Suy nghĩ về mấy văn kiện gần đây

của đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn

 

Vài lời của người viết: Hạ tuần tháng 7 vừa qua, ĐHY Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, TGM/TGP Sàigòn đã công bố hai văn kiện được coi là quan trọng. Nhân đọc bài “Xin chỉ cho” của LS Nguyễn Ngọc Bích[1], ngày 22-7 07, ngài đã gửi linh mục Nguyễn Thái Hợp, thành viên cột trụ của Câu Lạc Bộ Nguyễn Văn Bình, một lá thư nêu lên một số dữ kiện thời sự, yêu cầu “nghiên cứu và đề xuất bài học chính xác và toàn vẹn”. Ba ngày sau, nhằm ngày lễ Kính Thánh Gia-cô-bê Tông đồ, GM đầu tiên tử đạo (25-7-07), ngài cho công bố` trước Lời Chủ Chăn tháng 9-2007. Những suy tư trong bài viết dưới đây lẽ ra chỉ xoay quanh nội dung hai văn kiện kể trên. Nhưng bất ngờ sáng sớm Thứ Bảy 11-8-07, khi bài viết gần kết thúc,DĐGD lại nhận được từ mạng lưới Công Giáo Việt Nam (cùng một nguồn phổ biến hai văn kiện trước đó) Lời Chủ Chăn tháng 10-07. Sự kiện vừa kể khiến chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng và phân vân, nhất là thấy cuối bài viết ghi ngày 29-8-07, tức là trên nguyên tắc, phải chờ tới 18 ngày nữa mới đáo hạn công bố.

Tạm gác ra một bên mọi hoài nghi, dè dặt thường lệ, người viết xin tiếp tục trình bày những suy nghĩ của mình qua nội dung Lời Chủ Chăn tháng 10 nhưng vẫn giữ nguyên những gì đã viết về hai văn kiện nhận được cuối tháng 7-07.

Xin trân trọng chia sẻ cùng bạn đọc để cùng suy tư và cầu nguyện.

TRẦN PHONG VŨ

 

 

I.- Về lá thư gửi linh mục Nguyễn Thái Hợp (CLB/NVB)

Nội dung lá thư gồm 7 điểm. Nhưng dựa vào tư tưởng trong thư, người viết xin chia làm ba phần chính.

Phần 1 gồm hai điểm 1 & 2: Năm 54, GHCG miền bắc có thái độ cứng rắn, tẩy chay chế độ, không gửi con em học trường nhà nước. Năm 75, GHCG miền nam mau mắn hợp tác, dâng hiến trường học. các cơ sở xã hội, cô nhi viện, nhà thương cho guồng máy cầm quyền chế độ mới

Phần 2 gồm các điểm 3, 4 & 5: Hệ quả tai hại của thái độ hợp tác qua những con số thống kê của báo chí trong nước. (a) Về giáo dục: con số học sinh, sinh viên nhiễm thói gian dối, lừa đảo tăng tiến từ 30-40% ở tiểu học, 40-50% ở trung học và 50-60% ở đại học. Theo một nhà giáo dục CG thì thực tế con số này còn cao hơn nữa. (b) Về y tế xã hội: một điển hình về sự suy thoái là ban đầu chỉ có 20% nhiễm HIV trong số 30,000 bạn trẻ cai nghiện tại khoảng 20 trung tâm. Nhưng một thời gian sau, tỉ lệ những người trẻ nhiểm căn bệnh hiểm nghèo này đã tăng lên tới 60 hoặc 80%. Vẫn theo tiết lộ của báo chí trong nước, đức HY nói tới tệ trạng trấn lột bệnh nhân trong các bệnh viện. Trong khi ấy, các quan chức nhà nước, từ vị trí “đầy tớ nhân dân” biến thành những chủ nhân ông, những nhà tư bản đỏ. Hơn thế những “đại gia đỏ”.

Phần 3 gồm hai điểm 6 & 7: Sau khi nêu lên câu hỏi là chủ trương hợp tác về giáo dục và y tế với những hậu quả vừa nêu thì được gì (?), mất gì (?), ngài đề nghị linh mục Nguyễn Thái Hợp và Câu lạc bộ Nguyễn Văn Bình nghiên cứu và “đề xuất bài học thực hành cho mọi thành phần tôn giáo và xã hội biết cách nào góp phần vừa xây dựng đất nước vừa lành mạnh hoá đời sống dân tộc”

(Để nắm bắt được trọn vẹn vấn đề, mời độc giả đọc lại nguyên văn lá thư của đức hồng y và hồi âm bài “Xin chỉ cho” của các tác giả Phạm Hồng Lam, Mặc Giao và Trần Phong Vũ trên nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân số 69 phát hành tháng 8 năm 2007)

 

Suy nghĩ:

Nội dung lá thư trên đây của ĐHY Phạm Minh Mẫn, TGM/TGP Sàigòn đã khiến nhiều người ngạc nhiên. Tâm trạng ngạc nhiên này không giống nhau, nhưng với mức độ, hướng nhìn và cảm nhận khác nhau.

Đối với chế độ cộng sản Hànội, đây quả là một gáo nước lạnh xối vào mặt các lãnh tụ đảng và nhà nước. Đành rằng hơn tất cả ai khác, là những kẻ “nằm trong chăn”, họ đã thừa biết tình trạng băng hoại về các phương diện giáo dục, y tế, xã hội không phải chỉ có vậy mà trên nhiều góc độ còn thê thảm hơn nhiều. Nhưng điều họ không ngờ là nó lại được công khai viết ra trên giấy trắng mực đen của người cầm đầu TGP Sàigòn, một TGP lớn và quan trọng nhất trong Giáo hội Công Giáo Việt nam. Ở điểm này, nội dung lá thư của ĐHY Mẫn có thể coi như quan điểm của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

Đối với nhóm linh mục có chân trong UBĐKCG mà giáo dân trong và ngoài nước quen gọi là nhóm“linh mục quốc doanh” –bao gồm một thiểu số GM vì tự nguyện hoặc vì hoàn cảnh chẳng đặng đừng, trót dấn sâu vào con đường hợp tác không điều kiện với chế độ-, vấn nạn được ĐHY Phạm Minh Mẫn nêu ra cũng là điều khá bất ngờ. (Xin mở dấu ngoặc ở đây để nói thêm rằng nội dung lá thư của người cầm đầu Tổng giáo phận Sàigòn hẳn cũng không khỏi đem lại cho ông luật sư Nguyễn Ngọc Bích, tác giả bài viết “Xin chỉ cho”một sự bất ngờ không kém. Sau khi đọc hồi âm của những giáo dân ở hải ngoại, ông luật sư đã gửi tiếp ra một thư trần tình, trong đó gói ghém những lời cay đắng tỏ ý bất đồng quan điểm với những người đã bỏ thì giờ “chỉ” cho ông. Và lúc này, với những nhận định của HY Mẫn, không hiểu ông nghĩ sao? -Một cách nào đó, nội dung lá thư của ĐHY Mẫn gửi linh mục Hợp cho ông hiểu là ngài không chia sẻ thái độ hợp tác với chế độ mới của GHCG miền nam sau tháng 4 năm 1975. Giản dị là vì chính sự hợp tác, “nhường quyền xử dụng trường ốc, nhà thương, cô nhi và dưỡng lão viện” đã đưa tới những hậu quả tệ hại mà người dân thấp cổ bé miệng ở miền nam phải chịu qua hai lãnh vực giáo dục và y tế, xã hội suốt 32 năm qua).

Riêng những linh mục và giáo dân trung thành với tinh thần Nguyễn Kim Điền ở trong cũng như ngoài nước và tuyệt đại đa số các giáo sĩ và giáo dân thầm lặng, lá thư gửi linh mục Nguyễn Thái Hợp/CLB Nguyễn Văn Bình của ĐHY Mẫn là một chỉ dấu tích cực. Nó nói lên những sự thật đau lòng trên đất nước chúng ta sau nhiều thập niên bị chế độ độc tài, độc đảng cộng sản vô thần khống chế. Từ đấy nó giúp giải toả được phần nào những hoài nghi, ẩn ức của công luận trong cũng như ngoài Giáo hội, -những hoài nghi, ẩn ức ít nhiều đã góp phần làm suy giảm tiềm năng đấu tranh cho tự do tôn giáo, cho nhân quyền nhân phẩm Việt nam lâu nay. Tự thâm tâm, mọi người hi vọng nó sẽ là khởi điểm cho những đóng góp cụ thể của các giám mục, nói chung Hội Đồng Giám Mục và tập thể giáo dân Việt Nam trong nỗ lực giải trừ chủ nghĩa vô thần cộng sản, căn nguyên dẫn đưa đất nước chúng ta vào tình trạng suy thoái thảm thương về mọi phương diện như hiện nay.

 

Mong chờ:

Trước hết, chúng tôi trông chờ sự đáp ứng nghiêm chỉnh của linh mục Nguyễn Thái Hợp và Câu Lạc Bộ Nguyễn Văn Bình, nói chung, trước đề nghị chính đáng và đúng lúc của ĐHY/TGM/TGP sàigòn. Ở cương vị người tín hữu giáo dân trong lòng Hội Thánh, chúng tôi mạo muội gợi ý thêm là ngoài việc nghiên cứu và đề xuất những bài học thực nghiệm nhằm giải quyết những nan đề trong hai lãnh vực giáo dục, y tế và xã hội bên ngoài của đời thường, xin quí vị trong Câu Lạc Bộ đừng quên lưu tâm tới những vấn đề thiết thân trong lòng Giáo Hội Công Giáo quê nhà. Một cách cụ thể, xin nghiên cứu và lượng định những hậu quả tai hại về mặt đào tạo linh mục tại các chủng viện trong hơn ba thập niên qua. Mặc dầu đức HY không nói trắng ra, nhưng chúng tôi trộm nghĩ: khi công khai qui kết trách nhiệm cho lề lối quản trị sai lầm của nhà nước trong hai lãnh vực giáo dục và y tế xã hội, tự thâm tâm hẳn là ngài không khỏi âu lo khi liên tưởng tới những hệ quả giây chuyền dẫn tới sự lây lan ảnh hưởng nguy hại của nó vào những sinh hoạt tôn giáo, nhất là từ khi miễn cưỡng cho phép GHCG mở lại các chủng viện, đảng và nhà nước cộng sản đã trắng trợn xăm xoi vào việc tuyển sinh và đào tạo linh mục: từ giai đoạn duyệt xét danh sách ứng viên đi tu cho tới việc xen lấn vào học trình, kể cả việc cho phép người này, cấm đoán người kia được tiến lên Bàn Thánh sau khi hoàn tất chương trình tu học!

Việc nghiên cứu này càng trở nên cần thiết và cấp bách khi nhớ tới bài học cay đắng của Giáo Hội Công Giáo Ba Lan gần đây. Vấn đề gạn đục khơi trong bất cứ bao giờ và ở đâu, kể cả trong lãnh vực tôn giáo cũng không có luật trừ, nếu không muốn bị đẩy lùi về phía sau. Riêng với GHCGVN, đây là một việc làm đòi buộc để duy trì và bảo vệ sự tinh ròng của đạo Chúa Giêsu.

 

II.- Về Lời Chủ Chăn tháng 9-2007:

Nội dung Lời Chủ Chăn tháng 9-07 của ĐHY Phạm Minh Mẫn gói ghém trong 9 điểm. Dựa vào ý tưởng trình bày trong bài, người viết xin được gom lại thành ba phần để dễ nhận định.

Phần 1gồm hai điểmn 1 & 2: Nhân quyền xuất phát từ Thiên Chúa, là món quà nhưng không của Thiên Chúa trao tặng con người. Chính vì thế trong các Hiến chương hay Hiến pháp của tuyệt đại đa số các quốc gia trên thế giới đều long trọng xác nhận quyền này.

Phần 2 gồm điểm 3 với 4 tiểu mục nêu lên những hiện tượng gây cản trở hoặc đẩy lùi việc thực thi quyền tự do và những quyền căn bản khác của con người. (a) cần có thời gian (b) thái độ phân biệt đối xử do tinh thần phe nhóm của một số nhà nước (c) những hiện tượng thiếu chánh tâm, thiếu ý thức, thiếu lòng tự trọng và thừa tà tâm, tham sân si. (c) tất cả những hiện tượng kể trên đã vẽ nên bức tranh toàn cảnh:

Ngày nay nhân phẩm xuống giá rồI

Chỉ có thực phẩm lên giá thôi,

Lương tâm giá bèo hơn lương thực

Chân lý chân giò một giá thôi.

(Người viết tô đậm những từ quan trọng)

Phần 3 gồm 6 điểm còn lại: ĐHY nêu lên câu hỏi: “khi thấy tự do và nhân quyền bị xâm phạm, khi đối diện với bất công trong xã hội, bổn phận của người công giáo là gì?”

Sau đó, từ góc độ người tín hữu trong GHCG, ĐHY nhấn mạnh hai ưu tiên: Ưu tiên một là CẦU NGUYỆN và ưu tiên hai là HỌC HỎI GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI. Trong Lời Chủ Chăn tháng 9, ngài chỉ bàn giải về sự cần thiết và tầm quan trọng của ưu tiên thứ nhất.

ĐHY gợi nhắc những tấm gương cầu nguyện của cố GH Gioan Phaolô II cũng như đương kim GH Biển Đức để từ đấy nhấn mạnh tới tầm ảnh hưởng của lời cầu nguyện trong giáo hội như một phương thế cộng tác đắc lực với quyền năng của Thánh Thần Thiên Chúa trong việc biến đổi lòng dạ con người, củng cố nhân quyền và canh tân bộ mặt trái đất. Để minh họa cho cung cách cầu nguyện với kết quả khác nhau, ngài kể lại câu chuyện cầu nguyện của một bà lão mà ngài đọc được trong văn hóa cổ. Từ câu chuyện này, ngài đi tới kết luận:

“Lịch sử giải phóng nô lệ da đen của nước Mỹ và lịch sử thập niên qua của Ruanđa là những bài học đi tìm cái ngọn của tự do và nhân quyền, nhưng bà lão cầu nguyện thì tìm đến tận gốc.”

Và như vậy, vẫn theo ĐHY thì: hãy hành động sau khi đã cầu nguyện và học hỏi giáo huấn của Giáo Hội về xã hội.” (nguyên bản tô đậm) Bởi vì: Cầu nguyện và học hỏi giúp cho con người hành động với tâm hồn tự do, thanh thản, bình an, sáng suốt và khôn ngoan, hành động với tình bác ái Chúa dạy, với xác tín mọi người là con một Cha, là anh em một nhà

 

Suy nghĩ:

Nêu lên những nhận định về Lời Chủ Chăn của ĐHY Phạm Minh Mẫn cho tháng 9-07 lúc này tuồng như hơi sớm và có phần “nóng vội”, vì ngài mới chỉ bàn tới ưu tiên một là Cầu Nguyện mà chưa đề cập ưu tiên hai là Học Hỏi những giáo huần về xã hội của Giáo hội Công giáo như ngài đã thông báo. Tuy nhiên, ngoài tính thời sự và cấp bách của vấn đề, tự thân những gì ngài trình bày và dẫn giải xuyên qua nội dung bài viết trên đây, xét ra đã tạm đủ khiến chúng tôi thấy có bổn phận phải nêu lên vài nhận xét sơ khởi. Mai đây, nếu xét thấy cần, người viết sẽ xin bổ túc[2].

Tự do và Nhân quyền đến từ Thiên Chúa và là quà tặng của Thiên Chúa dành riêng cho nhân loại đúng như lời dạy của ĐHY.Và cũng vì thế, kẻ trước người sau, phần đông nhân loại hôm nay đã biết tuyên nhận những quyền năng căn bản này trong những Hiến chương, Hiến pháp. Nhưng, tuyên nhận là một chuyện còn có thành tâm, thiện chí thực hiện hay không lại là chuyện khác. Cho nên, ở cương vị những người có niềm tin Công Giáo, trước hết và trên hết, chúng ta cần phải chuyên tâm cầu nguyện cho chính mình, cho tha nhân, cho ý nguyện chung để tự do, nhân quyền được đơm bông kết ttrái trên mặt đất, trước mắt là trên quê hương chúng ta. Thứ đến còn phải dành thì giờ học hỏi những giáo huấn về xã hội mà qua các Thông điệp liên hệ của các Giáo Hoàng Gioan XXIII, Phaolô VI, Gioan Phaolô II khơi nguồn từ Thông Điệp Tân Sự (Rerum Novarum) của đức Lêô XIII, đã được hệ thống hóa thành một học thuyết mệnh danh là Học Thuyết Xã hội của GHCG.

Như vậy, cầu nguyện là gì? Khi nào cầu nguyện và cách thức cầu nguyện ra sao?

Theo linh mục Raymond Skonezny, giáo phận Orange, nam California, HK, người được coi là mẫu gương trong đời sống cầu nguyện, thì “cầu nguyện là một cuộc đối thoại không ngừng với Thiên Chúa, là duy trì và củng cố mối liên hệ Cha&Con giữa Thiên Chúa và kẻ tin nhận Ngài”.

Tư tưởng này không có gì mới lạ. Qua Phúc âm, Chúa Giêsu đã cho chúng ta một mẫu mực chuẩn xác, triệt để về ý nghĩa thâm sâu và sự cần thiết của cầu nguyện. Đọc lại tiểu sử của cố GH Gioan Phaolô II chúng ta thấy đời ngài là một lời cầu nguyện triền miên không ngưng nghỉ. Như thế cầu nguyện không phải là việc làm tùy tiện hay chỉ là một đòi hỏi lúc cần xin ơn, mà là một nhu cầu tiên thiên và liên tục, là điều kiện “ắt có và đủ” của người tín hữu Công giáo. Nó là đặc tính, là căn cước của kẻ tin.

Đành rằng trong cơn nguy biến hoặc những lúc cần ơn phù trợ, đỡ nâng đặc biệt của Thiên Chúa, chúng ta cầu nguyện với Ngài. Nhưng dứt khoát không phải chờ tới lúc có vấn đề mới cầu nguyện, nếu mọi tín hữu đều hiểu cầu nguyện như một nhu cầu thiêng liêng, thường xuyên và liên tục ví như hơi thở, cơm ăn, nước uống là nhu cầu vật chất đối với con người hàng ngày.

Khi kể lại cung cách cầu nguyện của bà lão trong văn hóa xưa, chắc hẳn ĐHY thừa hiểu đây chỉ là một câu chuyện giả tưởng, và với cương vị một nhà lãnh đạo tinh thần trong GHCG, không bao giờ ngài chia sẻ kiểu cầu nguyện cho tha nhân mau chết!–cho dẫu đấy là một nhà độc tài, một tên sát nhân-. Và hẳn rằng ngài cũng không thể đồng tình với lời cầu nguyện cho những hạng người chuyên gây đau thương, tang tóc cho đồng loại sống lâu để tiếp tục gây thêm tội ác! (Cách cầu nguyện thứ nhất: phi đạo lý, phản lại tinh thần tôn giáo! Còn cách thứ hai: phi nhân bản, chống lại con người!) Từ đấy, người viết những giòng này cũng không tin rằng ĐHY Phạm Minh Mẫn thật tâm muốn nêu lên chuyện “gốc”, “ngọn” khi so sánh câu chuyện cầu nguyện của bà già với những vấn đề phức tạp liên quan tới lịch sử cuộc cách mạng nhân quyền của Mỷ và những chuyện xảy ra ở Ruanda trong thập niên trước.

Quan niệm khoáng đạt về nguyên tắc kế thừa trên bình diện nhân loại không cho phép những quốc gia tiên tiến khư khư ôm lấy những tiến bộ[3] của mình mà không thông chia, san sẻ cho các quốc gia khác. Cũng thế guồng máy cầm quyền tại những quốc gia hậu tiến, đang trên đà phát triển cũng không thể nại lý do này hay lý do khác để tiếp tục duy trì những luật lệ rừng rú nhằm tước bỏ những nhân quyền căn bản của người dân[4] Những gì các dân tộc văn minh, tiên tiến đạt được sau hàng trăm năm chật vật khai phá, tìm tòi, thử nghiệm thì chỉ trong sớm chiều những dâc tộc mới thu hồi chủ quyền có thể lợi dụng để rút ngắn con đường phát triển để tiến kịp với người, nếu giới cầm quyền biết gạt bỏ tư lợi, hướng tới công ích. Nói theo Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ khi bàn về định luật kế thừa[5], thì các dân bán khai có quyền chễm chệ ngồi trên vai những anh “không lồ” văn minh Âu Mỹ để ung dung tiến bước trong thế giới ngày nay.

Người viết không khỏi liên tưởng tớI lối giải thích quanh co của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam về điều gọi là ý niệm về tự do, dân chủ, nhân quyền ở nơi này không thể áp dụng cho nơi khác! Như thế thì còn đâu là tính cách phổ quát của những quyền căn bàn của con người, điều chính ĐHY Phạm Minh mẫn đã nhấn mạnh là thứ quyền tiên thiên, do chính Thiên Chúa trao ban cho nhân loại?

Ở điểm 6 mà người viết gom vào phần 3, Lời Chủ Chăn tháng 9 đã nhắc tới tấm gương cầu nguyện của cố GH Gioan Phaolô II và đặc biệt, đương kim GH Biển Đức, qua lá thư ngài gửi GHCG Trung quốc[6]. Về cố GH Gioan Phaolô II , tuy ĐHY không đề cập, nhưng người đọc không thể không nhớ tới những gì vị Giáo Hoàng quả cảm này đã nói và đã làm cho quê hương Ba lan của ngài. Về phần đương kim GH Biển Đức, ngoài những lời kêu gọi cầu nguyện, trong thư gửi GHCG Trung quốc, ở đoạn 4 “Sẵn sàng đối thoại xây dựng và tương kính”, ngài cũng đã nhắc lại một đoạn trong thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu (Deus Caritas est) như sau: “…GH không thể và không được thay thế nhà nước. Nhưng đồng thời GH cũng không được làm ngơ đứng bên lề cuộc đấu tranh cho công bằng, công lý. GH phải đóng góp những tranh luận hữu lý và làm sống lại nghị lực tâm linh mà nếu không có nó thì công lý –là điều luôn luôn đòi hỏi phải hi sinh- sẽ không thể được thực hiện và phát triển được…”

 

III.- Về Lời Chủ Chăn tháng 10-2007:

Ngoài phần dẫn nhập, Lời Chủ Chăn tháng 10-07 được chia làm ba phần chính:

I.- Tình hình biến chuyển trên đất nước Việt Nam

1.- Hậu quả của 30 năm chiến tranh

2.- Hậu quả tích cực và tiêu cực của việc áp dụng Kinh tế thị trường

3.- Tình trạng các tôn giáo: Nhà Nước trong những thập niên qua, có thái độ khá tiêu cực đối với các tôn giáo.  Do đó các tôn giáo đều gặp nhiều khó khăn và hạn chế trong các sinh hoạt của mình.

II Định hướng của Giáo huấn của Giáo Hội CG về xã hộI

1.- Những giá trị nền tảng: Triển khai Lời Chúa dạy và giáo huấn của Công đồng Vatican II cùng kinh nghiệm qua các chế độ trong lịch sử phát triển của loài người…

2.- …là những chuẩn mực cho công cuộc phát triển trong mọi lãnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, gia đình, giáo dục…. Đồng thời những chuẩn mực đó cũng nhằm giúp cho công quyền cũng như mọi tổ chức kinh tế xã hội tránh con đường mòn cũ trong lịch sử là biến con người thành phương tiện sản xuất, thành công cụ phục vụ cho những tham vọng của những người nắm giữ quyền hành, thế lực và tài lực trong xã hội.

3.- Trách nhiệm của những thành phần trong Giáo Hội CG

III.- Những áp dụng thực hành

1.- Bản Tổng lược giáo huấn

2.- …cần được đưa vào chương trình đào tạo và huấn luyện rộng rãi mọi thành phần Dân Chúa và mọi người thiện tâm, đặc biệt những người đang có mặt trong mọi lãnh vực giáo dục, kinh tế, xã hội, chính trị. 

 

Suy nghĩ:

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với ĐHY Mẫn rằng: cũng như vấn đề cầu nguyện, việc nghiên cứu và học hỏi những giáo huấn trong HộI Thánh, và nói riêng những căn cốt của học thuyết xã hội Công Giáo là bổn phận đương nhiên của mọi Kitô hữu[7]. (Vấn đề họ có chuyên tâm học hỏi và có được giáo quyền trực tiếp cung cấp điều kiện để học hỏi hay không là vấn đề khác) Riêng với những tín hữu có chức Thánh như linh mục, giám mục thì với tư cách lãnh đạo, -hơn thế tư cách Thày Dạy Chân Lý- việc cầu nguyện và học hỏi của các ngài không chỉ là bổn phận mà còn là trách nhiệm đương nhiên, đòi buộc phải chu hoàn. Cũng vì thế, trên nguyên tắc, những nhận định của ĐHY Phạm Minh Mẫn là “người Kitô hữu chân chính có bổn phận cầu nguyện và học hỏi trước khi hành động cho nhân quyền” là điều không cần phải bàn luận.

Điều khiến người viết băn khoăn và phải suy nghĩ tiếp, xoay quanh mấy câu hỏi sau đây:

1/ Những tệ trạng liên quan tới vấn đề nhân quyền ở Việt Nam có phải cho tới hôm nay, những năm tháng đầu của thiên niên thứ ba, mới phát sinh, hay đã tồn tại từ lâu? Đọc lại nội dung lá thư của ĐHY gửi linh mục Nguyễn Thái Hợp hôm 22-7 vừa qua, chúng ta đã có câu trả lời rõ rệt là nó đã được đặt ra ít nhất là 32 năm qua, tức là kể từ. ngày 30-4-1975 và còn đang kéo dài cho tới ngày nay.

Khởi từ xác định này, một số câu hỏi liên quan khác nảy sinh.

2/ Tại sao trong suốt ba thập niên qua, những nhà lãnh đạo tinh thần cấp cao trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, bao gồm cả HĐGM, chưa có một động thái nào ngoạn mục nhằm vận động cho tự do và nhân quyền ở quốc nội? Không lẽ các ngài cũng chưa cầu nguyện và thấm nhuần đủ những giáo huấn vủa GHCG về những vấn đề xã hội đến nỗi phải chờ tới hơn ba thập niên sau mới đặt ra vấn đề cầu nguyện và học hỏi? Hoặc giả cái ngài đã làm nhưng chỉ làm một cách kín đáo, âm thầm theo kiểu “biểu, sớ” như nhận định của Phạm Hồng Lam trong câu chuyện viết từ nước Đức trên DĐGD số này?

3/ Cuối cùng, tại sao vấn đề lại được đặt ra giữa thời điểm tế nhị này? Nhiều thắc mắc và nhiều vấn nạn gợn lên trong tâm tư người viết, nhưng xét thấy không tiện nêu ra vì e ngại bị hiểu lầm.

(Nói tới chuyện hiều lầm, tưởng cũng cần mở dấu ngoặc ở đây để minh xác một điều: xin đừng có ai nghĩ rằng: khi nêu lên những vấn đề kể trên là anh em chúng tôi thiếu thiện ý, muốn gây khó khăn cho ĐHY Mẫn, hoặc tệ hơn là chống lại chủ chăn, chống lại HĐGM. Nói theo ĐHY là chúng tôi[8] có cầu nguyện và học hỏi, nghiên cứu cẩn thận trước khi nói, viết hoặc làm những việc hệ trọng không, thì chúng tôi xin thưa là chúng tôi đã cố gắng như từng cố gắng suốt một phần tư thế kỷ qua: họp nhau để cầu nguyện, học hỏi và nâng đỡ nhau hàng tuần. Riêng trong cuộc hội nhóm sáng Chúa Nhật 12-8-2007, vấn đề chúng tôi đang nêu trong bài viết này đã được đặt ra giữa toàn thể anh em trong tâm tình cầu nguyện và tham khảo ý kiến. Vấn đề cá nhân ngưòi viết có hội đủ điều kiện để làm công việc nhận định này hay không, chỉ có Thiên Chúa biết.)

 

IV.- Đôi lời tạm kết:

Khác với tất cả những bài viết trước đây, những suy tư trong bài này cho đến những giòng cuối cùng chỉ là những suy tư bỏ lửng. Vẫn còn những ẩn số trong những tiền đề chưa được biết đến.

Không ai có thể phủ nhận lá thư của người cầm đầu tổng giáo phận Sàgòn gửi linh mục Nguyễn Thái Hợp và Câu lạc bộ Nguyễn Văn Bình mang một giá trị rất tích cực. Ít nhiều nó nối tiếp tinh thần lá thư ngài gửi linh mục Nguyễn tấn Khóa, chủ tịch Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo cách đây mấy năm với nội dung chỉ ra những bất cập trong chính sách của nhà cầm quyền, đồng thời hàm ý mỉa mai, chỉ trích chế độ “xin – cho” của đảng và nhà nước cộng sản đã áp đặt lên các tôn giáo. Hồi ấy có tin cho rằng nội dung lá thư của đức TGM Sàigòn là “đứa con song sinh” văn kiện Hội Đồng Giám Mục Việt Nam kín đáo gửi cho nhà nước cách đó không lâu.

Một điều cần nói thật và nói thẳng: nội dung hai văn kiện tiếp theo của ĐHY được phổ biến dưới dạng Lời Chủ Chăn tháng 9 và tháng 10 tuồng như tiềm ẩn một cái gì khúc mắc, khó giải thích cho thông. Hoặc giả nó sẽ được soi sáng trong những Lời Chủ Chăn tiếp theo chăng? Người viết hi vọng như vậy.

Xét trên một phương diện, nếu những lời của ĐHY trong các LờI Chủ Chăn tháng 9 và tháng 10 có giá trị như những lời nhủ bảo người tín hữu Công Giáo phải chuyên tâm cầu nguyện và học hỏi để thấm nhuần những giáo huấn của Hội Thánh về những vấn đề xã hội trước khi tranh đấu cho nhân quyền, thì nó cũng là căn nguyên tạo nên tâm trạng hoang mang, thắc mắc của nhiều người, nhiều giới, cách riêng những thành phần giáo sĩ và giáo dân đã và đang nhân danh Tin Mừng để liên tiếng đấu tranh cho quyền làm người, nhất là quyền làm Con Thiên Chúa ở trong cũng như ngoài nước lâu nay. Người viết muốn nói tới cha Nguyễn Văn Lý, nói chung nhóm linh mục mang tinh thần Nguyễn Kim Điền, cùng những cá nhân hay tập thể tín hữu giáo dân đang sinh hoạt trong các cộng đồng, cộng đoàn, các cơ quan truyền thông xã hội Công Giáo, trong số có nhóm chủ trương nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân và hàng ngàn độc giả của tờ báo.

Tháng 10 sắp tới, như thông lệ những năm trước, hội nghị thường niên của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam sẽ được triệu tập. Phần cuối nghị trình trong bản thông báo được công bố gần đây, người ta đọc được chi tiết là vấn đề linh mục Nguyễn Văn Lý sẽ được hội nghị đem ra thảo luận. Tuy bản thông báo không đề cập, nhưng người ta nghĩ rằng cùng với trường hợp cha Lý, những vấn đề tế nhị gói ghém trong ba văn kiện mới nhất của ĐHY Phạm Minh Mẫn, kể cả lá thư của ĐGM Nguyễn Văn Hòa, nhân danh Chủ tịch HĐGMVN gửi Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ngày 07-7-2007 vừa qua nhằm phản bác luận điệu xuyên tạc “không đúng sự thật” của ông ta cũng sẽ được các Giám mục công khai đem ra cứu xét. Nhờ thế hi vọng mọi khúc mắc sẽ dần dần được khai thông và giải tỏa.

 

15-8-2007

 

 



[1] Bài viết “Xin chỉ cho” được chuyển ra hải ngoại trung tuần tháng 7 như một mời gọi góp ý. Những cây viết chính của DĐGD như các anh Phạm Hồng Lam (Đức), Mặc Giao (Canada) và cá nhân chúng tôi đã hân hạnh đáp ứng và tất cả đã được đăng tải trên số 69 phát hành tháng 8-2007, kể cả lá thư của HY Mẫn gửi linh mục Hợp Cần nói thêm là chúng tôi không rõ đức HY đã nhận được bài “Xin chỉ cho” trong trường hợp nào.

[2] Như đã xác minh trong lời mở đầu, dù phút chót nhận được Lời Chủ Chăn tháng 10 do mạng lưới CGVN chuyển ra,đồng thời quyết định ghi tiếp những suy tư về nội dung văn kiện mới này, nhưng chúng tôi vẫn giữ lại nguyên văn những gì đã viết trước đó.

[3] Bao gồm những tiến bộ về phương diện khoa học, kỹ thuật và sự chuẩn nhận những giá trị nhân sinh, những quyền năng căn bản của con người.

[4] Tự do, dân chủ, nhân quyền vốn là quà tặng của Thượng Đế. Ngày nay nó đã trở thành một ý niệm, một giá trị phổ quát được hầu hết những xã hội văn minh tiên tiến trên thế giới công khai nhìn nhận và tôn trọng. Nhưng, trong thực tế, những chế độ chuyên chính cộng sản như Việt Nam và những chính thể độc tài còn rơi rớt lại như Miến Điện vẫn cố tình giải thích theo quan điểm riêng để tiếp tục có những hành vi cưỡng chế và chà đạp

[5] Trong tiểu luận “vài Suy Nghĩ Của NgườI Công Dân”.

[6] Bản dịch của BS Nguyễn Tiến Cảnh khởi đăng trên DĐGD từ số 69 phát hành tháng 8 năm 2007

[7] Ngoài những buổi sinh hoạt hội nhóm hàng tuàn để cầu nguyện, học hỏi Kinh Thánh, tháng 5-2004, nhân Đại Hội “Sống Sứ Mạng Truyền Thông Công Giáo”, nhóm chủ trương nguyệt san DĐGD đã ấn hành hai hai tác phẩm: a.- HỌC THUYẾT XÃ HỘI CÔNG GIÁO – Sưu Tập Những Văn Bản Của GH (Bản dịch của Đức Ông Nguyễn Quang Sách), b.-VAI TRÒ NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN ĐỐI VỚI XÃ HỘI & GIÁO HỘI – Tuyển tập Các Văn Kiện Của Giáo Hội. Cả hai tác phẩm này đã được phân phối tại Đại Hội và sau đó gửi tặng độc giả để làm tài liệu nghiên cứu và học tập.

[8] Chúng tôi muốn nói tới nhóm chủ trương và những anh em cốt cán trong ban biên tập nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân.