THÁNH VỊNH ĐÁP CA: HÁT, NGÂM, hay ĐỌC?

                                                        (tiếp theo số 70)

                                                                                                      Khổng vĩnh Thành

  III. Giải pháp cho Thánh vịnh tiếng Việt nam

           Tại Việt nam, các nhạc sĩ đã cố gắng thử nghiệm nhiều cách hát thánh vịnh đáp ca khác nhau. 

      Vào năm 1991, trong khi thuyết trình về “Hát thánh vịnh” tại Toà Tổng Giám mục Sàigòn cho Ban Thánh nhạc, Đức Cha Phaolô Nguyễn văn Hoà, lúc đó là Chủ tịch Uỷ ban Thánh nhạc, có nói như sau:

   Cho đến nay đã có nhiều cố gắng khác nhau nhằm tìm một giải pháp cho vấn đề. Tuy chưa có giải pháp nào hoàn bị nhưng đều là những cố gắng có giá trị. Sau đây xin nêu một số giải pháp :

  1. Dịch lời Việt theo một cung nhạc giống một cung thánh vịnh la-tinh, ví dụ bài Ngợi khen Thiên Chúa của Hoài Chiên.
  2. Dịch lời Việt theo một cung nhạc giống cung hát thánh vịnh của Gélineau, ví dụ bài Vui ca lên nào của Hoàng Kim.
  3. Dệt nhạc vào từng câu thánh vịnh (nhiều tác giả).
  4. Dệt nhạc câu thánh vịnh đầu rồi dịch các câu sau hợp với điệu nhạc đó (nhiều tác giả).
  5. Hát các câu thánh vịnh theo ba nốt nhạc, nhưng có phần lên giọng ở đầu câu và xuống giọng ở cuối câu. Theo kiểu này, người sáng tác phải tự dịch lấy bản văn, hoặc nếu muốn dùng bản văn có sẵn thì phải tự thích ứng bản văn ở đầu và cuối câu thánh vịnh cho hợp với phần lên giọng và xuống giọng (chủ trương của lm. Tiến Dũng) ví dụ Tv 104 trong cuốn thánh ca Phụng vụ Tuần Thánh.
  6. Hát các câu thánh vịnh theo ba nốt nhạc, không cần dịch lại hoặc sửa đổi bản dịch (nhiều tác giả).” 25

      Ngoài 6 giải pháp trên đây, Lm Nguyễn Hưng trong bài thuyết trình về “Hình thể đối ca với thánh vịnh”, ngày 21-5-1996, còn cho biết thêm mấy giải pháp khác như sau, xin trích ngyên văn ;

   1- Đơn giản nhất, có một số nhạc sĩ chủ trương rằng : bởi vì tiếng Việt có 6     thanh điệu, nên chỉ cần đọc lên là có tính chất như ngâm rồi, không cần phải sáng tác ra những công thức ngâm vịnh này nọ.

2- Thiện Cẩm thì đề nghị ra 2 điệu vui, buồn:

-Điệu vui xây dựng trên 2 dấu nhạc trụ tạo thành quãng 3 trưởng.

-Điệu buồn dựa trên 2 dấu nhạc trụ tạo thành quãng 3 thứ.

-Mỗi câu thánh vịnh chỉ đọc bằng bằng theo 2 dấu nhạc trụ đó chứ không có xướng kết gì cả.

  3- Trong phần “phụ trương ca nhạc” của Hoàng Kim in ở cuối cuốn “Phụng vụ các giờ kinh” phát hành năm 1974, có đề nghị 2 dòng nhạc sau đây để áp dụng vào việc đọc Thánh vịnh (chứ không hẳn là hát hoặc ngâm)

    4.-Nguyễn khắc Xuyên, trong cuốn “Hát thánh vịnh” do UBĐKCG tp HCM phát hành năm 1991, có sáng tác các cung ngâm thánh vịnh cho gần 150 thánh vịnh.

    -Có cung trụ trên 2 dấu nhạc (Tv 14), có cung trụ 3,4 dấu (Tv 15), thậm chí có cung trụ đến 5,6 dấu (Tv 21).

    -Thông thường mỗi câu thánh vịnh chia làm 2 vế, với 2 công thức trụ khác nhau.

    -Dấu nhạc trụ thấp nhất và dấu nhạc trụ cao nhất có khi chỉ cách nhau quãng 2, quãng 3 (Tv14),có khi cách nhau quãng 4(Tv1), quãng 5(Tv 30)”. 26 

     

       Và trong Hát lên mừng Chúa số 56, xuất bản năm năm 2000, Linh mục nhạc sĩ Xuân Thảo, sau khi nhắc đến những giải pháp như trên đây, còn giới thiệu thêm:

    Lm nhạc sĩ Ân Đúc cũng đề nghị 7 cung hát thánh vịnh dùng trong các giờ kinh phụng vụ. Mỗi câu thánh vịnh chia làm 2 vế, mỗi vế ngâm vịnh theo một công thức kể khác nhau. Cuối vế 1, nhất là cuối vế 2 thường có những ngoại lệ, tùy theo bản văn thánh vịnh. Mỗi công thức thường gồm 3 dấu nhạc khác nhau, riêng cung 4 dùng 4 dấu nhạc trong mỗi công thức kể. (Cung 1: Rế-đô-la//La-xon-fa; c2: Mí-rê-đô//La-xon-mi; c3: Rế-đô-xon//La-xon-fa/La-xon-rê; c4: Mi-rê-đô-la//Đố-la-xon-mi; c5: Đố-la-fa//Xon-mi-đồ; c6: Đố-xi-xon//Sol-fa-mi/xon-mi-đô; c7: Đố-la-xon//Mi-rê-đô)27

        Gần đây, nhạc sĩ Ngọc Kôn, trong nguyệt san Thánh nhạc ngày nay, số ra mắt, ngày 15-8-2005, cho biết đã tìm ra một giải pháp khác và đang trình bày chi tiết trong nguyệt san đó từ số tháng 5-2006 trở đi.28

     Nhìn vào những giải pháp nêu trên, chúng ta  có thể thấy rõ thiện chí và  sự cố gắng của các nhạc sĩ chúng ta trước một công việc khá mới mẻ là soạn nhạc cho thánh vịnh nói chung và thánh vịnh đáp ca nói riêng, nhờ đó  chúng ta đã có được khá nhiều bài hát hay ngâm thánh vịnh đáp ca bằng tiếng Việt nam.

       Về mặt hình thể sáng tác nói chung, những giải pháp đó có thể quy về hai khuynh hướng chính: một là uốn nắn câu thánh vịnh thành một ca khúc để hát; hai là cố giữ nguyên văn, hay gần như nguyên văn Tv bằng cách hát, ngâm hay đọc.

      Khuynh hướng thứ nhất: ca khúc TVĐC

    Bài thánh vịnh giống như một ca khúc hai đoạn: câu Đáp như là điệp khúc và tất cả các câu Xướng thì hát giống nhau, như là tiểu khúc.

     Nếu theo giải pháp này thì về mặt hình thức, bản văn thánh vịnh rõ ràng là không còn nguyên vẹn; và về nội dung, cũng khó giữ được đúng ý thánh vịnh, thậm chí còn có thể đi ra xa, hay  làm sai lạc  cả ý nghĩa nữa.

     Trong bài thuyết trình về “Hình thể Thánh vịnh Đáp ca”, ngày 24/7/1996, khi đề cập đến giải pháp này, Nhạc sĩ P. Kim nhận xét: “Đây là một việc xem ra còn khó khăn hơn việc “Đường luật” hóa một bài thơ tự do.” 29

      Rồi diễn giả nói thêm:

      “Đọc lại thánh vịnh, chúng ta thấy Lời Chúa đã được diễn tả bằng một loại hình thề văn chương riêng biệt với những câu có độ dài ngắn và ngữ điệu cao thấp khác nhau. Thế thì việc gò bó những câu văn ấy vào mô hình của một ca khúc rõ ràng là một việc cực kỳ khó khăn”.30

     Còn Lm nhạc sĩ Xuân Thảo thì viết trên Hát lên mừng Chúa như sau:

    “Đàng khác, các Thánh vịnh là bộ phận văn chương thi vị nhất của toàn bộ Kinh Thánh. Người ta cảm nhận các bài thơ không chỉ bằng ý nghĩa của chúng, mà nhất là bằng chính ngôn ngữ thi ca, bằng chính chất thơ, thể hiện ra bằng những hình ảnh, những hình tượng có khả năng đánh động lòng người.

     Vì thế, một bài hát "cảm hứng thánh vịnh" nào đó, thì không hẳn là chính Thánh vịnh đó, dù cho cảm hứng có dồi dào và hiện đại đến đâu cũng vậy. Một bài hát lấy "ý nghĩa thánh vịnh" thì cũng chưa hoàn toàn là thánh vịnh đó, nếu như nó làm mất đi các nét thi vị của thánh vịnh nguyên thủy. Chỉ có "phiên dịch thánh vịnh" với đầy đủ ý nghĩa và các hình ảnh thi vị của nó, mới mong đem đến cho người đọc, người nghe một cảm nhận trung thực hơn cả.31

     Nếu ta đem ra cắt xén, sửa chữ, đổi lời, thì họa may chỉ giữ được ý chính, còn về mặt nghệ thuật, giá trị văn chương của thánh vịnh chắc chắn sẽ bị suy giảm..

      Dẫu  vậy, giải pháp “ca khúc” là giải pháp phổ thông nhất hiện nay, có thể là vì Việt nam vốn đã quá quen hát thánh ca theo lối ca khúc rồi, nên khá nhiều nhạc sĩ sáng tác và đa số ca trưởng đã chọn giải pháp này cho TVĐC. Tuy nhiên, có điều khiến cho chúng ta phải quan tâm là: hiện nay, trong các sách thánh ca, bên cạnh những ca khúc TVĐC còn giữ được “ý Tv”, ta thường gặp những bài, tuy được ghi rõ là Tv nọ, Tv kia, nhưng thực ra không còn đúng là Tv nữa, mà chỉ là bài “cảm hứng Tv”, hoặc “dựa theo Tv” hoặc “diễn ý Tv” thôi. Đó là điểm khó khăn mà có lẽ người ca trường nào cũng  gặp phải.

      Lm Xuân Thảo cũng đã nhắc nhở thêm:

    Như vậy, dùng làm Đáp ca, tốt nhất là nên lấy các bản phiên dịch Thánh vịnh dùng trong phụng vụ. Chúng ta có thể dùng tạm các bài "ý nghĩa Tv", trong lúc chưa có đầy đủ các Đáp ca phù hợp. còn các bài "cảm hứng Tv" không thể dùng thay thế Đáp ca, mà chỉ nên dùng cho Ca nhập lễ, Ca dâng lễ, Ca hiệp lễ hay các sinh hoạt tôn giáo khác. Nhiều tác giả không ghi rõ cách mình dùng Tv nên nhiều ca trưởng cứ thấy có chữ Tv là đem vào dùng làm Đáp ca. Đó là chưa kể các câu Xướng và câu Đáp có phù hợp với từng Thánh lễ hay không.”32

     Tóm lại, có thể nói “ca khúc thánh vịnh” chỉ là giải pháp tạm thời được sử dụng làm đáp ca thôi.

      Nhạc sĩ Nguyễn khắc Xuyên, sau khi đã kể lại những kinh nghiệm trên đường đi tìm cách ngâm thánh vịnh nói chung và thánh vịnh đáp ca nói riêng, đã viết như sau: “Để kết luận trong mục này, một đàng chúng ta đón nhận tất cả những sáng tác lấy ý nghĩa trong thánh vịnh, nhưng đàng khác chúng ta mong cho các bài lấy nguyên văn bản dịch thánh vịnh, không thêm bớt, không chắp ghép”.33

       Trước đây ít năm, khi chúng tôi đề cập đến giải pháp này và  thỉnh ý Đức Cha Nguyễn văn Hoà, đưong kim Chủ tịch HĐGM VN, bấy giờ là Chủ tịch UBTN thì Đức Cha có nhắc nhở chúng tôi rằng: đó chỉ là châm chước (tolérance) thôi; cần phải tìm cách thực hiện TVĐC theo đường hướng của Giáo hội tức là giữ đúng bản văn Tv.

                                                                          (còn tiếp)

Chú thích:

25. xem số 2 trên đây.

26. xem Hương Trầm (HT) 1, nội san UBTN VN, trang 34

27. HLMC số 56, tr. 17

     28. Nguyệt san Thánh nhạc ngày nay (TNNN), Sàigòn số ra mắt, tháng 8-2005, số   tháng 5-2006 và các số kế tiếp.

29.HT 2, tr. 8

30. xem  #29

31. HLMC, số 4, tr. 12

32. HLMC số 4 tr.15

33.Nguyễn khắc Xuyên, sách đã dẫn, tr. 181