MẶC GIAO
Alas! The
devilish bee, with his suckling spout,
Through
that camellia went his way in and out
(Lê Cao Phan dịch)
Một câu Kiều khác
cũng trong hoàn cảnh tương tự
Biết thân đến bước lạc loài
I’d better
have let him pick my prime flower”
(Lê Cao Phan dịch)
Tôi xin chứng minh
thêm lập luận này bằng một thí dụ khác: Vũ Hoàng Chương là người hay dùng điển
tích. Bài thơ sau đây của ông có những chữ khi dịch sang ngoại ngữ vẫn phải để
nguyên tiếng Việt, ai hiểu thì hiểu, không hiểu thì đọc chú thích bên dưới. Nếu
không đọc thì làm sao biết được sự tích “Châu về Hợp Phố” và câu thơ “Cô Tô
thành ngoại Hàn Sơn tự” của Trương Kế?
XUÂN BÁO NỬA ĐÊM
Bên trời vẳng báo
xuân sang
Giữa khi Hợp Phố mơ
màng về châu
Gác nằm hiu quạnh
bấy lâu
Nửa đêm chợt nổi cái
sầu Cô Tô
LE PRINTEMPS
S’ANNONCE À MINUIT
De l’horizon accourt
la nouvelle: “le printemps vient”
Et à ce moment Hợp
Phố rêve au retour de ses perles précieuse
Là-haut, je
m’entends, depuis longtemps solitaire
Il est minuit et
toute la mélancolie de Cô Tô me pénètre
(Simone Kuhnen De La Coeuillerie dịch)
Dịch ý, dịch lời đã
khó như vậy, nhưng còn một thứ khó hơn là dịch tứ thơ. Tứ thơ là một cái gì rất
khó định nghiã. Nó là một ý, một lời làm cho người đọc sững sờ thích thú. Nó xác
định câu đó là một câu thơ, không phải văn xuôi
Muôn mầu chen dự lễ đăng quang
Biển nước
xanh lơ biển cát vàng
Hoa tím
buông lơi sườn cỏ biếc
Ôi rừng
trinh bạch đảo hồng hoang
(Vũ Hoàng Chương)
A myriad
of colours jostled, attending my Coronation-day
Water-sea’s navy blue
mixed up with sand-sea’s golden
Hanging on
green grassed slopes, bunches of purple flowers swayed
O!
white-virgin jungles! Rosy-deserted islands!
(Nguyễn Khang dịch)
Cái hay của bốn câu
thơ trên vừa ở ý (ngày đầu con người được sinh ra để làm chủ vũ trụ), vừa ở lời,
vừa ở hình ảnh. Những câu thơ dịch đã lột được ý của tác giả và đã nhấn mạnh
những mầu sắc làm nên một bức tranh hài hòa. Tuy nhiên những ý và lời tạo nên tứ
thơ thì khó dịch nổi. Chẳng hạn “buông
lơi” được dịch là “swayed” có
nghiã lúc lắc, đung đưa. Khó có chữ nào khác dịch hay hơn. Nhưng qủa tình không
diễn tả được hết ý tứ về những chùm hoa tím buông lơi, buông thả một cách hững
hờ, như thể muốn quyến rũ người ngắm. Cũng vậy, tiếng kép
“hồng hoang” không chỉ có nghiã là
“hoang
vắng hồng” (rosy-deserted), nhưng
diễn tả thuở khai thiên lập địa, lúc con người vừa được sinh ra và vừa khám phá
ra vũ trụ. Đó là những tứ thơ cả lời lẫn ý, khó dịch vô cùng.
TĨNH DẠ TỨ CỦA LÝ BẠCH
Nghi thị
địa thượng sương
Cử đầu
vọng minh nguyệt
Đê đầu tư
cố hương
Tôi dịch sát nghiã
như sau:
Đầu giường
trăng sáng tỏ
Ngửng đầu
nhìn trăng sáng
Cúi đầu
nhớ cố hương
Nhà văn Toàn Phong
đã “sáng tác” một bài dịch khác với những chữ thêm vào cho bài thơ du dương hơn:
Đầu giường trăng sáng
như gương
Ngửng đầu
trăng sáng trên không
Cúi đầu
luống những trạnh lòng nhớ
quê
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Nếu dịch sát nghiã
“Không biết mặt người đã đi đến chốn nào? Hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ”
thì nghe chẳng có chất thơ chút nào. Phải nhờ đến thiên tài Nguyễn Du “sáng tác
lại” thì hai câu thơ dịch mới thật có hồn
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào
năm ngoái còn cười gió đông
Vì dịch thơ khó như
thế nên ông Võ Phiến mới phát biểu một câu rất chí lý:
“Cái gọi là thơ” thì dịch được, “cái thật
là thơ” thì không dịch được” (Võ Phiến, Đàm Thoại, tr 268. Văn Mới, Hoa Kỳ
2000).
Nói về trường hợp
thơ chữ Hán được dịch sang thơ chữ Việt, chúng ta thấy những câu dịch có vẻ
thoải mái hơn, dễ lột được cái hay của câu thơ chữ Hán hơn. Sở dĩ vậy là vì
trước hết các văn nhân thi bá Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của văn chương Trung
Quốc hàng ngàn năm. Những thể thơ và điển tích Trung Hoa đã trở thành thông
thường đối với người làm thơ và đọc thơ Việt Nam. Thứ đến, các cụ ta lại khôn
ngoan biến tiếng Hán thành tiếng Hán Việt để vừa bảo tồn tiếng Việt (Thí dụ
tiếng Quan Thoại nói ‘Chúng Hỏa
Min Quơ’, các cụ đổi thành
‘Trung Hoa Dân Quốc’), vừa cho tiếng
Hán năm âm bậc tương đương với nặng, sắc huyền, hỏi, ngã của tiếng Việt. Nhờ thế,
nhiều khi chúng ta đọc những câu thơ tiếng Hán, dù không hiểu nghiã, vẫn thấy
rất hay. Đôi khi thơ dịch sang tiếng Việt còn hay hơn nguyên tác. Thí dụ:
Cổ bề thanh động tràng thành nguyệt
Phong hỏa
ảnh chiếu cam tuyền vân
(Đặng Trần Côn)
Trống
Tràng Thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam
Tuyền mờ mịt thức mây
(Đoàn Thị Điểm dịch)
Những câu dịch sau
đây mới thật tuyệt diệu:
Thanh thanh mạch thượng tang
Mạch
thượng tang, mạch thượng tang,
Thiếp ý
quân tâm thùy đoản trường
(Đặng Trần Côn)
(Cùng
ngoảnh lại mà cùng chẳng thấy)
Thấy xanh
xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu
xanh ngắt một mầu
Lòng chàng
ý thiếp ai sầu hơn ai?
(Đoàn Thị Điểm dịch)
Dịch thơ chữ Hán của
tác giả người Hoa, dịch thơ chữ Hán của tác giả người Việt như tác phẩm Chinh
Phụ Ngâm vừa trích dẫn trên đây, các cụ còn dịch thơ chữ Hán của chính mình sang
tiếng Việt. Như vậy là các cụ sáng tác hai lần. Chúng ta hãy đọc những câu thơ
tự dịch của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến. Có những bài chúng ta không ngờ
là cụ sáng tác bằng hai thứ tiếng
Không sơn
văn lạc tuyền
Cũng có
lúc chơi nơi dặm khách
Tiếng suối
nghe róc rách lưng đèo
Hữu tửu vị thùy mãi
Hữu thi vị
thùy tả
Bất tả phi
vô tiên
Trần phồn
tháp bất hạ
Bá Nha cầm
diệc nhiên
Rượu ngon
không có bạn hiền
Không mua
không phải không tiền không mua
Câu thơ
nghĩ đắn đo chẳng viết
Viết đưa
ai, ai biết mà đưa?
Giường kia
treo những hững hờ
Đàn kia
muốn gảy, ngẩn ngơ tiếng đàn
Từ thơ ngũ ngôn chữ
Hán, cụ Tam Nguyên Yên Đổ đã chuyển thành thơ song thất lục bát Việt Nam rất tài
tình.
Dịch thơ là một việc
hao tâm tổn trí. Tôi chỉ đưa vài nhận xét và không dám phê bình ai. Muốn có một
bài thơ dịch hay, người dịch phải thông hiểu cả hai ngôn ngữ, phải biết xử dụng
ngôn ngữ dịch một cách thành thạo, phải có tâm hồn đồng điệu với tác giả và phải
biết cộng tác với tác giả để tái sáng tác bài thơ. Vì vậy chúng ta đừng mong độc
giả ngoại quốc mê thơ Kiều khi đọc bản dịch như chúng ta mê khi đọc bản quốc
văn.
Ở phần trên, tôi đã
góp ý thêm về việc dịch thơ của các thi hào nổi tiếng, với những vần thơ văn hoa,
chải chuốt, thuộc giòng thơ cổ điển. Tiếp theo đây, tôi xin nói về việc dịch thơ
của thời đại mới, với những vần thơ mới. Việc dịch thơ thời đại mới có hai đặc
điểm: Một là chỉ chú trọng dịch cho xát nghiã, lột được ý câu thơ, không cần hoa
hoè hoa sói. Hai là việc dịch thơ đôi khi trở thành một trò chơi giải trí với
những ý và lời rất ngộ nghĩnh, gây nhiều thú vị.
Thơ thời đại được
dịch nhiều nhất là thơ có tính đấu tranh. Thí dụ thơ của Nguyễn Chí Thiện được
Nguyễn Ngọc Bích dịch sang Anh ngữ và in thành tập dầy 550 trang có tựa đề “HOA
ĐỊA NGỤC – THE FLOWERS OF HELL” Chúng ta hãy đọc vài bài cả bằng tiếng Việt lẫn
tiếng Anh
TÔI IM LẶNG
Tôi im
lặng khi kẻ thù hành hạ
Câu chuyện
anh hùng để trẻ con nghe
Tôi im
lặng chỉ vì tôi tự nhủ:
Có ai đi
rừng gặp loài dã thú
Lại mở mồm
kêu xin chúng thương tha?
I KEEP
SHUT
I keep
shut my mouth when tortured by enemy
He may
resort to iron & steel create unbearable pain
I still
keep my mouth shut – leaving tales of heroism
To
children – only because I told myself:
Can one
imagine running into wild beasts in the forest
And swoop
down to plead with them for one’s life?
TRONG BÓNG ĐÊM
Trong bóng
đêm đè nghẹt
Phục sẵn
một mặt trời
Trong đau
khổ không lời
Trong lớp
người đói rét
Phục sẵn
những đoàn quân
Khi vận
nước xoay vần
Tất cả
thành nguyên tử
IN THE
NIGHT
In this
stifling night
There lies
in wait a sun
Unspoken
suffering
Hides
nothing but thunder and lighting
In the
starved and shivering millions
Are
thousand armies
When a new
era comes
All will
go off like an atom bomb
BÁC HỒ RỒI
LẠI
Bác Hồ rồi
lại Bác Tôn!
Cả hai đều
thích ôm hôn nhi đồng
Nước da
các cháu nhi đồng mầu xanh
Giữa hai
cái mặt bành bành
Những khăn
quàng đỏ bay quanh cổ cò!
UNCLE HO AND NOW
UNCLE TON
Uncle Ho
and now we have Uncle Ton
Both are
fond of embracing our kids
The
uncles’ complexion is rose-tinted
But the
children’s in fact is pale blue
In between
the uncles’ arse-like flat faces
Red
scarves fly around thin-necked skinnies
Bài thơ cuối đã trở
thành ca dao mới, không ngờ lại là thơ của Nguyễn Chí Thiện. Bản dịch Anh ngữ
của Nguyễn Ngọc Bích cũng rất tới. “Mặt
bành bành” mà dịch thành “arse-like
flat faces” (mặt bẹt như mông) thì hết chỗ chê.
Đặc tính thứ hai của
thơ dịch thời đại là tính khôi hài. Cũng ông Võ Phiến đã phát giác ra những câu
thơ nửa tiếng Việt nửa tiếng Triều Châu của đồng bào Việt gốc Hoa vùng Bạc Liêu:
Chờ anh em mãn kiếp chờ
Chờ cho ến xại vượt bờ
khùi ui
(Chờ cho
rau muống vượt bờ nở bông)
Chim kêu
ngồ ố, láng dài
A hia xủa bố, a mùi ùm chai
(Anh đi
lấy vợ, em rày chẳng hay)
Những câu lục bát
giao lưu ngôn ngữ này làm tôi nhớ tới một câu thơ một bà me Tây gửi cho ông
chồng đã về Pháp
Từ khi
“toa kít-tê dơ”
(
“Toa kít-tê dơ”: Toi quitter je: anh
rời bỏ em. “Bon nơ”: Bonheur: hạnh
phúc. “Man
lơ”: đau khổ, bất hạnh)
Thời buổi này, khi
người ta muốn tống khứ những uẩn ức ra khỏi lòng, người ta hay trao đổi với nhau
những điều gọi là khôn ngoan, nhưng thật ra là than thân trách phận bằng một
giọng cố làm ra vẻ tếu để giảm bớt sự bi thảm. Cách đây 3 năm, 2004, tôi có nhận
được một “message” của Vũ Thư Nguyên in lại Mười Điều về Hôn Nhân bằng Anh ngữ,
bên cạnh có dịch sang Việt ngữ bằng thơ lục bát. Tôi không biết ai là tác giả
của những bài dịch này. Tôi thấy hay và đã đóng góp với anh em bằng cách hiệu
đính lại một số câu, chữ cho xát nghiã. Thí dụ những câu sau đây:
Marriage
and love are purely matter of chemistry
That is
why wife treats husband like toxic waste
Hôn nhân
cùng với ái tình
Như hai
hóa chất rập rình hút nhau
Thế nên bà
vợ về sau
Coi chồng
như chất độc mầu da cam
A man is incomplete until he is married
After
that, he is finished
Đàn ông
không vợ chưa hùng
Vợ rồi là
kể… cáo chung cuộc đời
Cuối cùng là một
truyện kể thêm chưa ai chịu dịch. Tôi đánh liều dịch đại. Xin các bà các cô đừng
hỏi tội tôi. Tôi chỉ là người dịch tài tử, không chuyên nghiệp, nhất là không
phải tác giả của truyện này:
A
long married couple came upon a wishing well.
The wife
leaned over, made a wish and threw in a penny.
The
husband decided to make a wish too.
But he
leaned over too much, fell into the well, and drowned.
The wife
was stunned for a moment
but then
smiled: “ IT REALLY WORKS!”
Một đôi đã
lấy nhau lâu
Đứng trên
miệng giếng nguyện cầu nỗi riêng
Bà cầu và
ném đồng tiền
Ông
nghiêng mình khấn, ngã liền giếng sâu
Bàng hoàng
một thoáng chẳng lâu
Bà cười
tủm tỉm: “TA CẦU ĐƯỢC NGAY!”
Dịch thơ là để giới
thiệu với người ngoại quốc văn chương của nước mình. Trong hoàn cảnh hiện nay
chúng ta lại càng cần dịch nhiều hơn cho những người trẻ Việt Nam sống ở nước
ngoài có thể đọc và hiểu về văn học quê hương. Tôi không có chuyên môn dịch
thuật, chỉ chú tâm sưu tầm những bài đã được các vị khác dịch để giới thiệu
những nét hay đẹp của thơ Việt Nam. Trong thời buổi giao lưu đủ thứ, giao lưu
văn hóa phải được đặt lên hàng quan trọng. Chúng ta cần biết người và cũng cần
người biết chúng ta. Chính vì vậy mà tại Nhật, cũng như tại nhiều quốc gia tiến
bộ khác, số sách ngoại quốc dịch sang tiếng Nhật được xuất bản mỗi năm cũng
ngang ngửa như số sách viết bằng tiếng Nhật.
Nói chuyện dịch thơ
nhân buổi đầu xuân cũng là để tìm lại chút hương xưa, để đưa hồn về với những
mùa xuân đã đi qua trong mộng tưởng. Nơi đất khách quê người, xuân vẫn về nhưng
chúng ta không có cảnh xuân quê hương, không được hưởng không khí xuân, tình cảm
xuân như khi còn ở quê nhà. Trong khi đó, nhìn về quê hương, ta thấy đa số đồng
bào cũng đón xuân theo kiểu “Vui là vui
gượng kẻo là”. Chúng ta ở “bên trời lận đận” cũng chỉ còn biết nâng chén
rượu cay, ngâm câu thơ của cụ Tiên Điền để chia sẻ nỗi niềm với nàng Kiều
Những mình
nào có biết xuân là gì
Offrait-elle aux clients les délices entières,
Nul désir
ne venait pour ses joies printanières
(Lê Cao Phan dịch)
SÁCH THAM KHẢO
- Communion Cảm Thông, Vũ Hoàng Chương, Sài Gòn 1960. Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ.
- Tâm Tình Người Đẹp, Vũ Hoàng Chương, Editions Nguyễn Khang, Sài Gòn 1961.
- Chinh Phụ Ngâm và tâm thức lãng mạng của kẻ lưu đầy, Lê Tuyên, Văn Nghệ tái bản tại Hoa Kỳ, 1988.
- Histoire de Kieu, bản dịch Pháp ngữ của Lê Cao Phan, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1994, .
- The Story of Kieu, bản dịch Anh ngữ của Lê Cao Phan, Nhà xuất bản Văn Nghệ, TP HCM, 1996.
- Hoa Địa Ngục – The Flowers of Hell, thơ Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Ngọc Bích dịch sang Anh ngữ. Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 1996.