(Trích Joseph Ratzinger Benedikt
XVI.: „Jesus von Nazareth“. Herder 2007)
LTS. Kinh Lạy Cha bao nhiêu thế kỉ nay
vẫn là nguồn cảm hứng cho những nhà suy tư và chú giải. Giáo chủ Biển-đức XVI,
trong cuốn sách mới nhất „Giê-su ở Na-da-rét“ đã dành một chương (Ch. 5) để chia
sẻ những suy tư của ngài về bản kinh của Chúa này. Một số người cho rằng, đây là
một trong những chương thâm sâu và đặc sắc nhất. Nó cho thấy kiến thức sâu rộng,
lối lập luận thuyết phục và nhất là đánh dậy lên được chiều sâu tương quan thiên
chúa giữa Cha và Con đàng sau tầng ngữ nghĩa lời kinh. Chương sách khá dài, nên
chúng tôi sẽ giới thiệu với bạn đọc qua nhiều số báo. Bản dịch của Phạm
Hồng-Lam, chuyển ngữ từ ấn bản tiếng Đức „Jesus von Nazareth“, nhà xuất bản
Herder, ấn bản lần thứ hai, 2007. Cuốn sách kể từ lúc ấn hành cho tới nay vẫn là
một trong những tác phẩm có số lượng tiêu thụ cao nhất (bestseller) tại Đức.
Hi vọng sau khi đọc và suy nghĩ những chú giải thật cô đọng của Giáo chủ, chúng
ta sẽ ý thức và trân trọng hơn với lời kinh mà hàng ngày ta vẫn đọc lúc sáng
tối, trước khi dùng bữa, trong khi dâng lễ…
(Đọc từ số 69 –tháng 8-2007)
I Nguyện
danh Cha được lành thánh
Lời cầu đầu tiên của kinh Lạy Cha nhắc ta nhớ tới giới răn thứ hai của thập
giới: Ngươi không được làm ô uế danh Chúa. Nhưng „danh Chúa“ là gì? Khi ta nhắc
tới danh Chúa, hình ảnh Mai-sen trước bụi gai trong sa mạc lại đập vào mắt ta.
Bụi gai cháy nhưng không bị thiêu rụi. Thoạt tiên, Mai-sen vì tò mò muốn rón rén
lại gần để xem sự lạ. Nhưng một giọng nói từ bụi gai cất lên, hướng về ông: „Ta
là Thiên Chúa của cha ông ngươi, Thiên Chúa của Ap-ra-ham, Thiên Chúa của
I-sa-ác và Thiên Chúa của Gia-cóp“ (Xh. 3,6). Thiên Chúa đó gởi ông trở lại
Ai-cập với nhiệm vụ đưa dân Is-ra-en ra khỏi Ai-cập và dẫn họ vào đất hứa.
Mai-sen được nhân danh Chúa đòi Pha-ra-ô phải trả tự do cho dân Is-ra-en.
Nhưng thế giới thời đó có nhiều thần linh; vì thế Mai-sen hỏi xem Ngài tên gì,
để xem tên đó có vượt uy quyền trên các thần khác không. Như vậy, í nghĩ Chúa
phải có tên riêng thoạt tiên xuất phát từ thế giới đa thần; theo đó Thiên Chúa
cũng phải mang một tên gọi. Nhưng Thiên Chúa mà Mai-sen gọi, là Thiên Chúa thật.
Thiên Chúa với nghĩa đúng đắn và xác thực chỉ có một mà thôi, không có nhiều.
Theo bản chất, chỉ có một Thiên Chúa. Vì thế Ngài không thể đi vào thế giới thần
linh như các thần khác, không thể có tên như các thần khác.
Vì thế, câu trả lời của Chúa vừa là chối từ mà cũng là chấp thuận: „Ta là
đấng Ta là“ – Ngài là tất cả, tuyệt đối. Có thể hiểu đó là tên Ngài mà đồng
thời cũng chẳng phải là tên Ngài. Tên tự xưng đó được dân Is-ra-en phiên ra
thành JHWH, một đấng vô hình vô danh; và họ đã không phát âm tên đó ra, vì họ
không muốn hạ thấp nó thành như một thứ tên gọi thần linh khác. Vì thế, quả là
không đúng, khi người ta trong các bản dịch Kinh-thánh mới về sau này đã viết
cái tên cấm kị và đầy bí ẩn đối với dân Is-ra-en đó ra và biến nó thành ra một
danh xưng tầm thường như bất cứ một danh xưng nào trong lịch sử tôn giáo tổng
quát.
Nhưng rõ ràng: Thiên Chúa đã không đơn giản chối từ trả lời Mai-sen. Và để hiểu
ra cái lập lững kì lạ vừa là tên vừa không là tên đó, chúng ta phải nhận thức rõ
rằng: đó là một tên gọi. Có lẽ, một cách thật đơn giản, ta có thể nói rằng: Cái
tên giúp ta có thể gọi một người nào đó, giúp ta có thể thưa chuyện với một
người nào đó.
Tên tạo ra quan hệ. Khi A-đam đặt tên cho muông thú, không có nghĩa là ông muốn
nói lên bản chất của chúng, nhưng ông muốn đưa chúng vào thế giới con người,
giúp cho người khác có thể gọi chúng được. Từ đó, giờ đây ta hiểu được đâu là
mặt tích cực của tên gọi của Chúa: Thiên Chúa muốn tạo ra quan hệ giữa Ngài với
chúng ta. Ngài giúp ta có thể gọi Ngài. Ngài bước vào tương quan với ta và cho
phép ta thiết lập tương quan với Ngài. Nhưng điều đó cũng có nghĩa, là Ngài một
cách nào đó đã đi vào thế giới con người. Mà vì con người có thể gọi Ngài, nên
con người cũng có thể gây tổn thương cho Ngài. Ngài chấp nhận rủi ro khi đi với
con người, khi thiết lập tương quan với con người.
Cái kết thúc của biến cố làm người của Ngài đã khởi đầu ngay từ việc đặt tên.
Trên thực tế, khi suy niệm lời nguyện cao trọng của đức Giê-su, ta thấy Ngài tự
giới thiệu mình như là một Mai-sen mới: “Con đã nói tên Cha ra cho con người…”
(Joh 17,6). Cái khởi đầu nơi bụi gai cháy trong sa mạc Si-nai, đã hoàn tất nơi
bụi gai hừng hực của thập giá. Giờ đây, quả thực ta đã có thể gọi tên và trao
đổi được với Thiên Chúa qua người Con xuống trần của Ngài. Thiên Chúa đã bước
vào thế giới của chúng ta, có thể nói Ngài đã tự trao thân vào đôi tay của chúng
ta.
Từ đây, ta hiểu được lời xin cho danh Ngài được lành thánh kia mang í nghĩa như
thế nào. Tên Ngài giờ đây có thể bị lạm dụng và như vậy chính Thiên Chúa có thể
bị nhơ nhuốc. Danh Ngài có thể bị ta sử dụng cho mục đích riêng, và như vậy,
hình ảnh Thiên Chúa có thể bị biến dạng. Ngài càng trao mình vào tay ta, ta càng
có thể làm lu mờ ánh sáng của Ngài; Ngài càng gần ta, ta càng có thể lạm dụng để
làm cho không ai còn nhận ra Ngài. Martin Buber có lần nói rằng, ta đã đánh mất
can đảm gọi tên Chúa, vì đã bao lần ta lạm dụng danh Ngài một cách thô bỉ. Nhưng
không nhắc đến Ngài nữa, cũng có nghĩa là ta chối từ tình yêu của Ngài đang đến
với ta. Buber cho hay, như vậy ta chỉ còn cách là cố gắng kính cẩn gỡ bỏ những
vết bẩn và từ từ gội sạch lại danh Ngài. Nhưng một mình ta không thể làm được
công việc đó. Ta chỉ có thể khẩn cầu chính Ngài đừng để cho danh Ngài bị huỷ
hoại nơi trần gian này.
Và lời khẩn cầu đó, khẩn cầu chính Chúa hãy giữ cho danh Ngài được lành thánh,
khẩn cầu Ngài gìn giữ cho ta cái bí ẩn tỏ mình xưng danh huyền diệu của Ngài, và
xin Ngài luôn xuất hiện trở lại với chính khuôn mặt của Ngài sau những lần bị ta
làm ra ô uế - lời khẩn cầu đó dĩ nhiên luôn luôn là một cuộc xét mình lớn đối
với ta: Tôi phải xử sự ra sao với danh thánh Chúa? Tôi có kính cẩn trước bí ẩn
bụi gai cháy, trước sự gần gũi lạ lùng của Ngài cho tới sự hiện diện trong Mình
thánh, trong đó Ngài hoàn toàn trao mình thật sự vào trong tay tôi? Được ở gần
bên Chúa, tôi có cố gắng vươn mình lên trong sự tinh khiết và lành thánh của
Ngài, hay lại tìm cách kéo Ngài xuống?
Lời cầu về Nước Chúa làm ta nhớ lại chữ “Vương Quốc Thiên Chúa” trước đây. Với
lời cầu này, ta coi vị trí ưu tiên của Thiên Chúa là trên hết: Ở đâu không có
Ngài, ở đó chẳng có gì tốt lành. Ở đâu không thấy Chúa, ở đó con người và thế
giới sa ngã. Trong í nghĩa đó, đức Giê-su nói với ta: “Trước hết hãy tìm kiếm
Nước (Chúa) và sự công chính của nó, rồi anh em sẽ được ban thêm cho tất cả
những cái khác” (Mt 6,33). Câu này nói lên trật tự ưu tiên cho hành động của
con người, cho thái độ thường ngày của chúng ta.
Điều đó dĩ nhiên không có nghĩa là ta sẽ nhận được thiên đàng hạ giới, nếu ta
sống đạo đức, hoặc ta mong muốn Nước Trời một cách nào đó. Sẽ chẳng đương nhiên
có một thứ thế giới hoàn chỉnh, như người ta đã ảo tưởng về một xã hội vô giai
cấp, trong đó mọi thứ sẽ đương nhiên trở nên tốt đẹp, vì chẳng còn tư hữu cá
nhân nữa. Đức Giê-su không trao cho ta những toa thuốc đơn giản như thế. Nhưng,
như đã nói, Ngài đặt ra một ưu tiên quyết định cho tất cả mọi thứ: “Nước Chúa”
có nghĩa là “sự cai trị của Chúa”, và điều này cũng có nghĩa là ta chấp nhận í
Ngài làm khuôn thước. Í Chúa tạo ra công bằng, trong đó có việc ta trao quyền
cho Chúa và lấy đó làm khuôn thước cho quyền giữa người với người.
Trật tự ưu tiên đức Giê-su nêu lên cho ta đó làm ta nhớ đến câu chuyện cựu-ước
về lần cầu nguyện đầu tiên của Sa-lô-môn, khi ông này vừa lên nắm chính. Truyện
kể, Chúa hiện ra ban đêm với vị vua trẻ trong cơn mơ, và cho biết Ngài sẽ nhậm
một lời cầu tự do lựa chọn của ông. Một lối mơ cổ điển của nhân loại!
Sa-lô-môn xin gì? “Xin Chúa ban cho tôi tớ Chúa một trái tim biết nghe, để
con cai trị dân Ngài và biết phân biệt cái gì tốt cái gì xấu” (1 Vua 3,9).
Thiên Chúa khen Sa-lô-môn, vì ông – không như sự thường – chỉ biết xin giàu có,
của cải, danh dự, tiêu diệt kẻ thù hay được sống lâu (2 Ks 1,11), nhưng đã xin
cho được điều cơ bản nhất, đó là một trái tim biết lắng nghe, có được khả năng
phân biệt thiện ác.
Và vì thế, Sa-lô-môn cũng đã được ban thêm các thứ khác.
Với lời cầu “Xin cho Nước Cha trị đến” (chứ không phải Nước ta!), đức
Giê-su muốn dạy ta hãy cầu nguyện đúng theo cách thức ấy, và hãy hành động theo
trật tự ấy. Trước hết và quan trọng nhất, là xin cho có được trái tim biết nghe,
xin cho Chúa ngự trị, chứ không phải cho ta được nắm quyền.
Với việc gặp Chúa Ki-tô, lời cầu xin trên càng đi vào chiều sâu, càng cụ thể
hơn. Ta đã thấy, Nước Trời hiện thân nơi con người đức Giê-su; ở đâu có Ngài, ở
đó là “Nước Chúa”. Như vậy, lời cầu cho được có trái tim biết nghe đã trở thành
lời cầu cho được bước vào cộng đoàn với Chúa Giê-su Ki-tô, cầu cho ta ngày càng
trở nên “một” với Ngài (Gal 3,28). Đó là lời cầu xin được bước đi thật sự
theo Chúa, được trở thành cộng đoàn và trở nên một thân thể với Ngài. Reinhold
Schneider từng nhấn mạnh điểm đó: “Sống trong Nước Chúa có nghĩa là cuộc sống
của Chúa Ki-tô được tiếp nối nơi con cái Ngài; Nước Chúa chấm dứt nơi đâu trái
tim không còn được nuôi dưỡng bởi sức sống của Chúa Ki-tô; nơi đâu trái tim được
sức sống đó đụng chạm và biến đổi, nơi đó mở ra Nước Trời… rễ của thân cây bất
diệt tìm cách thấm nhập vào mỗi một trái tim. Nước Chúa là một; chỉ duy nhất
Chúa Ki-tô tạo ra nó, Ngài là sự sống, là sức mạnh, là tâm điểm của Nước đó…”
(Schneider, sđd, tr. 31t). Xin cho được Nước Chúa có nghĩa là ta thưa với đức
Giê-su: Xin Chúa hãy làm cho chúng con trở nên như Ngài! Xin Chúa thấm nhập
chúng con, sống trong chúng con; xin Chúa quy tụ nhân loại rải rác vào trong
thân Ngài, hầu cho tất cả trong Ngài đều quy hướng về Thiên Chúa, để rồi Ngài có
thể trao vũ trụ lại cho Chúa Cha, ước gì „Chúa là tất cả trong mọi sự“ (1
Cor 15,26-28).
Vâng í Cha đưới đất cũng như trên trời
Lời cầu cho thấy trực tiếp hai điều: Thiên Chúa có một í định, một í muốn với ta
và cho ta; í Chúa đó phải trở nên khuôn thước cho ước muốn và cuộc sống của ta.
Và „trời“ là nơi thể hiện í Chúa không thay đổi đó. Hay nói cách khác, ở đâu í
Chúa thể hiện, nơi đó là trời. Bản chất của trời là sự làm một với í Chúa, làm
một giữa í muốn và sự thật. Địa cầu trở thành „trời“, khi í Chúa trong nó được
thể hiện, và nó sẽ vẫn là „địa cầu“ – đối cực với trời – khi nó chối từ và tránh
né í Chúa. Vì thế, ta cầu sao cho địa cầu được giống như trời, sao cho địa cầu
trở thành „trời“.
Nhưng „í Chúa“ là gì? Làm sao biết được í Ngài? Ta có thể làm gì với í đó?
Kinh-thánh cho rằng, con người tự thẳm sâu hồn mình biết được í Chúa. Họ biết
rằng, có một sự cùng-biết với Chúa thả neo nơi đáy lòng họ, cái đó ta gọi là
lương tâm (xem Rom 2,15 chẳng hạn). Nhưng họ cũng hiểu rằng, sự cùng-biết với
đấng Tạo hoá đó - cái mà Thiên Chúa đã trao ban cho ta khi dựng nên ta « theo
hình ảnh Ngài » - đã bị sứt mẻ trong quá trình lịch sử. Cái đó chẳng bao giờ
biến mất hẳn, song bị che khuất bằng nhiều cách. Nó còn lại như một ngọn lửa âm
ỉ, cơ hồ chực tắt ngúm, vì đống tro tàn tiên kiến của ta luôn sẵn sàng đổ ập
lên. Và vì thế, Thiên Chúa không ngừng tìm cách nói với ta, đánh thức ta bằng
thứ ngôn ngữ và dấu chỉ lịch sử bên ngoài, dùng chúng để chỉ đường vẽ lối cho
cái biết nội tâm (lương tâm) của ta bị khuất lấp.
Tâm điểm của « bài học chỉ vẽ » lịch sử đó là mười giới răn ở núi Si-nai trong
mạc khải kinh-thánh. Thập giới này, như ta đã thấy, không bị bài giảng trên núi
biến ra thành vô ích hay trở nên lạc hậu, nhưng nó tiếp tục mở ra, toả sáng lên
từ chiều sâu tinh khiết và lớn lao của nó. Như ta đã thấy, thập giới không phải
là một gánh nặng từ ngoài đổ lên vai ta. Bao lâu ta còn khả năng thực thi nó,
thì nó là mạc khải căn bản của chính Thiên Chúa, và vì thế nó nói lên đâu là
chân lí của cuộc đời. Những nốt nhạc của đời ta đã được thập giới mở khoá, để ta
có thể đọc và thực thi chúng trong cuộc sống. Í Chúa xuất phát từ sự sống Ngài,
và vì thế dẫn ta bước vào chân lí cuộc đời, nó giải thoát ta khỏi cuộc tự sát
bởi những giả dối.
Cuộc sống ta là do Chúa mà có, nên dù gặp những nhơ nhớp cản bước, ta vẫn có thể
lên đường tìm tới í Ngài. Kinh-thánh Cựu-ước nói tới « người công chính », có
nghĩa là người đó sống theo lời Chúa, mà cũng có nghĩa là sống theo í Chúa, và
người đó luôn cố gắng khép mình vào phù hợp với í đó.
Nếu đức Giê-su đã nói với ta về í Chúa và trời -là nơi í Chúa được thể hiện-,
thì điều đó cũng có liên quan tới trọng tâm sứ mạng của Ngài. Bên bờ giếng
Gia-cóp, Ngài bảo với các môn đệ, khi họ mang thức ăn đến cho Ngài : «Của ăn
của Ta là việc thực thi í của đấng đã sai Ta » (Joh 4,34). Có nghĩa là, mục
đích cuộc sống của Ngài là làm sao trở nên một với í Chúa Cha. Trở nên làm một
với í Cha là tất cả tâm điểm của đời Ngài. Với lời cầu trên của kinh Lạy Cha, ta
nghe những lời khắc khoải của đức Giê-su trên núi cây dầu vọng lại: « Cha ơi,
nếu được, xin Cha cất chén này khỏi con. Nhưng đừng theo í con, mà tuỳ í Cha
định ». «Cha ơi, nếu chén này không thể cất khỏi con được, mà con phải
uống, thì xin cho í Cha được nên trọn » (Mat 26, 39.42). Những lời khắc
khoải đó cho thấy đức Giê-su vừa mang tâm hồn con người vừa ở trong kết hiệp làm
một với í Thiên Chúa. Ta sẽ phải bàn thêm điểm này khi suy tư về cuộc thương khó
của Ngài.
Tác giả lá thư gởi tín hữu Do-thái, khi thao thức với cảnh xẩy ra trên núi cây
dầu, đã giải mã được tâm điểm bí ẩn của đức Giê-su (5,7) và – xuất phát từ cái
nhìn vào tâm hồn Ngài - đã diễn tả cái bí ẩn đó ra qua Thánh-vịnh 40. Người đó
đọc câu Thánh-vịnh như vầy: «Chúa chẳng muốn lễ vật hiến tế lẫn lễ vật của
ăn, nhưng Ngài đã sắm sửa cho tôi một thân thể… Và rồi tôi nói : Vâng, này tôi
đến – trong sách có chép về tôi – để làm theo í muốn của Chúa » (Hr 10,5tt ;
Tv 40, 7-9). Toàn bộ cuộc hiện hữu của đức Giê-su được tóm gọn trong câu : « Vâng,
con đến để làm theo í Cha ». Nhờ vậy ta mới hiểu được câu : « Thức ăn của
Ta là làm theo í của đấng đã sai Ta ».
Và từ đó, giờ đây ta hiểu rằng, chính đức Giê-su là « trời » trong í nghĩa thẳm
sâu và chân nhất. Trong Ngài và qua Ngài toàn bộ í Thiên Chúa được thể hiện.
Nhìn lên Ngài, ta biết rằng, tự sức mình ta chẳng bao giờ có thể trở nên « công
chính » được. Sức nặng của í riêng luôn kéo ta ra khỏi í Chúa, nó khiến ta chỉ
trở thành «địa cầu». Nhưng Ngài giang tay đón lấy ta, nâng ta lên, đưa ta vào
lòng, và qua việc kết hợp cộng đoàn trong Ngài ta cũng nhận ra được í của Thiên
Chúa. Vì thế, với lời cầu thứ ba này, rốt cuộc, ta cầu xin Chúa cho chúng ta
luôn được gần Ngài, để nhờ đó í Chúa vượt thắng lực trì trệ của ham muốn riêng
tư, để chúng ta có thể bay lên tới độ cao mà ta được mời gọi đạt tới.
Xin cho chúng con lương thực hàng ngày
Lời cầu thứ tư mang « tính người » nhất. Đức Giê-su vẫn luôn hướng tầm nhìn của
ta về cái cơ bản, cái «duy nhất cần thiết», nhưng dù vậy, Ngài cũng đã biết đến
những nhu cầu trần thế của ta và chấp nhận chúng. Ngài đã từng nói với các môn
đệ : «Anh em đừng lo lắng cho sự sống
mình, đừng lo không có cái gì ăn » (Mat 6,25). Dù vậy, Ngài đã dạy ta cầu
xin của ăn, và qua đó, chuyển những âu lo của ta lên Thiên Chúa. Bánh là « hoa
trái của địa cầu và của lao công con người », nhưng địa cầu sẽ không mang
hoa trái, nếu nó không nhận mưa nắng và ánh sáng mặt trời từ trên. Tác động hài
hoà của các lực vũ trụ nằm ngoài tầm tay của ta đó đi ngược lại cơn cám dỗ kiêu
căng của ta, cho rằng chính mình và chỉ có khả năng mình mà thôi cũng có thể tạo
ra sự sống. Lối kiêu ngạo như thế chỉ tạo ra lạnh lùng và bạo động. Nó rốt cuộc
phá hoại địa cầu. Nó không thể là gì khác, bởi vì nó chống lại chân lí này, là
loài người chúng ta chỉ lớn lao, tự do và trở nên chính mình, khi chúng ta mở
lòng mình ra cho Chúa. Ta có quyền cầu xin, và ta nên cầu xin. Ta biết, nếu như
cha trần gian cho con mình những thứ tốt lành khi chúng xin, thì Cha trên trời
sẽ chẳng từ chối ta những gì mà chỉ có Ngài mới có thể ban (xem Lc 11,9-13).
Thánh Cy-pri-a-nô nêu lên hai khía cạnh quan trọng khi diễn giải kinh Lạy Cha.
Trên đây, ta đã thấy ngài mở ra í nghĩa rộng lớn của từ
Cha « chúng con ». Giờ đây, ngài lại bàn tới chữ lương thực « chúng
con ». Cả ở đây nữa, chúng ta cũng cầu nguyện với tư cách cộng đoàn theo Chúa,
cộng đoàn con cái Ngài, và vì thế không ai được chỉ nghĩ tới riêng mình mà thôi.
Từ í này, ta có thêm một bước : Ta cầu xin lương thực cho ta – mà cũng xin cho
cả kẻ khác nữa. Ai dư đầy lương thực, được kêu mời san sẻ một phần cho người
khác. Thánh Gio-an Chry-sô-stô-mos, khi diễn giải lá thư thứ nhất gởi tín hữu
Cô-rin-tô, đã nhấn mạnh như sau, khi ngài đọc thấy sự bực dọc của ki-tô hữu ở
đó : « mỗi miếng bánh ta cắn vào miệng là
miếng bánh của mọi người, bánh của thế giới ». Linh mục Kolvenbach viết
thêm : « Làm sao khi cầu xin Cha mình về
bàn tiệc thánh và khi dâng thánh lễ ta lại không thể không xin cho mọi người là
anh chị em mình có được bánh ăn hàng ngày ? » (sđd, trang 98). Chúa Ki-tô đã
đáp lại lời xin của tập thể Chúng Ta : « Anh
em hãy cho họ ăn » (Mc 6,37).
Nhận xét thứ hai của thánh Cy-pri-a-nô cũng quan trọng. Kẻ nghèo mới phải xin
lương thực hàng ngày. Vì các môn đệ nghèo nên phải xin. Vì họ là những người vì
đức tin sẵn sàng từ bỏ thế gian, của cải và danh vọng, nên họ chỉ còn xin cho
được cái gì cần thiết cho đời sống mà thôi.
« Người theo Chúa chỉ xin cái gì
cần cho sự sống mỗi ngày là đúng, bởi vì người đó không được phép lo lắng cho
ngày mai. Mà cũng quả thật mâu thuẫn, nếu như người đó muốn sống lâu trên đời
này, là vì hàng ngày ta vẫn cầu xin sao cho Nước Chúa mau đến mà» (De
dem or 19, sđd, tr. 281). Trong Giáo hội phải luôn có những người sẵn sàng từ bỏ
tất cả để theo Chúa ; cần có những người tuyệt đối tin vào Chúa, tin vào lượng
từ bi Chúa luôn nuôi sống mình – nghĩa là những người qua cách đó làm chứng cho
đức tin thường hay bị chao đảo bởi sự vô tâm và yếu lòng của ta.
Những kẻ hoàn toàn đặt mình nơi Chúa, mà không cần tìm kiếm sự an ninh nào khác
đó, cũng liên quan tới chúng ta. Họ thúc đẩy ta tin tưởng vào Chúa, thúc đẩy ta
phó thác cho Ngài trong mọi thử thách lớn cuộc đời. Đồng thời, lối sống dấn thân
hoàn toàn cho Chúa và cho Nước trời trong khó nghèo của họ là một hành vi liên
đới với những kẻ nghèo trên thế giới ; hành vi đó trong lịch sử đã tạo nên những
đánh giá mới, tạo nên sự sẵn sàng phục vụ và dấn thân cho tha nhân mới.
Lời cầu xin bánh hàng ngày dùng đủ cũng nhắc ta tới biến cố 40 năm lang thang
trong sa mạc của dân Is-ra-en ; họ chỉ sống bằng ma-na, thứ bánh Thiên Chúa gởi
từ trời xuống. Mỗi người chỉ được gom đủ ma-na cho nhu cầu mỗi ngày; chỉ ngày
thứ sáu mới được phép gom cho hai ngày, để giữ luật sa-bát (Xh 16,16-22). Cộng
đoàn môn đệ, chỉ biết sống nhờ vào tình thương Chúa mỗi ngày, cũng là lập lại
kinh nghiệm của đoàn dân lữ hành xưa được Thiên Chúa nuôi trong sa mạc.
Như vậy, lời cầu xin lương thực đủ trong ngày mở ra những viễn ảnh vượt lên trên
chân trời miếng ăn hàng ngày. Nó cho thấy quyết tâm theo Chúa dứt khoát của cộng
đoàn môn đệ, sẵn sàng từ bỏ của cải trần gian để bước theo con đường của những
kẻ « coi sự ô nhục của Đấng được xức dầu
lớn hơn kho tàng Ai-cập » (Hr 11,26). Chân trời cứu độ hiện ra – mở ra tương
lai quan trọng và thực tế hơn thời gian hiện tại.
Như vậy, giờ đây ta đụng tới một từ ngữ xem ra vô hại trong các bản dịch thông
thường : xin cho chúng con bánh / lương thực « hàng
ngày ». Chữ « hàng ngày » dịch từ
chữ hi-lạp epiúsios, một chữ mà bậc
thầy tiếng hi-lạp là nhà thần học Origenes (mất khoảng 254) bảo là được các tác
giả Tin Mừng nghĩ ra, chứ không có trong ngôn ngữ hi-lạp. Nay thì người ta đã
tìm thấy chữ đó trong một cuộn Papyrus viết vào thế kỉ thứ 5 sau công nguyên.
Nhưng điều này cũng không cho ta biết chắc chắn về nghĩa ngữ của một từ hiếm hoi
và lạ lẫm đó. Muốn hiểu, phải cần có sự trợ giúp của các nhà tầm nguyên học và
của việc nghiên cứu về các mối liên quan.
Ngày nay, có hai lối diễn nghĩa chính. Một lối cho rằng, chữ đó có nghĩa là
« [bánh/lương thực] cần cho cuộc sống »,
như vậy thì lời cầu sẽ là : Xin cho chúng con lương thực cần thiết để sống. Lối
kia bảo rằng, đúng ra phải dịch là « [bánh/lương thực]
tương lai » - lương thực cho ngày
tới. Nhưng lời cầu: xin cho chúng con hôm nay lương thực cho ngày mai, xem ra
không hợp lí đối với cuộc sống của các môn đệ lúc đó. Chỉ có thể hiểu ở nghĩa vị
lai này, khi ta cầu cho được bánh sự sống tương lai: xin Chúa ban cho ma-na thật
của Ngài. Như vậy, đây sẽ là một
lời cầu cứu độ, cầu cho được tham dự trước vào thế giới đang đến, cầu xin Chúa
Ki-tô ngay « hôm nay » cho chúng ta bánh tương lai, bánh của trời đất mới, là
chính Ngài. Như thế, lời cầu mang một í nghĩa cứu độ. Một vài bản dịch cổ
nghiêng về hướng này, chẳng hạn như bản Vulgata của thánh Hy-ê-rô-ni-mô, ngài
dùng một từ đầy bí ẩn « supersubstantialis »
để dịch, có í ám chỉ một « chất » mới, cao hơn, mà đức Ki-tô trao ban cho chúng
ta trong bí tích thánh như là của ăn thật cho cuộc sống.
Trên thực tế, các thánh phụ đều đồng tâm hiểu lời cầu thứ tư cũng là một lời cầu
thánh thể ; trong í nghĩa đó, kinh Lạy Cha được dùng như lời nguyện trước bữa ăn
thánh thể trong phụng vụ thánh lễ. Điều này không có nghĩa là í nghĩa trần thế
của câu kinh, mà chúng ta đã diễn giải rõ ràng ở trên kia, không còn nữa. Các
thánh phụ suy nghĩ tới nhiều chiều kích của câu kinh xin lương thực hàng ngày
cho kẻ đói ăn đó, và chính vì thế, các ngài liên tưởng đến hình ảnh đoàn dân lữ
hành đã được chính Cha trên trời nuôi nấng. Phép lạ ma-na, qua những lời giảng
quan trọng liên quan tới bánh lương thực của đức Giê-su, dẫn ki-tô hữu chúng ta
tự vượt lên chính mình để hướng về một trời đất mới, trong đó Logos – Lời muôn
đời của Thiên Chúa – sẽ là của ăn trong bữa tiệc cưới đời đời của ta.
Ta có quyền hướng suy tư tới các chiều kích trên đây không, hay đó cũng chỉ là
những kiểu « khoác áo thần học » cho một lời cầu vốn mang nghĩa thuần trần tục?
Ngày nay, người ta sợ những lối « khoác áo thần học » đó ; nỗi sợ kia không phải
là hoàn toàn vô cớ, nhưng ta cũng không được quá phóng đại nó lên. Tôi nghĩ, khi
diễn giải câu xin bánh hàng ngày này, ta phải để í tới mối liên hệ bao quát hơn
giữa lời nói và việc làm của đức Giê-su, trong đó những nội dung cơ bản của cuộc
sống con người có một vai trò đặc biệt : Nước, bánh và hai dấu chỉ của lễ hội và
vẻ đẹp trần thế là vườn nho và rượu nho. Chủ đề bánh / lương thực có một vị trí
quan trọng trong sứ điệp của đức Giê-su, đi từ cơn cám dỗ trong hoang địa qua
phép lạ hoá bánh tới bữa tiệc li.
Bài giảng quan trọng về bánh trong Tin Mừng Gio-an (Joh 6) mở ra toàn bộ í nghĩa
của đề tài này. Trước hết là cơn đói của những người đi theo đức Giê-su, mà Ngài
không thể không cho họ ăn trước khi giải tán, nghĩa là Ngài đã cho họ « lương
thực cần thiết » cho sự sống thường ngày. Nhưng đức Giê-su đã không dừng lại ở
đó, Ngài không giản lược tất cả vào những nhu cầu vật chất và sinh lí mà thôi.
« Con người không chỉ sống bằng cơm bánh,
nhưng bằng lời phát ra từ miệng Thiên Chúa » (Mt 4,4 ; Tl 8,3). Phép lạ hoá
bánh làm nhớ tới phép lạ ma-na trong sa mạc, nó đồng thời đưa ta hiểu lên một
nấc nữa : Lương thực thật sự cho con người chính là Logos, có nghĩa là Lời hằng
sống, là Í nghĩa muôn đời. Logos là nơi ta xuất phát và cuộc sống đời ta phải
được định hướng theo đó. Lối chú giải vượt qua bình diện vật chất này, trước
hết, chỉ nói lên những gì các triết gia lớn đã nhìn ra và có thể nhìn ra. Tuy
nhiên, nó đồng thời dẫn ta tới bước vượt kế tiếp: Lời hằng sống trở nên bánh cụ
thể cho con người, chỉ khi Lời đó đã « mặc lấy xác thịt » và Lời đó được nói với
ta qua ngôn ngữ loài người.
Từ đó, ta có bước vượt thứ ba và là cơ bản nhất, đây là điểm gây xào xáo cho dân
chúng ở Ca-pha-na-um : Đấng làm người đã ban tặng mình Ngài cho ta trong bí
tích, và chỉ như vậy Lời hằng sống mới trở thành ma-na, thành quà tặng lương
thực tương lai, và quà tương lai này đã được trao cho ta ngay hôm nay rồi. Và
một lần nữa, đức Giê-su đã tóm gọn tất cả lại: Việc mặc lấy xác phàm nhất mực bề
ngoài kia quả đúng là sự biến hoá tinh thần thật: «Tinh
thần mới tác sinh, thân xác chẳng ích gì » (Joh 6,62). Ta có nên loại trừ
mọi thứ chú giải vượt ra ngoài í nghĩa trần tục thông thường trong lời cầu xin
lương thực này không ? Nếu ta chấp nhận sứ điệp của đức Giê-su như một tổng thể,
thì ta không thể bỏ qua chiều kích thánh thể trong lời nguyện thứ tư này. Lời
cầu: Xin cho tất cả chúng con lương thực hàng ngày quả cụ thể và cơ bản. Nhưng
lời đó cũng giúp ta biết vượt qua cái vật chất để xin cho được ngay từ bây giờ
thứ của ăn mới, của ăn « ngày mai ». Và khi chúng ta hôm nay xin cho được của ăn
« ngày mai », thì chúng ta cũng phải lo mà sống cho ngày mai ngay tự bây giờ,
nghĩa là sống cho tính yêu Chúa, một tình yêu kêu gọi tất cả chúng ta phải mang
trách nhiệm cho nhau.
Tôi muốn nhắc lại ở đây một lần nữa câu nhấn mạnh về hai chiều kích í nghĩa của
thánh Cy-pri-a-nô. Nhưng thánh nhân cũng đã quy chữ « chúng con », mà chúng ta
đã bàn trên kia, về hướng Thánh Thể, là của ăn cho những kẻ theo Chúa Giê-su
Ki-tô. Ngài nói : Là những người được lãnh nhận của ăn Thánh Thể, chúng ta phải
luôn xin cho đừng ai bị cắt lìa khỏi thân thể đức Ki-tô. « Vì
thế, chúng ta cầu xin cho ta nhận được lương thực ‘của chúng con’ mỗi ngày là
đức Ki-tô, xin cho chúng ta, những kẻ ở lại và sống trong đức Ki-tô, đừng bị
tách lìa khỏi thân xác và sức mạnh chữa lành của Ngài » (De dom or 18, sđd,
tr 280t).
(Còn tiếp một kỳ)