ĐỌC THƯ CHUNG CỦA

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

 

     Hội Đồng giám Mục (HĐGM) Việt Nam vừa phổ biến một Thư Chung gởi cho toàn thể giáo dân. Lá thư là kết quả làm việc trong suốt một tuần lễ của các vị vừa là lãnh đạo, vừa elite của Giáo Hội.

     Người tín hữu công giáo đọc Thư Chung cũng như bọn học trò thời xưa đọc Anatole France “….. Hàng năm cứ mỗi độ thu về …” Đặc tính của Thư Chung là nó trở lại mỗi năm vào khoảng cuối thu hoặc đầu đông sau khóa họp thường niên của HĐGM. Lá thư, người gởi chung đã vậy, mà người nhận cũng chung nốt. Nhất là nội dung nói đến trong thư đều là những điều rất chung chung. Thư nói rằng gởi đến toàn thể cộng đồng dân Chúa Việt Nam , trong nước cũng như hải ngoại. Thế nhưng chuyện này cũng nên minh bạch để tránh ngộ nhận. Nếu bạn là người công giáo Việt Nam sống ở trong hay ở ngoài nước, không bị rút phép thông công thì OK, bạn là người có quyền nhận thư. Nhưng nếu bạn là người VN tỵ nạn, đã thay đổi quốc tịch, và nhất là đã gia nhập vào giáo hội địa phương thì có phần  chắc bạn không phải là người được HĐGM ưu ái gởi thư cho đâu. Nói thế là bởi vì Thư Chung là một lá Thư Mục Vụ. Khi bạn gia nhập vào giáo hội địa phương rồi thì bạn không còn nằm trong trách nhiệm mục vụ của các đức giám mục VN nữa. Bạn không còn phải là đối tượng được nhận Thư Chung của các ngài.

     Nhưng đấy chỉ là lý thuyết. Chẳng ai cấm bạn tìm đọc lá thư chung này. Đảng CS mỗi lần đại hội đều có đúc kết bằng một văn kiện gọi là cương lĩnh chính trị. Đây cũng là một hình thức thư chung, nhưng với một cái tên khác. Cương lĩnh chính trị buộc các đảng viên phải học tập hầu thấu triệt đường lối của đảng để thi hành. Thế nhưng chẳng ai cấm cản người ngoài đảng đọc cương lĩnh của đảng. Thư Chung cũng thế. Tuy nói là gởi cho giáo dân VN, nhưng mọi người ai muốn đọc thì cứ đọc thoải mái. Người viết tuy không có tư cách nhận Thư Chung, nhưng cũng muốn tò mò tìm đọc thử và xin được ghi lại một số cảm nghĩ riêng tư sau khi đọc thư của các ngài.

     Trong phần cuối Thư Chung, HĐGM đặt ra chỉ tiêu 3 bước để thực hiện công cuộc chỉnh đốn giáo dục: năm 2008, chấn chỉnh môi trường giáo dục gia đình công giáo. Năm 2009, chấn chỉnh việc đào tạo giáo lý viên.  Năm 2010, chấn chỉnh cơ sở giáo dục các giáo xứ (pđ 38). Thế nhưng ngay ở đầu lá thư, khi biện lý cho chủ trương của mình, HĐGM lại nói rất bao quát rằng đã đến lúc cần phải cương quyết nói không với tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục (pđ 2), ngầm hiểu rằng trên toàn đất nước. Giáo dân chắc sẽ không hiểu HĐGM muốn chấn chỉnh việc giáo dục của toàn xã hội hay chỉ giới hạn trong phạm vi nội bộ GH thôi. Trong bài viết này, chúng tôi tạm hiểu tham vọng giáo dục của HĐGM bao quát trên toàn xã hội VN hiện nay.

       Để dễ theo dõi bài viết, xin quí bạn đọc lưu ý điểm sau đây. Thư Chung là một văn kiện rất academic về hình thức. Nghĩa là bố cục đúng theo mẫu mực trường qui, gồm đủ các phần mở bài, thân bài và kết luận có đề chữ đàng hoàng. Mỗi phân đoạn được đánh dấu bằng một con số thứ tự. Từ đầu đến cuối, có tất cả 39 con số tức 39 phân đoạn. Sự kiện liên quan đến Thư Chung hoặc đoạn văn được trích dẫn từ phân đoạn nào sẽ được người viết đánh số của phân đoạn đó, để khi cần, quí vị có thể dễ dàng tham chiếu.

     Bây giờ người viết xin được đi vào trình bầy cảm nghĩ của mình về Thư Chung.

 

1/  Thực tế là ảo tưởng 

     Nhận định tổng quát của người đọc Thư Chung là lá thư năm nay mang một nội dung khá tích cực. Đã nói lên được một vài điều nên nói. Chủ đích của nó đáng được đề cao. Ra tay cứu một con bệnh thập tử nhất sinh là việc cần làm. Thế nhưng nếu tin tưởng rằng những điều viết trong Thư Chung có khả năng thực hiện được lúc này tại VN thì chẳng khác nào chuyện mơ hái sao trên trời hay mò trăng dưới nước. Thực vậy, không phải là chính Thư Chung đã xác nhận điều đó sao: “Nhưng cũng đáng tiếc là đối với các tổ chức tôn giáo tại Việt Nam , cánh cửa giáo dục vẫn còn khép chặt …………. Giáo Hội công giáo, với tư cách là tổ chức tôn giáo, đành phải đứng bên lề sự nghiệp giáo dục của xã hội Việt Nam và, vì không có quyền nhập cuộc, đành phải đóng vai một quan sát viên bất đắc dĩ  (pđ 19). Đã biết là bất khả thi mà còn đề ra công việc đội đá vá trời như thế nghĩa là sao? Có phải đã có ai đó - vô tình hay cố ý - muốn show up để vừa nở mặt chủ vừa để bịp giáo dân khờ, hoặc với một mục đích thầm kín nào khác?  

     Người đọc Thư Chung này là một con chiên. Nếu tôi gọi các đức giám mục bề trên của tôi là những người mắc chứng mộng du thì quả là chẳng lịch sự chút nào, còn có thể bất kính nữa. Nhưng mà hỡi ôi, nếu các ngài không phải đang mộng du thì tại sao các ngài lại làm chuyện dã tràng xe cát Biển Đông đến như thế được? Làm sao GH có thể phát triển được một nền giáo dục theo đường lối riêng của mình trong lúc chính mình bị chặt tay bẻ giò, bịt mồm bịt mắt. Chưa nói đến chuyện mở rộng nền giáo dục đó ra bên ngoài xã hội. “Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhà trường lãnh đạo nhà trường và hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật  (Điều 51 Luật Giáo Dục 1998). Có nhà trường nào nằm ngoài sự kiểm soát của đảng, kể cả các chủng viện. Vậy thì nền giáo dục công giáo mà các đức giám mục dự định triển khai sẽ được khai triển ở đâu? Chả cần phải là dân làm ruộng, người ta cũng biết rằng, muốn gieo giống thì trước hết phải có chủ quyền trên miếng đất, hoặc ít nữa là tờ giấy cho phép canh tác trên đó. Ngoài ra còn phải xới đất, giọn cỏ v.v. rồi mới gieo giống. Qui trình canh tác bắt buộc phải thế. Nếu có ai khơi khơi đem lúa giống ra gieo trên đất hoang thì kết quả sẽ ra sao. Mất trắng tay là điều biết trước được. Nhưng nếu nhờ phúc đức ông bà còn có chút thu hoạch thì nhất định mọi người sẽ lại được nghe một ca khúc quen thuộc: 

                                             Mất mùa là bởi thiên tai

                                             Được mùa là tại thiên tài đảng ta

      Đấy là mới nói về mặt thực hành. Còn trên bình diện lý thuyết, nỗ lực của HĐGM cũng vẫn là dã tràng xe cát Biển Đông. Có ai lại không biết nền giáo dục công giáo là một nền giáo dục nhân bản, lấy con người làm gốc. Trong khi chủ nghĩa Marxit trái lại chủ trương đào tạo con người thành những công cụ mà chủ nhân ông của các công cụ sống đó là đảng CS. Luật pháp CS khẳng định: “Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ………… lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” (Điều 3 Luật thượng dẫn). Hai nền giáo dục hoàn toàn tương khắc đó làm sao cùng tồn tại và tương hợp được trong cùng một cơ chế chính trị mà đảng CS làm chủ như hiện nay! Tình trạng GH phải đứng bên lề sự nghiệp giáo dục của xã hội có phải là kết quả của hai nền tảng triết lý giáo dục Công versus Cộng mà ra không? Mơ ước phát triển nền giáo dục công giáo trong một đất nước CS như vậy phải nói sao đây: là mộng du, là hái sao trên trời, hay là mò trăng dưới biển?!

 

2/  Nếu muốn nói “Không” với tiêu cực.   

     Ngay trên những dòng đầu của lá thư, HĐGM cho biết “Thư Chung năm nay lấy giáo dục kitô giáo làm chủ đề (pđ 2)”, và ngay sau đó, các ngài biện lý “… tại Việt Nam, nhiều người cho rằng đã đến lúc cần phải cương quyết nói không với tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục (pđ 2)”. Chúng tôi thiết nghĩ bất cứ ai, cho dù những người chống đối HĐGM quyết liệt nhất, cũng phải thừa nhận việc các ngài mong muốn chấn chỉnh nền giáo dục trong nước lúc này là hợp lý. Khai hóa tất yếu phải bắt đầu từ giáo dục. Con bệnh đã đến hồi nguy kịch phải lo chạy chữa. Việc tuy có trễ một chút, nhưng có vẫn còn hơn không. Tìm thầy hốt thuốc thì dễ rồi, nhưng còn hết bệnh hay không thì lại là chuyện khác. Lâu lắm rồi, lần đầu tiên người ta thấy các đức giám mục VN muốn nói tiếng “Không” với tiêu cực và bệnh thành tích (pđ 2). Nhưng muốn nói được tiếng này có hiệu lực, ít nhất các ngài phải có hai điều kiện là Tự Do bản thân và Nội Lực thâm hậu trước. Khi còn phải sống kềm kẹp trong cơ chế Xin/Cho thì làm sao GH có tự do bản thân. Và, GH có được bao nhiêu Power khi những người lãnh đạo GH sống xa rời quần chúng? Mấy chục năm nay người ta chưa thấy GH nói được tiếng “Không” nào bao giờ. Nay GH muốn nói là nói được sao? Nếu có được nội lực, thiết tưởng GH đã nói tiếng đó từ lâu lắm rồi. Người Nhật thua trận muốn nói tiếng “Không” với người Hoa Kỳ, họ cũng phải cố gắng tự cường hàng mấy chục năm trời mới nói được. Khi hòn đảo bé nhỏ Đài Loan muốn nói “Không” với Trung Cộng, họ cũng không thể tự nhiên mà nói được đâu. Việt Nam Cộng Hòa vì không đủ nội lực mà dám nói “Không” với Hoa Kỳ nên đã chết không kịp ngáp. Đức cố GM Nguyễn Kim Điền đơn độc nói “Không” với CS về nhiều vấn đề như chuyện các linh mục trong giáo phận Huế tham gia guồng máy phỉ quyền của CS, chuyện giáo dân bị bắt đi lao động xã hội chủ nghĩa mà phải bỏ lễ các ngày Chủ Nhật v.v. nên đã bị CS đầu độc chết. Các đức giám mục VN đã làm được những gì để củng cố sức mạnh của mình? Thánh đường nguy nga, lễ lạc linh đình hoàn toàn không biểu hiện sức mạnh nội tại của GH. Sức mạnh đó là lòng tin của quần chúng giáo dân vào HĐGM. Bỏ đi cái này để dựa vào bạo quyền hầu phô trương vẻ hào nhoáng bên ngoài chỉ là thả mồi bắt bóng. Khi chế độ bị dẹp tan, GH sẽ tìm đâu nơi nương tựa. Có phải mất cả chì lẫn chài không? Hơn nữa chính sách của bạo quyền là duy trì tiêu cực để củng cố quyền hành. Nói cách khác, đẻ ra và nuôi dưỡng các tệ đoan, điều hành và kiểm soát được các hình thái tiêu cực đó như hiện nay chính là phương pháp cai trị thành công của phỉ quyền Hànội. Vậy thì ai là người có quyền và đủ khả năng nói “Không” với tiêu cực đây? Vả lại chính cái cơ cấu quyền hành đã là tiêu cực lớn nhất rồi thì các giám mục có dám nói tiếng “Không” với nó không? HĐGM nói “Không” với tiêu cực có khác gì là nói “không” với bạo quyền. Nếu không nguy hiểm đến tính mạng thì cũng là vô ích.  

     Chỉ xin đưa ra một đề nghị rất nhỏ thôi để HĐGM thử xem sao. Theo Quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 23.2.2004, sinh viên các trường cao đẳng và đại học toàn quốc bắt buộc phải thi tốt nghiệp ba môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiến thức cơ sở của ngành và kiến thức chuyên môn. Các môn học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh hiện đang được giảng dạy tại tất cả các trường đại học và cộng đồng gồm triết học Mác-Lênin, kinh tế Chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học, lịch sử đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh. Dĩ nhiên các chủng viện của GH cũng buộc phải dậy các môn này. Những môn học này hoàn toàn không phù hợp với chương trình đào tạo linh mục. Triết học Marx phủ nhận Thượng Đế không thể củng cố đức tin nơi các chủng sinh. Cuộc đời lưu manh, tàn bạo, và sa đọa của Hồ Chí Minh không thể lấy làm mẫu mực và kim chỉ nam cho cuộc sống tu hành của các linh mục. Như vậy nếu HĐGM muốn nói “Không” thì kính xin đề nghị các ngài thử chỉ nói “không” điểm này thôi với bạo quyền xem sao. Nếu tiếng “Không” này đem lại kết quả thì may ra người ta còn có thể tin được vào việc làm của các ngài.

 

3/   Sự thật được mạ vàng

     Có thể nói –và đúng là- ¾ nội dung Thư Chung là phần thuyết giảng (homily) về đường hướng, sự quan trọng , và lợi ích của nền giáo dục công giáo, rất khuôn phép nhà thờ. Phần này người viết xin miễn đề cập tới. Với người viết, quan trọng nhất trong Thư Chung là phần nhận định những mặt tích cực và tiêu cực trong nền giáo dục hiện nay (pđ 8-15). Đáng lẽ người ta nên thêm vào cuối của phần nhận định này ý kiến đánh gía tình hình giáo dục như sau mới đúng formula hiện nay được dùng ở trong nước: Những dấu hiệu lạc quan là cơ bản. Những mối lo ngại chỉ là nhất thời. Cần phát huy các thành tựu cơ bản đã đạt được, và cố gắng khắc phục những lo ngại còn tồn tại.

     Dù sao cũng nên công nhận việc nhận định thực trạng giáo dục của HĐGM năm nay so với một số lần trước đây có phần thành thật và trung thực hơn rất nhiều. Lấy thí dụ Thư Chung của HĐGM năm 1992 viết: “Thiếu nhi nói chung được chăm sóc thích đáng của mọi tầng lớp nhân dân, đang có triển vọng ngày càng trở nên ngoan ngoãn hơn. Thanh niên nam nữ có tài năng trí tuệ và đầy nhiệt tình biết dấn thân phục vụ trong nhiều lãnh vực (Báo CG&DT số 881-88 ngày 1-11-92)”. Thế nhưng cũng trong cùng số báo, bài tường thuật về kỳ đại hội đoàn Thanh Niên CS lại viết khác hẳn: “Trong thập niên qua, tình trạng thể lực, vấn đề giáo dục, nếp sống đạo đức trong thanh niên đang ở trong tình trạng báo động ngày càng sa sút. Số học sinh bỏ học, lưu ban ngày càng gia tăng. Trẻ em phạm pháp ngày càng gia tăng nhất là ở những thành phố lớn … báo động về thực trạng đối với tương lai mọi người chúng ta không khỏi xót xa (Báo CG&DT thượng dẫn)”. Nhiều người quan tâm đã có một thời lo ngại chứng bệnh khoe thành tích đã ăn vào nếp sống của HĐGMVN. Có thành tích thực để khoe là điều tự nhiên. Nhưng khoe theo cách thay đen đổi trắng như Thư Chung năm 1992 thì quả thật phải nói là xạo hết chỗ chê. Những người đại diện cho Đấng là Sự Thật lại nói điều dối trá để mua lòng bọn lưu manh dối trá thật là điều khó có thể tưởng tượng nổi.

     Thư Chung năm nay tuy nói là trung thực hơn, nhưng vẫn còn có những nhận định rất chủ quan và thiếu thực tế. Chẳng hạn cho rằng những trung tâm luyện thi, lớp học ngoại khóa mọc lên như nấm khắp nơi là một dấu hiệu lạc quan (pđ 8). Thực tế khách quan là nếu ông thầy dậy đúng theo lương tâm chức nghiệp và nếu học trò cũng cố gắng hết sức học hành thì bảo đảm không có tình trạng thầy mở cua riêng và trò phải đến lớp riêng của thầy để học. Rất nhiều báo trong nước đã nói lên sự thật về tình trạng là nếu ông thầy không mở cua riêng, ông thầy sẽ chết đói. Chỉ trông vào đồng lương, ông thầy và vợ con ông không đủ húp cháo trắng cầm hơi. Học trò không học cua riêng của ông thầy, học trò đừng hòng đủ điểm để lên lớp. Tình trạng nhà trường hiện nay cũng giống như một trung tâm dậy võ. Ông võ sư dậy đủ chiêu, nhưng luôn thủ lại bí kíp để vừa phòng thân vừa câu đồ đệ, còn môn sinh cũng đua nhau tìm cách để được là đệ tử chân truyền và được sư phụ truyền bí kíp tuyệt học lại cho mình. Đấy là một thực trạng đau lòng, cả thầy lẫn trò đều biết và cùng chia sẻ chung một nỗi nhục để sống còn. Chỉ có HĐGM cho đó là một dấu hiệu lạc quan!

     Một dấu hiệu lạc quan khác mà Thư Chung tự hào nêu lên là lý lịch Thiên Chúa Giáo không còn bị kỳ thị và phân loại như trước đây và nhờ đó số sinh viên CG bậc đại học tăng lên đáng kể (pđ 9). Việc ngày nay CS giảm bớt kỳ thị vì lý do công giáo là một sự thực không ai phủ nhận, nhưng cũng nên hỏi xem tại sao. Trả lời cho vấn đề cũng dễ thôi. Chỉ cần đặt ra vài câu hỏi thế này người ta có thể biết được nguyên lý của sự việc. Tại sao các nhà thờ công giáo được tự do xây cất nguy nga hoành tráng, còn mấy nhà nguyện xập xệ của GH Mennonite lại bị công an ủi sập lên sập xuống? Tại sao các ngài Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Lm Phan Văn Lợi v.v. ra ngõ nửa bước cũng bị cấm cản trong khi các hồng y, giám mục được tự do đi du lịch, đi mục vụ xin tiền như đi chợ. Và câu hỏi sau đây sẽ đi vào trọng tâm của vấn đề muốn tìm hiểu: các con em học sinh thuộc giáo hội Mennonite liệu có được dễ dàng thu nhận vào đại học mà không bị kỳ thị và phân biệt như học sinh sinh viên công giáo không? Câu trả lời chắc chắn là không. Vậy thì lý do nào khiến học sinh công giáo không còn bị kỳ thị và phân loại? Chúng ta đã có câu trả lời của Lm Chân Tín từ lâu về vấn đề này rồi. Đại khái Lm Chân Tín nói: Tôn giáo sẽ được hoàn toàn tự do khi CS đã thuần hóa xong được các tôn giáo. Nói như vậy có nghĩa là mức độ giảm bớt kỳ thị ở trường học đối với học sinh sinh viên công giáo tùy thuộc vào việc Giáo Hội CG chịu thuần hóa đến mức độ nào, nhiều hay ít. Khi GHCG đã bị hoàn toàn thuần hóa rồi thì không phải là chỉ có sinh viên học sinh hết bị kỳ thị ở nhà trường, mà chắc chắn còn hơn thế nhiều, GH muốn hồng y sẽ có hồng y, muốn giám mục có giám mục, muốn có tổng giám mục sẽ có tổng giám mục, và muốn bao nhiêu linh mục sẽ có bấy nhiêu linh mục, muốn xây cất sửa sang thế nào mặc sức, muốn đi Tây đi Mỹ lúc nào tùy tiện. Cứ nhìn vào tình hình GH hiện nay, người ta sẽ cảm nghiệm được sự nhận định sáng suốt của Lm Chân Tín.

 

4/   Những chuyện ngoài lề

     Có dăm ba chuyện nhỏ ngoài lề nội dung chính của Thư Chung nhưng cũng có liên quan xa gần đến khóa họp của HĐGM, bỏ qua cũng được, mà nói ra cũng không phải là thừa. Người viết xin ghi lại như sau:

4.1 - Ngay trên đầu Thư Chung, HĐGM có bầy tỏ niềm cảm thông và phân ưu sâu sắc đối với các thân nhân và nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ và trận bão Lekima (pđ 1). Người viết đọc mỏi mắt cũng không tìm ra những tâm tình chia sẻ tương tự đối với các đồng bào dân oan đi khiếu kiện ròng rã năm này qua năm khác từ Bắc chí Nam, các công nhân tại Bình Dương đang đình công vì bị chủ ngoại quốc bóc lột quá mức. Đọc Thư Chung thấy các đức giám mục viết: Kitô hữu cần quan tâm hơn đến những thành phần thường bị xã hội ruồng rẫy, khinh miệt, lãng quên …. … (Pđ 22). Có thể vì thông tin trong nước bị bưng bít nên các giám mục không biết đến những chuyện thương tâm đó mà bỏ quên các nạn nhân không nhắc đến trong Thư Chung. Hoặc giả cũng có thể chuyện bỏ quên này chỉ là sơ sót ngay tình của các ngài. Mong là như thế, nhưng vẫn cảm thấy có cái gì độc ác và bất nhẫn, nên cứ buồn buồn sao ấy.

4.2 - Nghị trình làm việc trong khóa họp được phổ biến trước đây nhiều tháng trên trang Web của HĐGMVN có mục các ngài bàn về vấn đề cha Nguyễn Văn Lý. Nhưng kết quá khóa họp được công bố lại không thấy có vấn đề này. Không biết vấn đề bị bỏ quên vì lý do gì cũng không thấy được giải thích. Vấn đề mà giáo dân trông đợi được HĐGM làm sáng tỏ thật ra không phải là chuyện cá nhân linh mục Nguyễn Văn Lý, mà là chuyện hoạt động cho tự do tôn giáo, nhân quyền và công bằng xã hội của cha Lý so với việc các linh mục hiện tham gia vào các cơ cấu phỉ quyền bán nước thì ai là người làm chính trị, ai không. Nghị trình họp bàn đã được công bố trước đây có giá trị như một lời hứa với giáo dân. Tự động bỏ đi một lời hứa mà không giải thích thì đúng lý phải gọi là hứa cuội hay hứa lèo? Chứ còn gì nữa.

4.3 - Chuyện mục vụ xin tiền bừa bãi, chuyện xây nhà thờ, nhà xứ, sửa tu viện nguy nga tráng lệ quá mức, chuyện dung dưỡng quá đáng thành phần linh mục sa đọa và thoái hóa về đạo đức v.v. là những vấn đề nhức nhối đang làm mất niềm tin của phần lớn giáo dân vào GH, và tạo sự mất đoàn kết giữa con chiên với chủ chăn. Những vấn đề quan trọng này đã được dư luận và báo chí phản ảnh quá nhiều rồi. Nguyện vọng của giáo dân là xin HĐGM cứu xét hầu chấn chỉnh lại. Giáo dân tin rằng HĐGM trong kỳ họp này sẽ đem ra thảo luận để tìm biện pháp sửa chữa, nhưng lại thấy các ngài im re. Nếu những nguyện vọng trên là sai, HĐGM cũng nên giải thích cho giáo dân hiểu. Còn nếu là đúng thì tại sao các ngài lại không ngó ngàng gì tới? Như thế tình trạng chia rẽ sẽ càng ngày càng lớn hơn. Các đức giám mục hẳn không thể không biết lời Chúa dậy trong Phúc Âm: “Bất cứ nước nào tự chia rẽ, thì sẽ điêu tàn. Bất cứ thành nào hay nhà nào tự chia rẽ, thì sẽ không tồn tại (Mt 12,25)”. Tìm biện pháp hàn gắn chia rẽ trước rồi mới hành động sau chắc chắn là cách thức xử lý công việc khôn ngoan và hữu hiệu hơn. Chỉ mong có thế mà không được, càng buồn thêm.

4.4. – Trong thời gian HĐGM họp đại hội, một nhân vật làm báo vừa có tiếng vừa bị mang tiếng tung lên một vài trang web một bản văn có tên là “Tuyên Bố của đại diện các đoàn thể yểm trợ Giáo Hội Việt Nam (nhân dịp đại hội thường niên lần thứ 10 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam)”. Bản Tuyên Bố gồm 26 người ghi tên nhưng không có chữ ký đại diện 26 tổ chức và hội đoàn hầu như tất cả đều thuộc vùng Nam Cali. Nếu người làm bản Tuyên Bố ghi thêm các hội trống, hội trắc, hội kèn đồng, hội kèn bu dzíc v.v. của vùng Nam Cali vào danh sách thì có lẽ còn sầm uất náo nhiệt hơn gấp bội. Thường thì chỉ trong chính trị khi ở vào thế bí, uy tín và ảnh hưởng xuống dốc quá, các chính khứa mới chơi trò tuyên ngôn, tuyên cáo ủng hộ để lên gân cho vững mà thôi. Không ngờ HĐGM họp mà các con chiên ngoan đạo cũng lại làm cái trò ma mãnh này. Thật là hết khôn dồn đến dại, các ông ra tuyên ngôn đã làm hại HĐGM mà không biết. Theo bản Tuyên Bố chỉ có bấy nhiêu hội đoàn vùng Nam Cali lên tiếng ủng hộ HĐGM (chưa lý đến thực chất của các hội đoàn và giá trị của các chữ ký). Vậy chứ còn hàng trăm, hàng ngàn hội đoàn công giáo ở khắp năm châu bốn bể không ký là họ không ủng hộ HĐGM sao? Thử hỏi phe ký nhiều hay phe không ký nhiều? Bao nhiêu phần trăm ủng hộ HĐGM, bao nhiêu phần trăm không? Hỏi là hỏi chơi vậy thôi, người viết hoàn toàn không nghĩ thiển cận như vậy, mà chỉ muốn chỉ ra cho thấy mấy ông luật sư, bác sĩ gì mới làm một việc cỏn con thôi mà đã lòi cái đuôi dốt ra rồi.

4.5 - Thường sau mỗi kỳ họp đại hội, HĐGM đều vào lăng viếng “bác hồ” để tỏ lòng hiếu kính, rồi sau đó đến bái kiến các ban ngành nhà nước như thú tướng, chủ tịch nước v.v. để được ban phép lành và nhận khen thưởng. Nhưng năm nay không thấy có mục vào lăng viếng “bác”. Thiếu đi mất một nghi lễ quan trọng có lẽ có một vài vị trong HĐGM tiếc hùi hụi.

 

5/   Lời kết

     Trong phần kết của Thư Chung, HĐGM nêu phương châm: Giáo dục hôm nay, xã hội và Giáo Hội ngày mai (pđ 39). Câu phương châm này cũng được xử dụng làm tiêu đề của Thư Chung. Phương châm có ý nghĩa lắm, nhưng nói mà chơi, hay biện cho cùng lý thì ở đây xem ra cũng có vấn đề. Nếu giáo dục hôm nay, xã hội và Giáo Hội ngày mai, vậy thì xã hội và Giáo Hội hôm nay là của hôm nào? Chắc chắn phải là của hôm qua. Có đúng không? Theo ý nghĩa được hiểu trong câu phương châm, hôm nay là thời hiện tại, ngày mai là tương lai đang đến, và hôm qua là thời gian trước thời hiện tại. Như vậy “hôm qua” được hiểu là thời chế độ Việt Nam Cộng Hòa (nếu chỉ tính ở miền Nam ). Nghĩ thế người viết thật sự giật mình: không lẽ xã hội và Giáo Hội hiện nay là kết quả của giáo dục thời VNCH, hay nói khác đi là sản phẩm của VNCH để lại. Đúng logic thì phải kết luận như thế. Nhưng có tin được không? Nền giáo dục nhân bản, khoa học, và khai phóng thời đó không thể đưa đến kết quả là một xã hội toàn là gian dối, lừa đảo, đĩ điếm, một xã hội mà đa số là những con người mất tính người, những nhà tu hành vong thân làm công cụ cho cường quyền. Phúc Âm Chúa dậy: cây tốt sinh ra trái tốt, cây tốt không sinh ra trái xấu. Tuy chế độ Cộng Hoà không phải là một chế độ toàn mỹ, nhưng chế độ đó dứt khoát không sản sinh ra cái xã hội bại hoại hiện nay của VN.

     Cho nên cần phải hiểu giáo dục hôm nay nhưng ngày mai ra sao thì còn tùy vào rất nhiều yếu tố. Trưóc tiên là phải có một chế độ biết trọng con người và trọng giáo dục. Đi vào thực hành thì giáo dục nhất thiết đòi hỏi điều kiện căn bản là phải có những ông thầy xứng đáng làm thầy, đáng được xã hội tôn sư. Bình dân ta có câu: không thầy đố mày làm nên. Mộc mạc một tí nhưng chứa đựng cả một triết lý giáo dục trong đó. Bậc sư là người “tri hành hiệp nhất”. Người Thầy viết ra đủ thứ điều hay lẽ phải dậy dỗ người khác nhưng lại làm những việc không nên làm, thì chẳng thuyết phục nổi ai. Thầy có khản cổ rao giảng giáo hội sống khó nghèo, nhưng ông thầy sống xa hoa hưởng thụ thì lời giảng không thể nào lọt lỗ tai người nghe. Ngày nay, việc giảng đạo đức đã có nhiều rồi, nhưng thực hành lời giảng chẳng có bao nhiêu. Đức Giáo Hoàng Paul VI rất sáng suốt, ngài thực thà nói: Giáo Hội ngày nay cần chứng nhân hơn là cần thầy giảng. Phương châm chẳng qua cũng chỉ là khẩu hiệu. Mà khẩu hiệu thì bao giờ cũng là khẩu hiệu thôi. Hành động cụ thể mới là cần thiết.

     Đọc Thư Chung, chúng ta chỉ thấy khẩu hiệu và những lời giảng thuyết chung chung. Thiếu hẳn tự do. Phương pháp giáo dục và nhất là kế hoạch cụ thể đào tạo “các đấng làm thầy” cho GH lại không có. Vấn đề đào tạo này cha ông dậy là quí hồ tinh bất quí hồ đa, nhưng xem ra GH chỉ cần lượng mà không cần phẩm. Một linh mục một nửa làm tông đồ, một nửa làm cán bộ đem lại lợi ích gì cho GH thiết tưởng chúng ta ai cũng đã có câu trả lời rồi. Kết luận, giáo dục hôm nay, nhưng xã hội và Giáo Hội ngày mai tượng hình ra sao thì không ai hình dung ra được.

 

Duyên Lãng Hà Tiến Nhất