VIẾT TỪ CANADA

MẶC GIAO

 

GIÁO DÂN VN HẢI NGOẠI

CÓ CHỐNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VN HAY KHÔNG?

 

“Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Đó là lời ông bà ngày xưa dậy con cháu, nhắm vào những người không biết gì mà lại ưa phát ngôn. Đức Cha Nguyễn Văn Hòa, Giám Mục Nha Trang, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục VN, cũng vừa phán một câu tương tự nhắm vào một số người VN, đặc biệt là giới truyền thông, ở hải ngoại: “phải tìm hiểu sự thật đến nơi đến chốn, nhất là những người lo việc truyền thông là phải cân nhắc điều mình viết ra, nói ra. Một điều sai thì dẫn tới nhiều tai hại lắm” (trả lời phỏng vấn của Vietcatholicnews 24-4-2007). Sở dĩ Đức Cha Hòa vừa dậy vừa lên án như vậy là vì trong thời gian gần đây có vô số bài viết, bài phỏng vấn được phổ biến trên báo in, báo điện, truyền thanh, truyền hình với nội dung trách móc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) im hơi lặng tiếng trước việc cộng sản VN gia tăng đàn áp những người đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, thậm chí không hé môi phản đối việc công an đập tượng Đức Mẹ Sầu Bi ở Nho Quan, Ninh Bình và đưa linh mục Nguyễn Văn Lý ra xử tại một phiên tòa hề (dân biểu Mỹ Chris Smith gọi là kangaroo court), không cho bị cáo tự biện hộ, lại còn khóa tay, bịt miệng bị cáo một cách công khai. Hình ảnh này được phổ biến khắp thế giới. Vì có những lời qua tiếng lại như vậy, chúng ta thử xét xem giáo dân VN ở hải ngoại, trong đó có giới truyền thông, có nói gì sai và có chống HĐGMVN không? Nếu sai thì sai chỗ nào, và nếu chống thì lý do tại sao?

Phải nói ngay rằng giáo dân VN ở hải ngoại rất thương Giáo Hội quê hương và rất kính trọng các vị trong hàng giáo phẩm từ VN qua, chẳng những các vị hồng y, giám mục, mà còn cả các linh mục, các tu sĩ nam nữ. Khi cộng sản mở cửa cho một số vị đi ra ngoài thăm viếng, giáo dân tiếp đón rất ân cần, rất xúc động khi gặp lại những mục tử đến từ quê nhà, rất rộng rãi giúp đỡ để các vị có phương tiện xây dựng lại Giáo Hội bị kềm kẹp, sống khó nghèo từ ngày cộng sản chiếm trọn đất nước. Các cơ quan truyền thông Công Giáo của người Việt hải ngoại đã phổ biến rộng rãi tin tức về các cuộc viếng thăm này, và luôn kêu gọi bà con rộng lòng giúp đỡ Giáo Hội quê nhà. Cho tới nay, dù sự “qúy hóa” được gặp lại các vị chủ chăn đến từ quê hương xa xôi có loãng bớt, vì “năng đi năng lại xem thường nhau ra”, dù sự giúp đỡ tài chánh không còn “trúng mùa” như trước, giáo dân hải ngoại vẫn tiếp tục giữ thái độ trân trọng và hào hiệp đối với qúy vị. Phải công tâm nhìn nhận, những công trình xây cất ở quê nhà sẽ không được “hoành tráng”, những công tác truyền giáo, xã hội của Giáo Hội VN sẽ không được thực hiện với qui mô như hiện nay nếu không có sự đóng góp phương tiện của giáo dân VN hải ngoại. Hơn nữa, mỗi khi Giáo Hội bị bức bách, bị đe dọa bởi những mưu toan hay pháp lệnh bất công, bị chiếm đất, cướp cơ sở, thì các đấng bậc lại chuyển ra ngoài đủ thứ tài liệu và hình ảnh để nhờ lên tiếng trước dư luận quốc tế. Người Công Giáo VN ở nước ngoài đã tự nguyện làm con bò sữa cho qúy vị vắt, làm cái loa để các vị phổ biến những lời kêu gọi. Không ai có thể phủ nhận lòng hiếu thảo và quảng đại của tất cả mọi tầng lớp giáo dân VN hải ngoại, trong đó có cả giới truyền thông, đối với Giáo Hội quê nhà. Về phần các vị đại diện cho Giáo Hội VN, các vị đã dùng sữa và loa như thế nào để bảo vệ và phát triển Giáo Hội? Các vị đã đáp lại lòng hiếu thảo của giáo dân hải ngoại như thế nào khi coi họ là những con bò không có óc, chỉ được phép cho sữa và ngậm miệng, không được nói lời phải trái với những “đấng làm thầy”?

Giáo dân càng ngày càng nản khi thấy các vị càng ngày càng đua nhau đi ngoại quốc đông vui như trẩy hội. Có những vị đã nghiên cứu kịch bản một cách rất nhuần nhuyễn và diễn xuất rất khéo léo. Tôi đã chứng kiến một “ma sơ” kể khổ trong một thánh lễ chiều Thứ Bảy tại giáo xứ của tôi. Đến đoạn gay cấn, “ma sơ” khóc nức lên, làm cả nhà thờ, trong đó có tôi, mủi lòng muốn khóc theo, và dĩ nhiên sau đó ai cũng rộng rãi móc hầu bao. Sáng hôm sau, Chúa Nhật, vì lý do riêng tôi đi dự thêm lễ nữa. Cha chủ tế cũng cho phép “ma sơ” hôm trước lên kể khổ. Sơ đã thuộc lòng bài bản, ca diễn y hệt hôm trước, và đến đoạn gay cấn, sơ lại khóc nức lên, trông thiểu não vô vàn. Một dịp khác, có một linh mục từ VN đến quyên góp. Cha phát biểu đại ý: “Thấy nhà thờ của anh chị em có hàng trăm ngọn đèn điện chiếu sáng như thiên đàng, tôi chỉ ước mơ nhà thờ nơi hẻo lánh của chúng tôi có được một máy điện nhỏ, đủ cung cấp cho mười ngọn đèn vàng là chúng tôi sung sướng lắm rồi”. Cầu được ước thấy. Chuyện lớn thì khó. Một máy điện là chuyện nhỏ. Chúng tôi giúp cha được ngay. Một thời gian ngắn sau đó, tôi sang Mỹ thăm ông bà cụ thân sinh của tôi và được nghe ông cụ tôi kể rằng mới đây có một cha từ VN đến làm lễ và khen nhà thờ có nhiều đèn sáng láng như thiên đàng. Cha chỉ mơ có một máy điện nhỏ đủ thắp 10 ngọn đèn cho nhà thờ ở vùng quê VN của cha là cha mãn nguyện lắm rồi. Tôi hỏi cụ là giáo dân có tặng cha cái máy điện nào không. Cụ trả lời: “mấy cái cũng có, một cái ăn thua gì”. Bài bản của linh mục này là ở nơi nào ngài cũng chỉ khiêm tốn xin một máy điện. Cho hai ba cái cũng không sao. Sau một vòng thăm Mỹ và Canada, nếu ngài dùng hết tiền quyên được để mua máy điện đúng như lời xin, nhà thờ của ngài sẽ sáng rực một góc trời, sao chiếu trên hang đá Bê Lem chắc cũng phải chào thua!

Việc quyên góp qúa nhiều đã trở thành một gánh nặng cho giáo dân và làm giảm tư cách của những vị đi quyên. Cách đây khá lâu, tôi dự thánh lễ tại một cộng đồng VN ở  Orange County, bang California. Trong thánh lễ đó, có một linh mục Mỹ đại diện Tòa Giám Mục địa phương đến kêu gọi giáo dân góp tiền lần thứ hai để giúp cơ sở hưu dưỡng của các cha già. Đó là bổn phận tự nhiên của giáo dân. Như vậy, trong thánh lễ hôm đó, giáo dân đã phải góp tiền hai lần. Nhưng họ sẽ còn phải góp thêm hai lần nữa. Nhìn lên bàn thờ, tôi thấy ngoài linh mục VN chủ tế, còn có hai linh mục VN khác đồng tế. Trong hai linh mục khách đến từ VN, tôi nhận ra một vị là bề trên của một dòng, đã từng đi quyên góp tiền của dân tị nạn cộng sản tại Canada, rồi sau đó đi theo phái đoàn cộng sản qua Mỹ để “giải độc” cho cộng sản về tội đàn áp tôn giáo. Cha chủ tế giới thiệu hai vị linh mục VN này và xin giáo dân rộng tay giúp đỡ các ngài. Lúc đó Giáo Hội Hoa Kỳ đã có lệnh cấm quyên tiền cho các chức sắc của Giáo Hội VN trong nhà thờ. Sau lễ, mỗi ngài phải ra đứng ở một cửa. Không có giỏ thu tiền (vì đang đựng tiền của hai lần quyên chính thức), nên mỗi ngài cầm một cái bồ đài cuốn bằng giấy báo. Trơi hôm đó lại mưa. Người ướt thì ráng chịu. Nhưng giấy báo bị mục nước và tiền giấy bị thấm nước thì hơi phiền. Trông các ngài loay hoay đến tội! Tôi lắc đầu ngán ngẩm. Người cháu đi theo tôi nói nhỏ: “Cảnh này không phải diễn ra lần đầu đâu chú ơi!”.

Đó chỉ là vài vụ quyên tiền tôi được chứng kiến tận mắt. Còn hàng trăm, hàng ngàn vụ khác xảy ra khắp nơi chắc chắn cũng có đầy đủ hỷ nộ ai lạc kể sao cho hết. Thương và giúp Giáo Hội quê hương là việc nên làm, nhất là sau thời kỳ Giáo Hội bị cấm cách và tàn phá nặng nề. Tuy nhiên, chúng tôi biết rõ, ngay từ những ngày đầu “mở cửa”, ngoài các giám mục chỉ cần phép của chính quyền, linh mục hoặc nữ tu nào được xuất ngoại viếng thăm và xin tiền đều là những người có thế lực, quen biết lớn, ngoại giao giỏi, ăn chia cũng giỏi. Vì trước hết, họ phải có hai thứ phép của đạo và đời, sau đó còn phải đạt được sự “nhất trí” về việc chia phần trăm tiền quyên được với các cán bộ có quyền để có giấy phép xuất cảnh. Chính một linh mục quản lý của một địa phận ở miền Nam đã nói với một số chức sắc trong giáo xứ của tôi là cha phải chia 30% số tiền quyên góp cho các quan chức VN tại địa phương. Tôi không lấy làm lạ. Trong một cuộc gây qũy tại thành phố tôi ở để kiếm tiền gửi xe lăn về cho những người tàn phế tại VN, một người trong ban tổ chức đã nói thẳng với tôi về điều kiện để được gửi xe về VN: cứ 100 xe đưa về thì phải “cúng” cho chức quyền địa phương 45 xe. Ông ta tự an ủi: “Thôi, dù sao cũng còn 55 xe cho đồng bào xấu số”. Như vậy có nghiã là khi chúng ta giúp Giáo Hội hay đồng bào nghèo khổ ở quê nhà, chúng ta cũng đồng thời góp tiền cho các cán bộ cộng sản làm giầu. Những người cộng sản vẫn tiếp tục hưởng thụ trong việc khai thác thành qủa lao động của chúng ta dù chúng ta đã xa tổ quốc từ lâu. Điều này cũng có nghiã là những cha, sơ ở những vùng xa, vùng sâu, không quen biết, không thế lực, không có liên hệ với người ở ngoại quốc, phải tiếp tục chui rúc với giáo dân trong nững nơi thờ phượng và tu tập nghèo nàn. Tôi mới xem một cuốn video quay cảnh lễ mừng kỷ niệm 150 năm của một giáo xứ lớn tại địa phận Kontum. Sau một thế kỷ rưỡi, nhà thờ vẫn nhỏ xíu, mái lợp lá, vách bằng phên tre, chỉ có một bức tường duy nhất được xây sau cung thánh. Trong khi đó, tại những nơi thị tứ, các cha xứ khéo xoay sở đã đập những nhà thờ còn tốt gấp trăm nhà thờ này để xây nhà thờ mới to lớn, lộng lẫy, xây nhà xứ đầy đủ tiện nghi, khiến nhiều cha từ Mỹ về thăm nhìn thấy cũng phát thèm. Mạnh ai nấy kiếm tiền. Mạnh ai nấy tiêu tiền. Không xót thương, không chia sẻ. Các vị giám mục có khuyên nhủ, khuyến cáo các linh mục và dòng tu thuộc quyền về những xây cất xa xỉ và ích kỷ, chỉ cốt làm vinh danh người xây hơn là làm sáng danh Chúa hay không? Trước những cảnh này, làm sao có thể hô hào giáo dân hải ngoại tiếp tục hăng hái đóng góp? Làm sao có thể bắt họ duy trì sự kính trọng và ngậm miệng không lên tiếng? Chúng ta có nên chuyển sự giúp đỡ về các vùng nông thôn nghèo nàn nơi người dân làm không đủ ăn, các vùng rừng núi hẻo lánh mà đại đa số giáo dân đều là những đồng bào sắc tộc thiếu cơm thiếu áo?

Bước sang lãnh vực bảo vệ chân lý, chống những bất công, đàn áp, xúc phạm phẩm giá và quyền của con người. Dĩ nhiên không ai có thể bắt Hội Đồng Giám Mục VN phải lên tiếng. Các chức sắc trong hàng giáo phẩm cũng có thể tự biện là các vị tranh đấu bằng cách khác, không ồn ào phản đối, nhưng kín đáo đòi hỏi và “đối thoại thẳng thắn và hợp tác lành mạnh” (ĐHY Phạm Minh Mẫn trả lời ký giả Mặc Lâm trên đài Á châu Tự Do 22-4-2007). Lời lên tiếng lần chót của HĐGMVN là thư (kín) gửi nhà nước ngày 12-10-2002, trong đó các ngài đã thẳng thắn nhận định những khuyết tật của xã hội, từ cơ chế xin-cho khiến nhà nước thành chủ nhân ông, làm mất tự do và nhân phẩm của công dân, làm tha hóa con người, đến những sai lầm của chính quyền trong việc thực hiện công bằng xã hội, diệt trừ tham nhũng. Sau đó, các ngài đòi hỏi nhà cầm quyền phải phát huy phẩm giá con người, phát triển xã hội và thăng tiến con người trên nền tảng chân lý, phát huy tính phụ đới, phát huy ý thức và thiện chí phục vụ công ích, xóa bỏ những luật lệ bất công và những biện pháp trái với luân thường đạo lý trong truyền thống văn hóa của dân tộc (xem “Vai Trò Người Tín Hữu Công Giáo đối với Xã Hội và Giáo Hội”, tr 77-82. California, Diễn Đàn Giáo Dân xuất bản. 2004). Giáo dân ở trong và ngoài nước đều hoan nghênh lá thư này. Họ cũng phấn khởi và hy vọng là từ đây HĐGMVN sẽ chính thức lên tiếng khi cần thiết để nói lên tiếng lương tâm Công Giáo, để bênh vực Giáo Hội và những người bị áp bức. Buồn thay, từ đó đến nay đã gần 5 năm, HĐGMVN không lên tiếng thêm một lần nào nữa, ngoài những thư mục vụ gửi giáo dân hàng năm sau những kỳ họp thường niên của Hội Đồng, khiến nhiều người nghĩ rằng HĐGMVN chỉ lên tiếng một lần rồi thôi, hoặc Hội Đồng thấy nhà nước cộng sản VN không còn làm gì sai trái, mọi sự đều “tốt đạo đẹp đời”, nên không cần phải lên tiếng nữa (?).

Sự thật, mọi việc không tốt đẹp như vậy. Không nói tới việc xã hội càng ngày càng băng hoại, tham nhũng và bất công càng ngày càng gia tăng, nhân quyền càng ngày càng bị vi phạm nặng nề, những người tranh đấu bất bạo động cho tự do dân chủ bị bắt bớ, xử tù bất hợp pháp ngày càng nhiều, các tôn giáo bạn như Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất, Phật Giáo Hòa Hảo, các giáo hội Tin Lành bị ngược đãi thô bạo, ngay Giáo Hội Công Giáo vẫn bị chèn ép, vẫn phải tùng phục quy chế xin-cho, vẫn không được tư do trong việc quản trị Giáo Hội, không được quyền tự do xuất bản sách báo, không được trả lại đầy đủ đất đai, tài sản bị nhà nước chiếm dụng, lại còn bị cắt xén thêm như ở dòng Thiên An, thánh địa La Vang v.v... Vậy mà HĐGM vẫn yên lặng và kiên nhẫn “đối thoại thẳng thắn và hợp tác lành mạnh” với nhà cầm quyền cộng sản. Ai cũng thấy các ngài đối thoại thẳng thắn với công sản từ bao nhiêu năm nay mà có đạt được thỏa thuận to lớn nào đâu ngoài những kết qủa nhỏ giọt chỉ có giá trị rất bề ngoài. Những vấn đề lớn vẫn còn nguyên đó. Các ngài đã “hợp tác lành mạnh” với cộng sản trên những lãnh vực nào? Họ có cho các ngài làm công tác giáo dục để góp phần xây dựng những thế hệ tương lai không? Họ có cho Tòa Thánh được tự do bổ nhiệm các giám mục cho Giáo Hội VN không? Họ có cho các ngài được tự do tuyển sinh (không cần nhà nước xét lý lịch), tự do ấn định học trình, tư do truyền chức linh mục không? Đổi lại, các Ngài đã cộng tác lành mạnh với họ như thế nào? Có phải các ngài không lên tiếng bênh vực các tôn giáo bạn và những người đấu tranh cho tự do dân chủ bị đàn áp thô bạo vì các ngài không muốn làm mất lòng những người cầm quyền, vì muốn áp dụng câu “đèn nhà ai nhà ấy sáng” và trả lời thiên hạ rằng việc của tôi tôi lo chưa xong, hơi đâu mà lo việc của người khác? Có phải các ngài không nói một lời cảnh tỉnh sự ác trong vụ tượng Đức Mẹ Sầu Bi bị đập phá vì các ngài không muốn làm lớn chuyện với chính quyền, sợ họ nổi giận đòi lại những cái họ đã cho? Có phải các ngài không muốn bênh vực cha Nguyễn Văn Lý, mặc cho người anh em linh mục bị bắt bớ, tra vấn, tù đầy, xử bịt mồm vì cha Lý công khai chống chế độ cộng sản, trong khi Chúa dậy phải “thăm viếng kẻ tù rạc, an ủi kẻ âu lo”? Có phải các ngài chỉ phê phán, cấm đoán và bỏ rơi những người anh em linh mục làm chính trị chống cộng, dù không làm chính trị đảng phái và không kéo Giáo Hội vào, còn những linh mục cộng tác với cộng sản thì các ngài làm ngơ? Các ngài nghĩ sao về ba linh mục, đứng đầu là linh mục Thiện Cẩm, ra ứng cử đại biểu quốc hội kỳ này, họ có vi phạm Giáo Luật điều 265 hay không, và các ngài có nhắc nhở họ về sự vi phạm này không? Giáo dân VN ở hải ngoại thắc mắc và hiểu tình hình Giáo Hội VN như vậy đó. Các ngài thấy sai chỗ nào? Giáo dân VN ở hải ngoại không qúa dốt và không phản ứng một cách nóng giận đâu. Họ đã kiên nhẫn đến độ không thể kiên nhẫn hơn được nữa. Những phản ứng của giáo dân trong vụ Giám Mục Nguyễn Chí Linh xin tiền trước nhà thờ Saint Maria Goretti ở San Jose đã nói lên điều này.

Trong cuộc phỏng vấn nói ở trên, Đức Cha Nguyễn Văn Hòa, sau khi kể những thành tích hoạt động trong giáo phận Nha Trang của ngài, ngài tiết lộ về lối làm việc giữa HĐGMVN với nhà nước như sau: “còn đối với nhà nước thì hàng năm chúng tôi vẫn có cuộc gặp gỡ hoặc có những đề nghị với nhà nước về các vấn đề tự do tôn giáo, văn hóa, đạo đức, luân lý, giáo dục giới trẻ, vấn đề công bằng sự thật. Có khi chúng tôi là đơn vị duy nhất dám nói lên điều đó với nhà nước và chúng tôi còn tiếp tục nói những điều ấy”. Giáo dân rất mừng khi được biết HĐGM đã nêu những vấn đề này với nhà nước cộng sản VN mỗi năm một lần. Có điều hơi tiếc Đức Cha không cho biết là nếu có chuyện gì xảy ra giữa hai kỳ gặp gỡ, các ngài có nêu vấn đề với nhà nước không, hay phải chờ đến phiên họp kỳ tới mới nêu? Và nếu có nêu, tại sao không cho giáo dân và dư luận biết để mọi người cùng mừng, cùng thêm tin tưởng, cùng ủng hộ và để những nạn nhân được đôi phần an ủi vì cảm thấy không bị bỏ rơi? Giáo dân cũng rất mong chờ các ngài cho biết kết qủa của những cuộc đối thoại và nêu vấn đề với nhà nước ra sao, nhà nước đã “cho” Giáo Hội cái gì và Giáo Hội đã cam kết “đáp lại” nhà nước như thế nào? Ngoài ra, Đức Cha cũng tự hào “chúng tôi là đơn vị duy nhất dám nói lên điều đó với nhà nước”. Điều này cần phải suy nghĩ thêm. Nếu nói các ngài là đơn vị duy nhất nói trong vòng kín đáo thì đúng. Còn nếu nói chỉ có các ngài mới nêu những đề nghị với nhà nước thì e rằng phải nên xét lại. Cụ Lê Quang Liêm, lãnh tụ Phật Giáo Hòa Hảo, đã nhiều lần công khai tố cáo nhà nước đàn áp Giáo Hội của cụ và đòi hỏi tự do tôn giáo và được đối xử công bằng. Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất, không bỏ lỡ cơ hội nào mà không lên tiếng chống lại những áp bức và vi phạm dân quyền và nhân quyền. Hòa Thượng còn hơn một lần đề ra lộ trình giải thể chế độ cộng sản và xây dựng tự do dân chủ. Ấy là chưa kể các “đơn vị” khác như Tin Lành, các tổ chức tranh đấu cho tự do dân chủ đã nói và làm một cách công khai.

Xin tán đồng ý kiến của Đức Cha Hòa là “những người nào nghiên cứu mà biết được điều thật đi chăng nữa thì khi phát biểu điều thật mà mình đã biết chắc rồi cũng phải phát biểu trong tình bác ái mới có kết qủa” (Phỏng vấn đã dẫn). Chúng ta nên trao đổi ý kiến với nhau một cách ôn hòa, lễ phép. Về phía giáo dân, chúng ta không nên suy luận kiểu vơ đũa cả nắm, không phải giám mục nào cũng giống nhau, đừng để những cảm tình sôi nổi, bồng bột lôi kéo khi viết lách, tranh luận. Về phần các đấng các bậc, xin đừng coi thường giáo dân, đừng cho rằng giáo dân không biết gì. Vụ cha Lý dầu sôi lửa bỏng như thế mà lại tuyên bố “HĐGMVN đến tháng Mười 2007 mới họp mặt. Nội dung chương trình do các giám mục đề xuất. Cha Lý thuộc giáo phận Huế. Đức tổng giám mục có đề xuất vấn đề này hay không? Tôi nghĩ rằng tùy thuộc vào sự đóng góp ý của cộng đồng dân Chúa tại Huế. Vì lẽ, từ xa tôi không hiểu rõ nguyên nhân cũng như ý nghiã thâm sâu của những nghịch lý trong cuộc sống của cha. Có lẽ chỉ có Huế mới thấu hiểu” (ĐHY Phạm Minh Mẫn trả lời phỏng vấn đã dẫn). Đức Hồng Y qúa khiêm nhường. Ngài đâu có “ngây thơ” đến độ không biết gì về cha Lý. Ngài “bán cái” vụ cha Lý cho HĐGM họp vào tháng 10, cho Đức TGM Huế và giáo dân Huế. Nói như vậy là vừa tránh né vấn đề, vừa rửa tay kiểu Phi-la-tồ đấy. Muốn có sự tôn trọng trong đối thoại thì phải có sự tôn trọng lẫn nhau của cả hai bên và lấy sự thật và thành tâm làm tiêu chuẩn.

Đức Cha Nguyễn Văn Hòa đã kết luận bài phỏng vấn bằng câu: “Nếu không có hiệp nhất, nếu người này chống đối người kia, người ở ngoài chống đối người ở trong v.v... thì tất cả những thế lực chống đối giáo hội, người ta mừng lắm. Người ta chỉ mong có bấy nhiêu thôi. Vô tình mình tiếp tay cho những người làm như vậy”. Nói thẳng ra là nếu chúng ta chống đối nhau thì cộng sản sẽ hưởng lợi. Vấn đề này là một “dilemme”, một nan đề, tấn thối lưỡng nan. Nếu giáo dân không lên tiếng về thái độ và việc làm của HĐGMVN, thì chắc chắn cộng sản được hưởng lợi vì họ được rảnh tay đàn áp và không sợ ai phản đối. Nếu giáo dân VN hải ngoại (trong nước thì ai dám lên tiếng) phê bình, phản đối sự im lặng và dè dặt qúa đáng của HĐGM trước những bất công và đàn áp, cộng sản cũng được hưởng lợi vì giáo hội chia rẽ, và vì, theo Đức Cha Hòa, người ở ngoài chống người ở trong. Vậy phải làm cách nào đây? Theo thiển ý, giải pháp duy nhất là cha con, anh em trong ngoài phải hợp nhất với nhau trên lập trường và đường lối chung bảo vệ Giáo Hội. Hợp nhất không phải là ngậm miệng cúi đầu đi theo các đấng, nhưng phải có sự trao đổi chân tình về thông tin, quan điểm, sách lược hành động chung. Giáo dân hải ngoại không đòi các đấng ở trong nước phải tử vì đạo, cũng không đòi các đấng phải phát động thánh chiến để kéo giáo dân xuống đường làm bia cho súng đạn của cộng sản. Họ vẫn tôn trọng đường lối uyển chuyển và khéo léo của các đấng. Nhưng dù uyển chuyển khéo léo tới đâu cũng phải có cái dũng, phải đóng vai trò ngôn sứ, nếu không nói thiên sứ, để bênh vực công lý và lẽ phải, bênh vực người bị áp bức và bị đối xử bất công, bênh vực các tôn giáo bạn khi bị bách hại, đoàn kết với cộng đồng dân tộc trong cuộc tranh đấu chung cho nhân phẩm của con người và phúc lợi của toàn dân. Khi các vị vừa có sự khôn ngoan vừa có cái dũng, giáo dân cả trong lẫn ngoài sẽ xiết chặt hàng ngũ sau lưng các vị, các vị sẽ có sức mạnh làm cộng sản phải nể sợ, không còn dám coi thường và bắt nạt các vị nữa, đồng bào toàn quốc sẽ thán phục qúy vị, và qua qúy vị, họ sẽ nhận ra những Kitô sống động “tri hành hợp nhất” hiện diện ngay bên cạnh họ.

 

QUỐC HỘI PHƯỜNG CHÈO

Ngày 20 tháng 5 vừa qua, dân Việt lại phải đi bầu quốc hội nhiệm kỳ mới. Tại những nước có tự do, dân chủ, mỗi lần bầu quốc hội là cả nước sôi động vì những cuộc tranh cử, tranh luận gay go, vì những vận động ngầm và công khai, vì hồi hộp trông đợi kết qủa. Kết qủa có thể làm thay đổi chính phủ, thay đổi thành phần lãnh đạo và thay đổi chánh sách quốc gia. Kết qủa bầu cử thể hiện ý muốn của nhân dân. Mọi quyền hành và thế lực đều phải cúi đầu chấp nhận ý muốn này. Như vậy mới có thể nói chủ quyền thuộc về toàn dân. Bầu cử ở VN tẻ nhạt vì ứng cử viên được Mặt Trận Tổ Quốc, tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản, lựa chọn trước, vì không có tranh cử như phó chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn Yểu xác định, vì ai thắng ai thua cũng đều là đảng viên cộng sản hay chấp nhận nói và làm theo lệnh đảng cộng sản.

Qua ba lần “hiệp thương” để chọn ứng cử viên do Mặt Trận Tổ Quốc (MTTQ) chủ trì, có 876 người được phép ứng cử. Nếu phân tích thành phần các ứng cử viên, chúng ta thấy có nhiều điều khôi hài, không giống ai:

*  Lúc đầu, MTTQ quảng cáo rầm rộ là công dân được tự do ứng cử với tư cách cá nhân. Có 238 người “hồ hởi” ghi tên ứng cử. Nhưng chỉ vài ngày sau họ lại lũ lượt rút đơn và tuyên bố rút lui, không hiểu vì bị MTTQ đe dọa, yêu cầu rút, hay tự họ nhìn thấy sự thật là mọi việc đã được sắp xếp cả rồi, nếu họ có được chấp nhận ứng cử thì cũng chỉ là để làm trò hề cho vui, làm công cụ tuyên truyền cho chế độ. Vì thế, lúc đầu có tới 238 người tự ứng cử, lúc khóa sổ chỉ còn 30 người trên tổng số 876 ứng cử viên, tỷ lệ 3,4%.

* Bộ Chính Trị, cơ quan quyền lực cao nhất của đảng cộng sản, có 12 trong số 14 thành viên ra ứng cử. Các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng đều ứng cử theo “diện” này. Như vậy quốc hội sẽ được chỉ đạo bởi Bộ Chính Trị đảng cộng sản.

* Các tổ chức chính trị, xã hội (dĩ nhiên do đảng cộng sản thành lập), lực lượng võ trang nhân dân, các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương đề cử 864 ứng cử viên so với tổng số 876 được phép ứng cử. Như vậy, 98% đại biểu quốc hội là đại diện cho các tổ chức của đảng, đại diện quân đội, công an và các cơ quan nhà nước. Ai đại diện cho dân?

*Trong tổng số 876 người được chọn ra ứng cử, chỉ có 29 người ghi là có tôn giáo, trong đó đã có tới 3 ông linh mục Công Giáo. Chẳng lẽ dân VN lại vô thần nặng tới thế sao? Ngoài gần 8 triệu dân Công Giáo, còn mấy chục triệu Phật tử, chưa kể hàng triệu tín hữu Tin Lành, Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo. Quốc hội vô thần này có đại diện cho dân tộc VN hữu thần hay không?

Xét về chức năng của quốc hội cộng sản VN, ta thấy hiến pháp ghi quốc hội là quyền lực cao nhất của quốc gia, có thẩm quyền kiểm soát, chế tài chính phủ và các cơ quan nhà nước ở mọi cấp. Nhưng ông Nguyễn Minh Triết vừa là chủ tịch nước vừa là đại biểu quốc hội, ông Nguyễn Tấn Dũng là thủ tướng và cũng là dân biểu, quân đội, công an, các phủ, bộ, viện kiểm sát nhân dân, các tòa án... đều có “quota” dân biểu được phân phối, như vậy quốc hội là một sân chơi nơi các cầu thủ vừa đá banh vừa là trọng tài thổi còi. Trên thế giới, có cơ quan đại diện dân nào dị hợm như thế không? Dân oan biết kêu vào đâu vì người làm luật, người thi hành luật và người phân xử việc vi luật chỉ là một? Nguyên tắc tam quyền phân lập bị ném xọt rác. Vậy mà bắt dân nghỉ việc đi bầu làm gì cho khổ dân, chi phí 350 tỷ đồng cho cuộc bầu cử làm gì cho phí phạm tài nguyên quốc gia?

Tên đúng nhất của cái quốc hội phường chèo này phải là “Hội Đồng đại diện các cơ quan nhà nước, quân đội và công an”. Theo “lô-gíc” của cộng sản thì hội đồng này là quyền lực cao nhất đại diện nhân dân, hội đồng lại được đặt dưới sự chỉ đạo của đảng. Như vậy đảng tự coi là ông nội của nhân dân, ngồi lên đầu các đại biểu. Các đại biểu hãnh diện cái nỗi gì mà cứ vác mặt huênh hoang? Mấy anh “Việt kiều yêu nước” còn mơ mộng được “nhặt” về làm đại biểu quốc hội nữa hay thôi?

      Vua chèo còn chẳng ra gì

      Quan chèo nào có khác chi phường tuồng?

                                             (Nguyễn Khuyến)