KHÔNG TIẾNG, KHÔNG LỜI
Đỗ Thái Nhiên
Thông
thường, muốn diễn đạt tư tưởng, con Người cần đến ngôn ngữ. Ngữ là lời,
là chữ nghĩa. Ngôn là âm thanh phát ra từ chữ nghĩa, là tiếng. Như vậy, tiếng và
lời là đôi cánh giúp cho quyền tự do diễn đạt tư tưởng của người dân được bay
lượn khắp không gian. Tuy nhiên, sống dưới chế độ độc tài toàn trị kiểu CSVN,
quyền tự do tư tưởng chỉ là và chính là chiếc bánh vẽ. Thế nhưng đời sống vẫn
còn đó, tư tưởng vẫn còn đó, không có quyền tự do tư tưởng, con Người không thể
làm người. Vì vây, trong xã hội Việt Nam ngày nay, rất nhiều khi người dân đã
phải diễn đạt cảm nghĩ của mình thông qua phương pháp không dùng tiếng, chẳng
dùng lời, nhưng tư tưởng vẫn được trao đổi giữa những người muốn nói và muốn
nghe. Sau đây là một trường hợp cho thấy tư tưởng đã thực sự xuất hiện giữa
“vùng không tiếng, không lời”.
Ngày
22.7.2007, từ Saigon, Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Phạm Minh Mẫn đã gửi cho LM
Phaolô Nguyễn Thái Hợp thuộc câu lạc bộ Nguyễn Văn Bình một bức thư, tạm gọi là
“thư hỏi ý”. Thư này gồm ba phần rõ rệt:
Phần thứ
nhât. Xin trích nguyên văn: “ Năm 1954, trước Vaticant II, Giáo Hội Công Giáo
phía Bắc có thái độ cứng rắn, bất hợp tác với nhà nước Cộng Sản, gia đình Công
Giáo không gửi con em đến trường nhà nước.”
Phần thứ
hai.
Xin trích
nguyên văn: “ Năm 1975, sau Vaticant II, Giáo Hội Công Giáo phía Nam có thái
độ hợp tác, nhường quyền sử dụng trường, cô nhi viện, dưỡng lão viện và bệnh
viện Công Giáo cho nhà nước đó, gia đình Công Giáo gửi con em đến trường nhà
nước, mọi người đến bệnh viện nhà nước chữa bệnh...”
Sau hơn 30
năm hợp tác, bức thư của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn ghi nhận một số kết quả như
sau:
- Guồng
máy giáo dục tiểu, trung, và đại học của nhà nước sản sinh ra trên 60% nhân sự
“gian lận, lừa dối”, thử hỏi: “trường đời ngày nay tỷ lệ ăn gian, nói
dối, hàng giả, thuốc giả, học giả là bao nhiêu?”
- Từ 60%
đến 80% những người cai nghiện ma túy đã bị nhiễm HIV. Trước kia con số này chỉ
là 20%
- Những
người tự nhận là đại diện cho giai cấp vô sản đã tự biến thành tư sản đỏ, rồi tư
bản đỏ, rồi đại gia đỏ. “ Lâu lâu rồi, tôi thấy báo chí tường thuật lời ông
Tổng Bí Thư tuyên bố tham nhũng là quốc nan. Có lẽ là quốc nạn cho người dân,
chớ còn đối với nhiều đày tớ của nhân dân, đó là cơ hội tốt để trở thành đại gia
đỏ” ( Nguyên văn)
Phần thứ
ba.
Đối diện
với nhà cầm quyền phản nước, hại dân, lịch sử cận đại ghi nhận quần chúng Công
Giáo Việt Nam đã có hai thái độ ứng xử:
-
Một là cứng rắn bất hợp tác. Đó là cách ứng xử của Giáo Hội Công Giáo phía Bắc
đối với chế độ CSVN những năm sau 1954. Chính quyền vẫn tồn tại nhờ vào chính
sách cai trị hà khắc của hệ thống công an trị. Xã hội xuống cấp cả ba mặt: giáo
dục, kinh tế, chính trị.
-
Hai là hợp tác để cảm hóa chế độ, ước mong chế độ sẽ phản tĩnh, xã hội sẽ vươn
lên. Đó là cách ứng xử của Giáo Hội Công Giáo phía Nam đối với chế độ CSVN sau
1975. Thế nhưng, qua ba thập niên hợp tác: Guồng máy giáo dục CS đã đục phá sức
khỏe tinh thần của người dân. Guồng máy y tế CS đã tàn hại sức khỏe thể xác của
người dân. Giữa toàn cảnh nhân dân Việt Nam lầm than, chỉ có CSVN và tay sai là
thành phần hiên ngang lớn mạnh trong tội ác. Túi tiền của đảng viên CS căng
phồng theo tốc độ phi mã. Từ đảng viên vô sản 1975, họ nhanh chóng tiến lên tư
sản đỏ, rồi tư bản đỏ, ngày nay là đại gia đỏ.
Như vậy,
không có sự chối cãi rằng: Người dân không thể bất hợp tác với CS, người
dân lại càng không thể hợp tác vói CS. Chẳng lẽ người dân đành bó tay
trước bi hài kịch CS đắp mô trên đường tiến của lịch sử? Chúng ta, người Việt
Nam nên nghĩ gì và làm gì? Thay vì trả lời câu hỏi vừa nêu, Đức Hồng Y Tổng Giám
Mục Phạm Minh Mẫn bất ngờ gác bút! Đàng sau thái độ gác bút của vị Hồng Y thành
phố Saigon là câu chuyện “không tiếng, không lời”.
Nếu có
người nào đó hỏi Bạn: ba con số 1, 2, 3, Bạn chọn số nào? Trong trường hợp chọn
số 3, bạn có hai cách trả lời.
Cách thứ
nhất trả lời trực tiếp: Tôi chọn số 3.
Cách thứ
hai: Tôi không chọn số 1, Tôi cũng không chọn số 2. Người nghe hiểu ngay là Bạn
chọn số 3. Bằng vào cách thứ hai Bạn
không hề nhắc tới số 3. Bạn đã chọn số 3 theo phương pháp không tiếng,
không lời. Đó là nội dung cốt lõi của phép lý luận loại suy.
Bây giờ,
chúng ta hãy trở về với bức thư của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Qui luật lịch sử
khẳng định: Quan hệ giữa quần chúng và nhà cầm quyền nằm trong ba hình thái:
hoặc là hợp tác(số 1), hoặc là bất hợp tác(số 2), hoặc là tìm một chế độ mới,
thay thế chế độ cũ(số 3). Hông Y Tổng Giám Mục Saigon xác nhận đi con đường số 1
hay số 2 đều là thái độ bó tay trước những bế tắc của lịch sử. Tác giả bức
thư không đề cập tới con đường số 3, nhưng theo phản ứng thông minh bình
thường, tất cả người đọc đều nghĩ rằng chế độ CSVN là một chế độ không thể sửa
đổi, nó phải bị thay thế. Đó là tất cả kỷ thuật và nghệ thuật của bút pháp
“không tiếng không lời” được gói ghém trong thư ngày 22.7.2007
của Hồng Y Phạm Minh Mẫn.
Bức thư
“không tiếng, không lời” vừa nêu chuyển tải bốn thông điệp sau đây:
1)Vị lãnh đạo cao cấp hàng
đầu của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam phải sử dụng bút pháp không tiếng, không lời
khí bàn tới hiện tình bế tắc của lịch sử Việt Nam. Sự thể này chứng minh mạnh mẽ
rằng tại Việt Nam ngày nay, quyền tự do tư tưởng đang bị đè bẹp dưới tảng đá
“bịt miệng”. Bịt miệng bằng tay kiểu hình ảnh LM Nguyễn Văn Lý trước tòa án CS.
Bịt miệng bằng công an văn hóa. Bịt miệng bằng luật cấm tư nhân làm báo...
2)Từ nhiều năm qua, có một số dư luận tỏ ý phiền trách thái độ bị xem là
mềm dẽo của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam dành cho CSVN. Thư 22/07/2007 khẳng
định: công bằng và lẽ phải đòi hỏi trước khi nêu bật một chân lý, con người phải
thực sự sống dấn thân, thực sự gánh chịu những nhục nhằn của cuộc dấn thân. Dấn
thân bất hợp tác 1954 cộng với dấn thân hợp tác 1975 đã làm cho người Công Giáo
Việt Nam trở thành nhân chứng sinh động của xã hội CS. Ở vào vị trí nhân chứng
khốn khó kia, người Công Giáo Việt Nam có đầy đủ bình tĩnh và sáng suốt để tin
rằng lịch sử Việt Nam chỉ có thể hanh thông chừng nào guồng máy quyền lực của CS
bị giải thể. Mọi hy vọng về một chế
độ CS cải tà qui chính vĩnh viển chỉ là ảo vọng.
3)Đời sống thiên biến, vạn hóa. Người Công Giáo rất nhiều khi phải uốn
mình sống theo lẽ biến hóa của Trời Đất, của xã hội. Thế nhưng, kinh qua muôn
vạn tình huống khó khăn của đời sống, người Công Giáo Việt Nam không bao giờ xa
rời hai mục tiêu căn bản: Một là công bằng và lẽ phải. Hai là vị trí sống của
người Công Giáo phải là vị trí khiêm tốn nhất giữa cảnh sống khốn khổ của quần
chúng ./.