Phạm Hồng-Lam
Tại Cộng hoà Liên bang Đức, thời gian qua, có hai chuyện nổi bật, một ở địa đầu
miền bắc (Hamburg), và một ở địa đầu miền nam (München).
Ra mắt “Hội Xây Dựng Tượng Đài Tị Nạn Hambur“
Năm 2009 một biểu tượng lịch sử tỵ nạn cộng sản sẽ xuất hiện trên hải cảng
Hamburg.
Ngày 03.11.2007 „Hội Xây Dựng Tượng Đài Tỵ Nạn Hamburg“ đã ra mắt tại thủ phủ
bang Hamburg, nước Đức.
Dịp này, ông Hội trưởng Nguyễn Hữu Huấn cho biết, vào năm 2005 một số đồng bào ở
Đức đã ngồi lại thảo luận một phương án xây dựng tượng đài tưởng niệm thuyền
nhân và những người đã hy sinh trên đường tìm tự do, đồng thời để cảm ơn chính
quyền và nhân dân Đức. Nhiều địa điểm đã được nêu lên, nhưng cuối cùng Hamburg
được chọn, vì đó là nơi xuất phát và trở về của hai chuyến tàu Cap Anamur I và
II cứu vớt gần 12 ngàn người Việt.
Và các anh chị em ở Hamburg đã được giao phó việc lo thủ tục hành chánh để thành
lập Hội. Tháng 3 năm 2006, sau khi hoàn thành thủ tục lập hội tại toà án và được
sở tài chánh cấp giấy chứng nhận tính cách bất vụ lợi, Hội đệ đơn xin thành phố
Hamburg cho phép xây dựng một biểu tượng tỵ nạn tại cổng vào nơi tầu cập bến.
Biểu tượng này dự trù khánh thành vào năm 2009 nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập
Ủy Ban Cap Anamur và cũng là sinh nhật lần thứ 820 cảng Hamburg.
Mãi hơn 7 tháng sau, khi Hội còn đang chờ câu trả lời của thành phố, thì bỗng
trên nhật báo Hamburger Abendsblatt (ngày 25/26 tháng 11.2006) xuất hiện một bài
dài mang tựa đề "Tranh cãi về tấm bảng tưởng niệm". Qua bài báo này, người ta
mới vỡ lẽ là đã và đang có một nỗ lực cản ngăn lớn, xem ra không thể vượt qua
nổi của cộng đồng Do Thái tại Hamburg. Họ không muốn tượng đài của người Việt
được dựng ở địa điểm dự trù.
Quả thật, nơi địa điểm Hội muốn dựng tượng đài, đã có sẵn hai tấm bảng đồng của
người Do Thái được gắn từ thập niên 40 ghi lại thời kỳ dân Do Thái phải "vượt
biển" để trốn chạy sự truy nã của Đức Quốc Xã Hitler - một biểu tượng tàn ác
làm cho nhân dân Đức đến nay phải cúi đầu hổ thẹn. Trong khi đó, tượng đài
của người Việt lại là một biểu tượng để ghi công ơn nhân dân và chính phủ Đức -
một biểu tượng nhân đạo làm cho nhân dân Đức ngẩng mặt tự hào. Hai thái
cực trái ngược, hẳn là không thể ở gần nhau được! Phương chi dự án xây dựng của
người Việt lại quá lớn.
Ở Đức, đụng tới tập thể Do-thái là chuyện xem ra cấm kị. Vì thế, Hội đã phải nhờ
Ts. Neudeck và Ts. Ernst Albrecht dùng uy tín cá nhân để can thiệp với Thủ hiến
tiểu bang là ông Olé von Beust.
Mãi đến tháng 9.2007 Hội mới nhận được văn thư chính thức mời gặp của chính
quyền Hamburg. Trong cuộc trao đổi, sở văn hoá cho hay, Hamburg đang tiến hành
một chương trình tái thiết toàn bộ cảng để biến nó thành một cảng lớn nhất Âu
châu vào năm 2009. Chiếu theo quy trình thiết kế kĩ thuật chung và của cảng mới,
thì vì lí do an toàn cảng, sẽ không có một kiến trúc nào dưới dạng tượng đài
được dựng lên trong tương lai, nhưng vẫn có thể dựng lên những tấm bia. Vì thế,
sở đề nghị, thay vì làm một tượng đài như Hội đệ trình, thì có thể làm một tấm
bia bằng đồng để giới thiệu cho vô số du khách đến thăm viếng ở nơi này. Bia sẽ
được dựng ngay giữa cảng Hamburg.
Trước đó, Hội đã nhờ bà Anke de Vries, một nghệ nhân hội hoạ nồi tiếng, vẽ phác
họa tượng đài tỵ nạn cộng sản. Tượng đài, theo bản vẽ, là một khối cầu với hình
những làn sóng dữ và một con tàu đang với người, tất cả nằm trên một mặt phẳng
hình tam giác với bốn trụ chống cao. Bốn mặt trụ chống là 4 tấm bảng bằng đồng,
trong đó một mặt có hình bản đồ Việt Nam, ba mặt còn lại được viết bằng 3 thứ
tiếng Việt, Đức, Anh nội dung ghi lại những chuyến tàu với số lượng thuyền nhân
được cứu sống, đồng thời cảm ơn chính phủ, nhân dân Đức và tiểu bang Hamburg
cũng như Ủy ban Cap Anamur; và cuối cùng để tưởng niệm những người đã bỏ mình
trên đường tìm tự do...
Như vậy, dù không xây được một tượng đài như ý mong cầu, nhưng người Việt được
phép dựng một biểu tượng lịch sử của mình giữa cảng Hamburg, và biểu tượng này
(tấm đồng lớn với các biểu tượng và nội dung như đã dự thảo) sẽ được trao tặng
cho nhân dân Đức và sẽ trở thành sở hữu của tiểu bang Hamburg.
Ngày đó không xa, chỉ trong vòng 2 năm tới (2009)
Hamburg không những chỉ được mệnh danh
là Cánh Cửa Đi Ra Thế Giới (Das Tor zur Welt) mà còn được gọi thêm là
Cánh Cửa Của Tình Người (Das Tor der Menschlichkeit).
Dịp này, ông Hội trưởng đã giới thiệu thành phần nhân sự của Hội.
- Ban chấp hành:
Hội trưởng: Ô. Nguyễn Hữu Huấn (Hamburg), Hội phó: Ô. Lê Văn Hồng (Boernsen),
Thủ quỹ: Dr.med. Dương Anh Dũng (Wentorf) . Cùng với
31 ủy viên trên khắp nước Đức và các
đại diện ở Mĩ và Úc châu.
- Ban cố vấn:
Người Đức: Ts. Ernst Albrecht (CDU):
Cựu thống đốc tiểu bang Niedersachen (1976-1990), vị thống đốc đầu tiên của nước
Đức tiếp nhận thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam; một người con của ông, bà Ursula von
der Leyen, hiện là Bộ trưởng bộ gia đình trong chính phủ Đức.
Ông Freimut Duve (SPD): Nguyên
thành viên ban chấp hành đảng SPD tiểu bang Hamburg (1974-1989). Ts.
Rupert Neudeck: Sáng lập "Ủy ban Cap Anamur" (1979-1987).
Hiện là người sáng lập và chủ tịch tổ chức nhân đạo "Hội Mũ Xanh" (2003).
Người Việt: Sư bà Thích Nữ Diệu Tâm,
Thượng Tọa Thích Như Điển, Linh mục
Nguyễn Ngọc Long, linh mục Đỗ Ngọc Hà và Sư huynh Hà Đậu Đồng.
Mọi ủng hộ, xin chuyển vào trương mục của Hội Xây Dựng TDTN:
- Người nhận: Hamburger Gedenkstein Initiative e.V.
- Konto-Nr.: 3449444; BLZ: 200 700 24; Deutsche Bank PGK
- Ghi chú: Nếu muốn nhận giấy xin lại thuế, xin ghi rõ tên họ và địa chỉ.
(bản tin Phù Vân)
Giáo xứ Nữ Vương Hoà bình cầu nguyện cho các nhà đấu tranh
- Thánh lễ hôm nay là lễ có í nghĩa nhất
trong năm đối với tôi! Lễ vừa xong, mọi người còn đợi nhau ra cửa ở cuối nhà
thờ, thì một đồng hương đã nói to câu đó cho người khác cùng nghe.
– Vì bao nhiêu bức xúc của tôi từ nhiều
tháng nay hôm nay mới được nghe người khác nói lên và được cộng đoàn cùng chia
sẻ!
Chủ nhật 18.11.07. Tiết thu, trời không lạnh lắm. Trong nhà thờ, một phần vì
đông người, nên không khí càng ấm cúng. Một thánh lễ chủ nhật đặc biệt hơn
thường lệ: có tiếng chiêng rước đoàn tế tụng và ảnh tử đạo lên bàn thánh, có
niệm hương. Cộng đoàn công giáo München dâng lễ mừng 118 thánh tử đạo xưa và
đồng thời cầu nguyện cho những nhà hiện đang đấu tranh cho nhân quyền, nhân phẩm
trên quê hương Việt Nam. Một thánh lễ thật í nghĩa: nối liền kẻ chết với người
sống, đưa những cái chết oai hùng xưa để rọi chiếu í nghĩa cho những can đảm và
hi sinh của đời nay, lấy công nghiệp xưa để nhắc nhở về bổn phận sống hôm nay.
Nhịp cầu nối liền đó được phản ảnh một cách đặc biệt qua những lời nguyện mà
cộng đoàn cùng dâng lê Thiên Chúa:
- Trong cơn gian nan bách đạo, các Thánh tử đạo VN đã thắng vượt được sợ hãi, vì
các ngài vững tin rằng luôn có Chúa nâng đỡ bên mình. Xin Chúa cho người VN
chúng con, đặc biệt cho những nhà tranh đấu cho nhân quyền nhân phẩm tại quê
hương chúng con, có được can đảm để lướt thắng sợ hãi, hầu hoàn thành sứ mạng
sống chứng tá của mình.
- Các Thánh tử đạo VN đã chiến thắng hận thù, vì các ngài vững tin vào lượng
tình yêu vô biên của Chúa. Xin Chúa soi sáng cho những người cầm quyền cộng sản
tại VN biết từ bỏ chủ nghĩa hận thù, mà trả lại tự do cho các nhà đấu tranh,
và trả lại nhân quyền cho người dân Việt nam.
- Các Thánh tử đạo VN đã lấy cái chết của mình để tuyên xưng quyền làm người và
sự tự do của cuộc sống. Rất nhiều nhà đấu tranh cho nhân quyền nhân phẩm tại VN
đã phải chết, bằng nhiều cách. Họ là những ki-tô hữu hoặc chưa phải là ki-tô
hữu. Xin Chúa thương đưa tất cả những linh hồn đó vào chốn an nghỉ ngàn năm của
Ngài.
- Trong tù ngục hoặc trên đường ra pháp trường, các Thánh tử đạo xưa hẳn đã âu
lo, và cầu nguyện nhiều cho thân nhân gia đình mình, cho đồng đạo mình. Xin Chúa
chở che và ban bình an cho các gia đình, các thân nhân, và những chí hữu của các
nhà đấu tranh hiện nay.
- Nhờ sự kiên cường và hi sinh mạng
sống của các Thánh tử đạo xưa, mà chúng con có được một Giáo hội sinh động như
ngày nay. Xin Chúa cho chính chúng con cũng biết hi sinh dũng cảm sống đạo, để
không ngừng làm đẹp bộ mặt Giáo hội tương lai cho các thế hệ con cháu chúng con.
Thánh lễ hôm nay, thực ra, đã khởi sự từ tháng 7. Dịp đó, vì
bức xúc trước cảnh Mẹ sầu bi bị đập nát ở Ninh bình và cảnh xử oan ức đối
với linh mục Nguyễn Văn Lý vào cuối tháng 3, cũng như các vụ bắt bớ, tống giam
các nhà đấu tranh khác sau đó, một số tín hữu trong Giáo xứ đã họp nhau thảo
luận, tìm hiểu sự việc. Sau buổi thảo luận, các tham dự viên đã yêu cầu Ban văn
hoá Gx liên hệ với Ban tuyên uý xin một thánh lễ cầu nguyện đặc biệt cho tất cả
những người đã và đang hi sinh tranh đấu cho quyền làm người và cho phẩm giá con
người tại Việt Nam. Phải đợi cho dịp nghỉ hè qua đi. Sau đó, Giáo xứ lại phải lo
việc mừng 25 năm thành lập (tường thuật trên DĐGD, số 73). Cuối cùng, linh mục
quản xứ đã đề nghị cùng dâng lễ chung vào ngày mừng các thánh tử đạo VN, để tăng
phần í nghĩa và long trọng.
Không những dâng lễ cầu nguyện, mà số tiền quyên trong thánh lễ hôm đó cũng được
Giáo xứ đồng í chuyển về, gọi là chút quà Giáng sinh tượng trưng, cho các nhà
đấu tranh.
Dịp này, thay mặt cộng đoàn, Ban văn hoá cũng đã viết thư gởi về một số nhà đấu
tranh để cám ơn sự dấn thân và hi sinh của họ cũng như của gia đình và thân nhân
họ, đồng thời để tỏ lòng hãnh diện và tình liên đới với họ.
Lá thư viết cho luật sư Nguyễn Văn Đài, có đoạn:
(…) Thưa Anh, chúng tôi có theo dõi các phiên toà và các bản án vô lí của Anh và
chị Công-Nhân. Trước đó, hôm 18.11.07, Cộng đoàn Giáo xứ chúng tôi tổ chức thánh
lễ cầu nguyện cho Anh và các bạn đấu tranh của Anh. Chúng tôi cầu đức Chúa Trời
ban cho Anh được kiên vững thắng vượt sợ hãi để luôn trung thành với vai trò
chứng nhân con Chúa. Chúng tôi cầu cho gia đình Anh được chở che khỏi mọi sự dữ.
Chúng tôi cũng cầu xin cho những người cộng sản cầm quyền hiện nay biết nghĩ tới
Dân tộc và Đất nước, mà trả tự do cho các Anh Chị, trả nhân quyền và trả tổ quốc
lại cho nhân dân Việt Nam (…).
Một đoạn trong thư gởi linh mục Nguyễn Văn Lý:
(…) Cuộc đời mấy chục năm đấu tranh cho con người và lao tù của Cha phản ảnh số
phận đau thương của Giáo hội và Đất nước Việt Nam dưới chế độ cộng sản. Dân tộc
Việt Nam phải có một số phận khác. Giáo hội Việt Nam phải sống làm sao để khỏi
phụ lòng các thánh tử đạo tiền nhân.
Sự dấn thân của Cha và của các bạn hữu của Cha là nỗ lực giúp người dân Việt Nam
có được một số phận khác và Giáo hội Việt Nam có được bộ mặt chứng tá xứng đáng.
Cộng đoàn rất trân trọng và cám ơn cũng như liên đới với Cha trong việc chứng tá
dũng cảm, đầy lòng yêu nước của Cha. Xin Chúa Hài đồng luôn đồng hành với Cha,
mọi nơi, mọi lúc (…).
Với luật sư Lê Thị Công-Nhân:
(…) Thưa Chị, Cộng đoàn Công giáo Việt nam („Giáo xứ Nữ vương Hoà bình“) tại thủ
phủ München và các vùng phụ cận thuộc bang Bayern, miền nam nước Đức vừa kỉ niệm
25 năm ngày thành lập. Trong ngày đó, chúng tôi tạ ơn Thiên Chúa đã cho chúng
tôi được sống 25 năm trong hoà bình và tự do.
Nhưng dịp lễ cũng đã nhắc nhở chúng tôi về một thực tế: Tại sao chúng tôi lại
phải mừng 25 năm cuộc đời nơi đất khách? Tại sao chúng tôi lại phải có mặt ở
đây, trên một miền đất sung túc và an lành, nhưng vẫn cảm thấy lạc lỏng?
Thực tế đó bắt chúng tôi nhớ về quê hương (…). Chúng tôi nhớ về Chị và những
người tuổi trẻ đang đấu tranh cho nhân quyền, nhân phẩm tại quê nhà, những người
đang hi sinh chính hạnh phúc mình để xoá đi cái nạn kia, hầu người dân Việt ở
trong nước có được cơ hội sống cho ra người, hầu chúng tôi ở hải ngoại dám ngẩng
cao đầu hãnh diện làm người Việt Nam (…) Chúng tôi xin Thiên Chúa ban cho Chị
chân cứng đá mềm, luôn giữ được tấm lòng ngay thẳng, bền đỗ trong ơn gọi làm
người chứng tá của đức Chúa Trời.
Cũng nhân dịp lễ Giáng sinh sắp đến, chúng tôi đại diện Cộng đoàn gởi tới Chị lá
thư này, để nói lên tâm tình cảm ơn, liên đới và hãnh diện của tất cả chúng tôi
đối với Chị (…)
Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người Công-Nhân
Cho chúng tôi gởi lời thăm hỏi và lời chúc bình an tới người Mẹ nhân hậu và can
đảm của Chị.
Giáo xứ München là một cộng đoàn nhỏ. Những việc làm hay kết quả gặt hái được
của cộng đoàn cũng thật nhỏ. Nhưng hi vọng những cái nhỏ nhặt trên là một ngọn
lửa sưởi ấm lòng người trong lao tù cô đơn. Ước gì, từ các cộng đoàn và tập thể
khác trên khắp thế giới, những ngọn lửa nhỏ nhoi ấy cũng được thắp lên, bằng
cách này hay cách khác. Và ánh sáng của hàng trăm, hàng ngàn ngọn lửa không
những sẽ làm ấm lòng người, mà còn sẽ đốt rực sáng cả quê hương.