà nước về vấn đề này nhưng đều không được đáp ứng. Ngày 10 tháng 8, 2007 vừa qua, đức cha Emmanuel Lê Phong Thuận, giám mục Cần Thơ đã lên tiếng đòi lại trường Bảo Lộc của họ đạo Bảo Lộc, Cà Mau. Tiếp theo, ngày 30 tháng 10, đức cha Phao Lô Nguyễn Thanh Hoan, giám mục phụ tá Phan Thiết cũng công khai gửi văn thư phản đối hành vi của công an phá nhà thờ Sông Mao. Tại Nha Trang, người ta chưa quên cuộc tranh đấu kiên cường và liên tục của giáo dân tại đây nhằm đòi lại khu đất thuộc trường Thánh Giuse và mới nhất là sự lên tiếng mạnh mẽ của linh mục Trần Khôi và giáo dân của ngài tại giáo xứ Sao Cát thuộc tổng giáo phận Huế.
Tuy nhiên, cuộc vận
động lần này ở tổng giáo phận Hànội có những đặc điểm khác cần được ghi nhận.
Trước hết, về hình thức đây là một cuộc vận động ôn hòa lồng dưới những nghi
thức mang màu sắc thuần túy tôn giáo (cầu nguyện, hát thánh ca, rước, thiết trí
và tôn vinh Thánh tượng Đức Mẹ Sầu Bi ngay tại địa sở cũ của tòa Khâm Sứ, nơi
đang là đối tượng cho cuộc vận động đòi đất. Việc thiết trí và tôn vinh này gợi
nhớ tới hành vi công khai đập phá phiên bản bức tượng tương tự của viên chức nhà
nước ở Nho Quan thuộc giáo khu Phát Diệm cách đây không lâu, và giữa lúc dư luận
đồng bào trong và ngoài nước đang sôi nổi thì đức TGM Ngô Quang Kiệt lên tiếng
trấn an bằng cách yêu cầu “xếp lại nội vụ”!!!). Thứ đến, cuộc vận động mới lần
này đã nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt của đông đảo giáo dân và giáo sĩ nhiều
lúc lên tới con số hàng mấy ngàn và trong một thời gian liên tục. Cuối cùng nó
diễn ra ngay tại trung tâm thủ đô Hànội, nơi có tai mắt của báo giới và các phái
đoàn ngoại giao quốc tế.
Khi nhìn cuộc vận
động đòi lại các cơ sở và đất đại tòa Khâm Sứ cũ của các tín hữu tổng giáo phận
Hànội như một cuộc chuyển mình ngoạn mục, người viết đã minh nhiên nói lên niềm
vui của mình. Thật vậy. Dù thành kiến và thờ ơ đến mấy chăng nữa, làm sao chúng
ta không vui mừng khi thấy sau nửa thế kỷ cắn răng chịu đựng, cùng với đám đông
giáo dân, một số giáo sĩ giữa lòng thủ đô Hànội đã hưởng ứng lời mời gọi của chủ
chăn, cất cao lời cầu nguyện, xin Thiên Chúa chuyển đổi lòng tham lam, gian ác
của giới cầm quyền để họ biết tôn trọng sự công bằng và lẽ phải mả hoàn trả lại
những tài sản và đất đai của Giáo Hội do họ cướp đoạt lâu nay. Tâm trạng vui
mừng này càng tăng thêm khi thấy sự đáp ứng nồng nhiệt của quần chúng giáo dân
đối với lời kêu gọi của các đấng bản quyền trong Giáo Hội. Nó chứng tỏ sự thuần
nhất và tinh thần vâng phục từng làm nên sức mạnh của tuyệt đại đa số người tín
hữu trong Giáo Hội CGVN xưa cũng như nay. Nó cũng là biện minh trạng cho những
lời đoan quyết của nhiều người: nếu sự hi sinh và những lời kêu gọi cho tự do
tôn giáo, cho công lý và nhân quyền nhân phẩm Việt Nam của linh mục Nguyễn Văn
Lý trước đây được sự hậu thuẫn công khai của các giám mục thì tình trạng giáo
hội và đất nước ngày nay hẳn đã đổi khác.
Cầu nguyện là bản
chất của người Kitô hữu: Không ai chối cãi được giá trị và tầm quan trọng
của lời cầu nguyện trong đời sống đức tin của người Công Giáo. Cuộc đời cố Giáo
Hoàng Gioan Phaolô II được đan kết bằng một lời cầu nguyện triền miên, bất tận.
Theo ngài, cầu nguyện là một cuộc đối thoại thân mật giữa con ngưởi với Thiên
Chúa. Nó là sợi giây nối liền giũa đất và trời, nâng con người lên gần Thiên
Chúa để Ngài đáp ứng những khát vọng của họ, giúp họ giải quyết những vấn nạn
ngoài tầm tay của mình.
Thấy rõ sức mạnh của
lời cầu nguyện như thế, phần nào chúng ta hiểu được nội dung lá thư đề ngày
15-12 vừa qua của đức cha Ngô Quang Kiệt, tổng giám mục Hànội gửi các linh mục,
tu sĩ, chủng sinh và giáo dân, kêu gọi hãy chuyên tâm “cầu nguyện để những
nơi tôn nghiêm của tôn giáo được tôn trọng, nhu cầu chính đáng của giáo phận và
HĐGMVN được đáp ứng và những sinh hoạt tôn giáo được thuận lợi, góp phần xây
dựng giáo hội, đặc biệt khuôn mặt thủ đô được tốt đẹp”. Tuy nhiên, chúng ta
cũng không thể không chia sẻ những băn khoăn, thao thức chính đáng của không ít
bà con đồng đạo ở trong cũng như ngoài nước.
III.- Những điều khó
nói nhưng không thể không nói:
(Khó nói,
vì nói ra rất dễ bị qui kết là: chống cha, chống Giáo Hội –thậm chí:
chống Chúa! như não trạng chung của một thiểu số lâu nay. Nhưng ở vào lứa
tuổi xế chiều, nhận thức rằng thì giờ sống ở cõi tạm chẳng còn được bao lâu, do
sự thôi thúc của lương tri con cái Chúa, cũng như nhiều cá nhân thiện chí khác,
cá nhân tôi thấy không thể không nói. Với ý nghĩ ấy, mượn những giòng
chữ này tôi xin nói thật, nói thẳng những thao thức, trăn trở của tôi với tất cả
tấm lòng yêu mến Giáo Hội và Quê Hương, Dân Tộc tôi, và phó thác mọi phán quyết
cuối cùng cho Thiên Chúa và công luận).
* Những bài học quá
đắt quanh chuyện “XIN – CHO”:
Không phải ai khác
mà chính các Đấng Bậc trong GHCG đã trải qua khá nhiều kinh nghiệm về những bài
học đắt giá chung quanh chuyện Xin/Cho. Trong những văn thư được tiết lộ, khi
công khai khi ngấm ngầm trước đây, đức hồng y Phạm Minh Mẫn –kể cả HĐGMVN- đã
hơn một lần gián tiếp lên án tính cách bất công và lạc hậu của mô thức này. Nó
đặt đảng và nhà nước cộng sản vào địa vị độc tôn, có toàn quyền ban phát ân huệ
tùy ý, tùy tiện và biến 84 triệu người dân, bao gồm cả các tập thể tôn giáo
trong đó có thành phần lãnh đạo, thành những nạn nhân chỉ biết ngửa tay xin xỏ,
được hay không hoàn toàn do thái độ của kẻ có quyền! Trong lá thư gửi ra ngày
15-12-2007 kể trên, đức cha Ngô Quang Kiệt cũng đả nhắc lại thái độ ngoan cố lì
lợm của đảng và nhà nước khi mà “từ nhiều năm nay, tòa TGM và
HĐGM đã nhiều lần đệ đơn lên chính quyền các cấp xin
giao lại tòa Khâm Sứ để giáo hội có đủ phương tiện cần thiết cho những hoạt động
tôn giáo tối thiểu. Đề nghị chính đáng của tôn giáo chưa được đáp ứng,
trong khi đó Quận Hoàn Kiếm lại dùng tòa Khâm Sứ để kinh doanh buôn bán. Trước
đây đã bán phở, nay lại mở ngân hàng, Và ngày 13-12-07 vừa qua thêm kinh doanh
giữ xe với quang cảnh hỗn độn”. Chữ “chưa” ở đây không có
nghĩa ngắn hạn mà đã trì trệ, đã bị kéo dài với thái độ trịch thượng của kẻ có
quyền từ nhiều chục năm qua! (Người viết tô đậm vài cụm từ).
Trong hoàn cảnh khó coi như thế liệu có nên nặng lời trách cứ, chỉ trích khi có những công dân Công giáo vì lòng tự trọng và cũng vì thành tâm yêu mến Giáo Hội đã nêu lên những câu hỏi:
- Tại sao lại phải
ngửa tay xin xỏ những cái vốn là sở hữu của mình và mình có quyền đòi lại, nhất
là khi hành vi xin xỏ đã tái diễn quá nhiều lần, không phải trong 5, 10 năm mà
đã trải qua cả nửa thế kỷ mà vẫn chưa được bạo quyền đáp ứng?
- Trong cảnh ngộ bị
xem thường như thế không lẽ hôm nay và mai ngày vẫn cứ phải cúi đầu nhẫn nhục
ngửa tay xin tiếp? XIN đến bao giờ? Trường hợp bạo quyền vẫn lì lợm không CHO
thì phải phản ứng ra sao?
* Vẽ đường cho hươu chạy!
Vào lúc chiến dịch cầu nguyện đòi đất tòa Khâm Sứ cũ đang diễn tiến, ngày 26-12 vừa qua, trả lời câu hỏi của phái viên đài BBC về triển vọng thành công của chiến dịch này, đức cha Ngô Quang Kiệt bày tỏ quan điểm riêng của ngài đại khái như sau: giả như nhà nước sử dụng dất đại và cơ sở họ chiếm dụng từ nhiều năm qua vào những mục tiêu tốt đẹp, hữu ích thì không nói, đàng này họ để cho những cá nhân dùng vào mục tiêu kinh doanh, như mở vũ trường, bán phở, và mới đây lại dùng sân tòa Khâm Sứ cũ để làm chỗ giữ xe thì ngài nghĩ nhà nước nên tôn trọng sự thật, có cái nhìn thấu đáo để trả lại cho Giáo Hội. Được biết, qua tin tức kèm theo những hình ảnh được phổ biến vào dịp Giáng Sinh 2007, người ta thấy những tấm bảng “NHÀ VĂN HÓA”, “PHÒNG VHTT-TDTT” Quận Hoàn Kiếm đã được trưng lên nơi cửa chính của tòa Khâm Sứ cũ. Phải chăng vì nắm bắt được tư tưởng và cách nhìn vấn đề của người cầm đầu tổng giáo phận Hànội nên nhà nước đã ra lệnh cho các cán bộ thực hiện việc này nhằm khoác cho cơ sở do họ chiếm giữ lâu nay danh xưng mới với những mục tiêu được coi là tốt đẹp, hữu ích?
Thử đặt giả thiết là trong những ngày tháng tới đây, một ban quản trị những cơ cấu xôm tụ như “Nhà Văn Hóa,”, “Phòng VHTT-TDTT”… được hình thành cùng với những sinh hoạt cụ thể thu hút đông đảo dân phố được cán bộ nhà nước lùa tới tham dự thì chuyện gì sẽ xảy ra? Dựa vào quan điểm trên đây của đức cha Kiệt thì liệu mọi nỗ lực vận động của giáo dân để đòi tòa Khâm Sứ cũ có còn lý do tồn tại không?
Cũng trong một cuộc phỏng vấn của phái viên đài BBC trước đó, thính giả đã được nghe một câu trả lời nghịch nhĩ như hàm ý “vẽ đường cho hươu chạy” của ông linh mục giám đốc trang lưới ngụy danh “Thông Tấn Xã Công Giáo Việt Nam”. Khi được hỏi là liệu cuộc vận động đòi tài sản và đất đai tòa Khâm Sứ cũ của hàng ngàn bà con tín hữu Hànội có cơ thành tựu sớm không, ông cao giọng tuyên bố là ông sợ việc này sẽ không dễ dàng, suông sẻ, vì nếu nhà nước thỏa mãn yêu sách của giáo dân Hànội thì rồi các giáo phận, các xứ đạo khác, kể cả các tôn giáo bạn cũng sẽ đồng loạt lên tiếng tiếp theo… Sau đó, nội dung lời tuyên bổ để đời trên đây còn được quảng diễn lại trong một bài phân tích dài chung quanh sự xuất hiện bất ngờ của Nguyễn Tấn Dũng tại tòa TGM Hànội, phổ biến trên cái gọi là “Thông Tấn Xã CGVN” kể trên ngày 31-12-2007. Mời độc giả đọc lại nguyên văn trích đoạn sau đây:
“Có lẽ việc đòi lại
được Tòa Khâm sứ cho Giáo Hội không phải là việc dễ dàng ngay đâu và chắc chắn
sẽ không sớm mà có ngay được! Ngay cả trong trường hợp ông
Nguyễn Tấn Dũng, vì lý do nào đó, thực sự có
thiện chí trong việc giải quyết, thì ông cũng phải đối diện với thực tế mà các
đồng chí tham ăn của ông đưa ra là: Sợ rằng nếu trả nhà đất cho Toà Giám Mục Hà
Nội, thì phải trả đất cho các giáo xứ khác trong thành phố Hà Nội. Nhiều người
nhận định rằng, nếu bây giờ ông Dũng trả đất ngay cho Giáo phận Hà Nội thì rồi
đây là cớ cho các nơi khác cũng phải trả tài sản và đất đai lại cho các Giáo
phận trong cả nước, và ngay cả cho các tôn giáo khác nữa…”
Thật là chuyện hi hữu!
Trên đời này liệu có ông bà chủ nợ nào ngu ngơ, khờ khạo đến nỗi vừa đi đòi nợ
lại vừa công khai rêu rao cho cả làng cả nước biết ý nghĩ riêng của mình là việc
đòi nợ sẽ khó đạt thành kết quả vì con nợ vốn thuộc hàng “chúa chổm”: nếu trả
cho một chủ nợ thì sẽ bị hàng ngàn, hàng vạn chủ nợ khác ‘làm thịt’!!! (Lời rêu
rao này nghe thoang thoảng hơi hướng kẻ “nằm vùng” của ông nhà nước!)
* Có gì bí ẩn đàng sau
cuộc viếng thăm đức TGM Hànội của hai nhân vật nhà nước?
Sự hiện diện bất ngờ và chớp nhoáng của hai ông Phạm Thế Duyệt và Nguyễn Tấn Dũng tại tòa TGM Hànội trong những ngày hàng ngàn giáo dân tụ tập cầu nguyện đòi đất đai và tài sản của tòa Khâm Sứ vừa qua đã tạo nên những cuộc bàn luận xôn xao trong dư luận người Việt ở quốc nội cũng như hải ngoại. Sự kiện hệ thống báo chí, truyền thanh, truyền hình của nhà nước im hơi lặng tiếng, không loan tin cũng không công bố hình ảnh về những cuộc thăm viếng này không làm cho ai ngạc nhiên khi người ta hiểu rằng: truyền thông dưới chế độ cộng sản chỉ là một công cụ của đảng và nhà nước, không hơn không kém. Khi báo chí không đăng tin, khi radio, TV không nói cũng không phát hình quanh vấn đề thời sự này chỉ giản dị là vì họ đã được lệnh từ “trên” phải chấp hành như thế. Có điều tự thân sự kiện báo đài ở quốc nội cố tình im tiếng không đá động gì tới cuộc thăm viếng người cầm đầu TGP Hànội của những khuôn mặt đầu sỏ trong hệ thống cầm quyền cao cấp của chế độ như chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc, như thủ tướng chính phủ đã đương nhiên phủ lên nội vụ một tấm màn bí ẩn và đã đặt ra cho công luận nhiều câu hỏI:
Đâu là mục tiêu đích thực của cuộc viếng thăm? Hai lãnh tụ cộng sản họ Phạm và họ Nguyễn đã nói gì với đức cha Kiệt? Đối lại, chủ nhân tòa tổng giám mục Hànội đã giải thích ra sao về ý nghĩa những buổi cầu nguyện của hàng ngàn giáo dân của ngài bên trong và bên ngoài khuôn viện tòa Khâm Sứ cũ trong những ngày trước sau lễ Giáng Sinh và tết dương lịch vừa qua? Cuộc gặp gỡ này có triển vọng đem lại kết quả nào tích cực không?[1]
Từ những câu hỏi khó chưa tìm được lời giải đáp ấy, có người thắc mắc: đối với một nhà nước độc tài, toàn trị coi quần chúng như cỏ rác, việc bưng bít thông tin còn có thể hiểu được, nhưng tại sao phía giáo quyền Hànội cho đến nay cũng vẫn tiếp tục thù khẩu như bình? Công luận, cách riêng dư luận người tín hữu Công Giáo đặc biệt đám đông bà con đang trực tiếp tham gia những buổi cầu nguyện đòi tài sản và đất đai tòa Khâm Sứ liệu có thể chia sẻ được thái độ im lặng khó hiểu này nơi một cơ cấu vốn được coi là biểu tượng của công chính và sự thật không?
Ngoài những vấn nạn kể trên, một câu hỏi nhức nhối khác cũng được đám đông quần chúng đặt ra: Đó là vấn đề đòi lại các cơ sở, đất đai vật chật đã đành là cần thiết để Giáo Hội có phương tiện phát triển sinh hoạt, nhưng nhìn vào chiều sâu những vấn đề cốt tủy của Giáo Hội, nó có phải là ưu tiên hàng đầu gắn bó trực tiếp tới sự sống còn của Giáo Hội không? Trả lời câu hỏi này, chúng ta thấy nổi bật lên một số vấn đề quan trọng khác.
* Vấn đề đào tạo linh mục, bổ nhiệm giám mục
trong Giáo Hội:
Một tổ chức, một đoàn thể, một đảng phái có đứng vững và có cơ hội phát triển tốt và lành mạnh hay không hoàn toàn tùy thuộc vào giới lãnh đạo và các cán bộ nòng cốt trong tổ chức, đoàn thể, đảng phái ấy. Dĩ nhiên tôn giáo cũng không có luật trừ. Riêng với Giáo Hội Công Giáo, vấn đề đào luyện người lãnh đạo[2] đã được đặt ra ngay từ thời Chúa Giêsu. Khi vừa khởi đầu cuộc sống công khai, chính Người đã tuyển chọn 12 tông đồ, đã giảng dạy các ông và đặt ông Phêrô làm Giáo Hoàng đầu tiên cai quản Hội Thánh Công Giáo. Mô thức này đã trở thành mẫu mực truyền thống cho Giáo Hội hoàn vũ và các Giáo Hội địa phương bước theo. Nhờ thế, cùng với ơn phù trợ của Thánh Thần Thiên Chúa, dù trải qua nhiều giai đoạn tối tăm, Giáo Hội của Chúa vẫn đứng vững trước mọi phong ba bão tố.
Hiểu rõ tính cách thiết yếu và tầm quan trọng của vấn đề lãnh đạo trong Giáo Hội Công Giáo như thế, nên với những kinh nghiệm gặt hái được ở Liên Xô và các quốc gia cộng sản Đông Âu, ngay từ những ngày đầu tiên mới nhuộm đỏ miền bắc, vì biết rằng không dễ tiêu diệt được đức tin của người Công Giáo, đảng và nhà nước CSVN đã tìm mọi thủ đoạn để kiểm soát và khống chế quyền đào tạo giới lãnh đạo trong Giáo Hội. Sau tháng tư năm 1975, chủ trương này áp dụng luôn cho cả miền Nam. Từng bước một: trong những năm đầu họ nuôi ý đồ giải tán tất cả các chủng viện với hậu ý gian ác là chặt đứt mọi phương tiện đào tạo chủng sinh, truyền chức linh mục vì nghĩ rằng một khi lớp linh mục cũ già yếu lần hồi chết đi, Giáo Hội Công Giáo sẽ tự xóa tên[3]. Sau này, vì xu thế chung không thể cưỡng lại, bắt buộc phải cho phép Giáo Hội mở lại các chủng viện một cách nhỏ giọt, họ áp lực các giám mục phải để cho họ quyền duyệt xét danh sách các ứng viên đi tu. Với đặc quyền này, một mặt họ loại bỏ được những ứng viên tốt, có triển vọng trở thành những linh mục xứng đáng cho Giáo Hội sau này; mặt khác họ còn lần hồi thực hiện được âm mưu cài đặt người của mình vào số các ứng viên chủng sinh.
Sau khi đã dành được quyền duyệt xét danh sách ứng viên đi tu, các cán bộ tôn giáo của đảng và nhà nước còn được lệnh theo dõi từng ý nghĩ và đường đi nước bước của mỗi chủng sinh, từ khi mới nhập chủng viện cho tới ngày hoàn tất chương trình tu học. Cụ thể họ còn can thiệp trắng trợn vào chương trình giảng dạy trong chủng viện bằng cách đòi hỏi bằng được phải có môn học về chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít trong giáo trình! Chưa hết. Giai đoạn cuối cùng khi một chủng sinh qua chức phó tế, sẵn sàng bước lên Bàn Thánh để chia sẻ thiên chức linh mục của Chúa Giêsu, họ vẫn còn phải trải qua sự sàng lọc của đảng và nhà nước cộng sản. Hậu quả đau đớn là có nhiều người đã phải mòn mỏi chờ đợi 10 năm, 15 năm[4] mới được đảng bật đèn xanh cho thụ phong linh mục. Dĩ nhiên đã có những người chịu chức “chui” hoặc miễn cưỡng phải hoàn tục. Trắng trợn hơn nữa là ngay trong việc bổ nhiệm giám mục vốn thuộc quyền tối thượng của Tòa Thánh, vậy mà thường xuyên vẫn có sự can thiệp thô bạo của đảng và nhà nước. Biết bao ứng viên giám mục tài ba, đạo đức đã bị rớt đài chỉ vì không hội đủ những tiêu chuẩn do chế độ đặt ra! Tiêu chuẩn đó là gì, không cấn phải suy nghĩ nhiều mọi người đều có thể đoán biết. Hai trường hợp điển hình là đức cha Huỳnh Văn Nghi và đức cha Nguyễn Văn Hòa từng lần lượt được Vatican bổ nhiệm vào chức vụ tổng giám mục hai tổng giáo phận lớn là Sàigòn và Hànội để thay thế đức cha Nguyễn Văn Bình và hồng y Phạm Đình Tụng trước đây nhưng cả hai vị đều bị đảng và nhà nước quyết liệt chống đối.
Điều đáng nói, đây không phải là chuyện quá khứ mà là chuyện thời sự, chuyện hiện tại. Nó đã xảy ra trong những năm trước và còn xảy ra hôm nay hay ngày mai trong năm 2008 này.
* Một hành vi “cấm đạo” điển
hình?
Nói tới chuyện thời sự, dư luận cũng chưa quên là vào năm 2005, dựa vào những điều khoản trong Pháp Lệnh Tôn Giáo của nhà nước, tập thể tín hữu Công Giáo ở Sơn La đã làm đơn xin được hợp thức hóa cơ chế tín ngưỡng Công Giáo tại địa phương họ đang cư ngụ và hành đạo, nhưng vẫn chưa được trả lời. Trong năm qua, hơn một lần tòa giám mục Hưng Hóa đã chính thức lên tiếng yêu cầu được gửi linh mục tới Sơn La để cử hành Thánh Lễ cho giáo dân nơi đây, nhưng bị nhà cầm quyền từ chối với lý do là “Sơn La không có nhu cầu tôn giáo”! Cụ thể trong dịp lễ Giáng Sinh vừa qua, trong khi đang cử hành Thánh Lễ Vọng đêm 24-12 tại thị xã Sơn La, linh mục Nguyễn Trung Thoại đã bị công an nhà nước tịch thu giấy tờ, áp tải về sở an ninh. Sau đó nhờ áp lực của đám đông tín hữu cha mới được cho về. Liệu chúng ta có thể hiểu đây là những hành vi cấm đạo công khai của chế độ Hànội?
Vì giới hạn của một bài báo, người viết không thể trình bày chi tiết hơn những vấn nạn nghiêm trọng trên đây. Tuy nhiên, chúng tôi thiết nghĩ nó đã tạm đủ để giúp chúng ta có được một kết luận chung:
Việc đòi lại những tài sản, cơ sở và đất đai vật
chất của Giáo Hội từng bị đảng và nhà nước cộng sản dùng bạo lực cưỡng chiếm lâu
nay như tòa Khâm Sứ cũ là việc cần phải làm. Nhưng xét trên nhiều phương
diện, vấn đề giành lại toàn quyền trong lãnh vực tuyển chọn ứng viên, giảng dạy,
huấn luyện chủng sinh cũng như vấn đề truyền chức linh mục, tuyển bổ giám mục,
nhất là trách nhiệm bảo vệ quyền tự do thờ phượng của công dân còn cần thiết
và quan trọng hơn rất nhiểu lần. Nếu không được ưu tiên làm trước thì cũng phải
song song với việc đòi trả lại tài sản đất đai của Giáo Hội.
* Đất của cá nhân, đất của tổ chức và đất của
tổ tiên
Trong vụ dân chúng
khắp nước tìm về vườn hoa Mai Xuân Thưởng ở Hànội và các đường phố tại trung tâm
Sàigòn để đòi đất đai tài sản bị nhà nước ăn cướp trong vài năm qua đã xuất hiện
trong ngôn ngữ hàng ngày của đồng bào trong và ngoài nước một tử ngữ mới: từ Dân
Oan. Nhân chiến dịch cầu nguyện của giáo dân tổng giáo phận Công Giáo Hànội để
đòi lại tòa Khâm Sứ cũ, người ta lại nghe loan truyền trong nhân gian từ ngữ
Giáo Oan.
Đã có Dân Oan, Giáo
Oan, tất có Quốc Oan.
Bởi lẽ giản dị: đảng
và bạo quyền cộng sản đâu chỉ tước đoạt áo cơm, sản nghiệp, ruộng vườn của cá
nhân đồng bào hay những trường ốc, nhà thương, giáo đường, tu viện, chùa chiền
và những cơ sở xã hội của các tôn giáo. Họ đã trắng trợn ăn cướp cả công lao
huyết hãn của tiền nhân Việt Nam từng dày công gầy dựng nên đất nước chúng ta.
Hơn thế, chế độ này còn cam tâm hiến đất, dâng biển cho kẻ thù truyền kiếp là
Trung Cộng. Việc Bắc Kinh công khai thiết lập cơ sở hành chánh trên hai đảo
Trường Sa và Hoàng Sa mới đây cho thấy: ngay sau khi chiếm được một nửa đất nước
ở bắc vĩ tuyến 17, đảng và nhà nước cộng sản VN đã bán đứng hai đảo này cho quan
thày của chúng[5].
Chuyện tủi hổ trên
đây đã dấy lên một cao trào đấu tranh sôi động trong nhiều tháng ngày qua của
các giới đồng bào, nhất là giới trẻ ở trong cũng như ngoài nước. Cuộc đấu tranh
nhằm hai mục tiêu: chống lại chủ trương bành trướng của Trung Cộng đồng thời
vạch mặt chỉ tên bọn mãi quốc cầu vinh ở Bắc Bộ Phủ để bảo toàn những di sản
tinh thần và vật chất của tiền nhân để lại. Một câu hỏi được đặt ra: người tín
hữu Công Giáo, dù với tư cách cá nhân hay tập thể, chúng ta có phải chia phần
trách nhiệm trước vấn đề trọng đại này không?
Lòng vị tha, đức bác
ái và tinh thần tôn trọng công bằng, công lý và sự thật không cho phép những
người con Chúa, dù với bất cứ cương vị nào có quyền ích kỷ để chỉ nghĩ đến mình,
đến quyền lợi của riêng mình khi bị xâm phạm, bị tước đoạt mà quên đi bổn phận
đối với tha nhân, với đất nước, giống nòi trong cơn nguy biến.
Trong giây phút đầu
tiên của Năm Mới, nguyện xin Thiên Chúa, Đấng toàn năng toàn thiện ban cho Giáo
Hội Công Giáo hoàn vũ, cách riêng Giáo Hội Việt Nam một Mùa Xuân Thanh Bình,
Thánh Thiện luôn trung thành với Ơn Gọi: hết lòng phục vụ những thiện ích của
con người, nhất là những người cùng khổ, thấp cổ bé miệng, nạn nhân của cường
quyền, bạo lực trong tinh thần tôn trọng tự do, nhân quyền và nhân phẩm.
[1] Không phải chờ đợi lâu, câu hỏi này đã được Nguyễn Thế Doanh, trưởng ban tôn giáo nhà nước trả lời trong cuộc phỏng vấn của đài phát thanh BBC hôm Thứ Năm 03-01-08 vừa qua: mọi tài sản đều thuộc quyền quản lý của nhà nước, không ai có quyền đòi và cũng không thể có chuyện trả lại. Dĩ nhiên, trong xã hội cộng sản, một lời tuyên bố dù là của ông trưởng ban tôn giáo hay một nhân vật nào lớn hơn ông, trong những trường hợp tương tự, có thể chỉ là một đòn thăm dò nằm trong chủ trương gian manh cố hữu của guồng máy thống trị: “mềm nắn, rắn buông”. Nói rõ hơn nó tùy thuộc hoàn toàn vào thái độ và lập trường của người đòi kiên trì và quyết liệt đến đâu.
[2] Cần hiểu lãnh đạo theo tinh thần Kitô giáo. Chúa Giêsu nói: “Ta đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ”. Tiêu chuẩn lãnh đạo này càng ngày càng trở nên một thách đố nghiêm trọng cho các linh mục, tu si kể cả hàng giám mục trong Giáo Hội Việt Nam hôm nay.
[3] Trên thực tế tại miền bắc, dù cộng sản tìm hết cách để truy diệt niềm tin của người Công Giáo qua chủ trương đóng cửa chủng viện, khủng bố giáo sĩ, nhưng họ đã thất bại. Dù không có linh mục, tại nhiều địa phương xa xôi, hẻo lánh, người giáo dân vẫn tìm tới nhà thờ để cầu nguyện. Trường hợp không có nhà thờ, hoặc nhà thờ bị đổ nát, họ tụ tập nhau thành từng nhóm để cầu nguyện chung với nhau.
[4] Cá nhân người viết bài này có một người cháu con bà chị tu dòng Đa Minh đã phải chờ đợi 14 năm trường mới được nhà nước cho phép lãnh chức linh mục.
[5] Mời đọc Công Hàm mang chữ ký của Phạm văn Đồng gửi nhà cầm quyền Bắc Kinh năm 1958.