Linh Mục, Người Là Ai?

(Tiếp theo số trước)

Phụ trách: Việt-Linh

 

Tôi về St. Louis và đến nhà thương Barnes để khám nghiệm. Chỉ trong một hay hai ngày là Đức Tổng Giám mục gọi điện thoại cho tôi và đến thăm tôi. Ngài nói: "Quỹ bảo hiểm Linh mục sẽ thanh toán phí tổn bệnh viện cho cha, vì cha không đủ khả năng trang trải đâu. Cha cũng hãy giảm bớt số khách thăm viếng để giữ gìn sức khoẻ." Sau đó chúng tôi đã có một cuộc đàm thoại tuyệt vời. Tôi hỏi ngài có thủ tục nào cho một Linh mục phục chức không. Ngài nói: "Ồ, tôi không biết. Cha là người đã tuyên bố muốn bỏ làm Linh mục. Nếu cha muốn bắt đầu lại, tôi nghĩ cha cứ bắt đầu thôi." Tôi hỏi xem tôi có thể cử hành Thánh Lễ ngay được không. Ngài bảo: "Dĩ nhiên là được; và khi nào cha sẵn sàng nhận bài sai, cứ cho tôi biết." Trong đời, tôi chưa bao giờ được đối xử tử tế hơn thế, vậy mà lần này tôi lại nhận được từ một người mà tôi thường có thành kiến là ngài điều hành giáo phận hoàn toàn sai lạc.

Bác sĩ quyết định cần phải giải phẫu lá phổi của tôi. Tôi được gửi đến nhà thương Do-Thái để khám nghiệm thêm. Ngày thứ Năm họ lấy từ phổi tôi ra chút tế bào để giảo nghiệm, và sáng thứ Sáu sẽ có kết quả. Giữa trưa ngày thứ Sáu kết quả vẫn chưa được thông báo, tôi đoán kết quả chắc là xấu lắm. Cha Bob Krawinkel đến thăm tôi. Thế rồi khoảng nửa tá bác sĩ tiến vào phòng và đến đứng chung quanh giường tôi. Tôi cảm thấy sợ hãi. Tôi xin cho cha Bob ở lại nghe báo cáo, và các bác sĩ đồng ý. Họ cho tôi biết tôi bị ung thư phổi. Thật khủng khiếp khi nghe tin ấy! Nước mắt chảy dài trên gò má cha Bob và tôi. Ngài vẫn nhớ mồn một là lúc ấy các bác sĩ cho tôi hay tôi sẽ chết sớm. Tôi sẽ báo tin cho cha mẹ tôi làm sao đây? Việc cha Bob tình nguyện làm công việc này vẫn còn ghi lại trong tôi sự kinh nể và biết ơn về tình thương mến và lòng can đảm của Ngài.

Căn bệnh được chẩn định vào ngày thứ Sáu. Hôm thứ Hai sau đó, bác sĩ Peter Weiss đến và bàn về một số lựa chọn có thể thực hiện. Ông nói: "Nếu những lựa chọn đó không thành công, thì chúng tôi có thể thử một phương án khác." Khi chúng tôi bắt đầu việc chữa trị, vị bác sĩ Do Thái tên Peter nói: "Lời cầu nguyện của cha, của gia đình, của cộng đoàn và bè bạn cha sẽ cũng quan trọng như thuốc men tôi dùng vậy. Thuốc sẽ đem lại ít hiệu quả nếu cha không cầu nguyện."

Tôi đã trải qua quá trình dược liệu pháp, và những phản ứng phụ cũng khủng khiếp không kém. Nhưng rồi dầu chậm chạp, tôi đã bắt đầu hồi phục, và bây giờ triệu chứng ung thư không còn nữa. Bác sĩ công khai gọi trường hợp của tôi là phép lạ. Một ngày kia viếng văn phòng của ông, tôi nhắc lại việc ông đã đem đến cho tôi niềm hy vọng. Ông trả lời: "Đúng, ngay cả những hy vọng lạc quan nhất của tôi là cha sẽ được chữa lành cũng còn phải kinh ngạc nữa kìa."

Khi sức khoẻ bình thường từ từ hồi phục, và các phản ứng phụ của liệu pháp giảm dần, tôi bắt đầu nghĩ về sứ vụ sắp tới. Một vài trường Công Giáo trung học tại địa phương mời tôi, song tôi không còn thích thú trở lại dạy học nữa. Tôi quyết định tìm hiểu ngành tuyên úy và nhận lời mời thường trú ở Saint Mary phụ trách về việc Huấn Luyện Mục Vụ Thường Trực. Đức Tổng Giám Mục đồng ý rằng, vì tôi đã có nhiều kinh nghiệm về bệnh tật, nên đây có thể là thời điểm thuận lợi khi tôi làm việc theo chiều hướng đó. Thế là tôi đã làm tuyên uý ở bệnh viện Saint Mary từ năm 1988.

Mấy năm sau Đức Tổng Giám Mục May bị khối u trong não. Tôi cảm thấy vinh dự khi được ngài để tôi thăm viếng ngay trong phòng riêng. Chúng tôi nói chuyện về bệnh ung thư của ngài, về những gì mà ngài phải đối phó. Tôi chia sẻ với ngài những lo sợ của chính mình lúc tôi bị ung thư phổi. Rồi ngài được đưa tới nhà hưu dưỡng nơi em John ở. Ngài hầu như bị hôn mê; các cử động gần như không còn. Nhưng tôi còn nhớ kỷ niệm cuối cùng về Ngài khi tôi đưa em John vào phòng vị giám mục và nói cho ngài biết chú là em tôi, tay phải ngài không thể cử động được, song ngài cố gắng gượng giơ tay trái lên và chúc lành cho John.

Đời sống độc thân rõ ràng có những lúc là vấn đề đối với tôi. Tôi chỉ có thể nói cho chính bản thân mình, song tôi nghĩ có một điều gì đó

trong tôi không đủ khả năng gắn bó với riêng một người nào, và cách lành mạnh nhất là sống với nhiều bạn bè tốt. Tôi sẽ sống khá hơn, hạnh phúc hơn, bớt hành động theo bản năng, bớt bị lôi kéo, khi tôi không có mối liên hệ riêng quá thân mật nào. Khi kiểm điểm lại, tôi nhận ra không có một giao tiếp thân mật tôi dành cho riêng ai mà thành công hết. Tôi cho rằng tôi không còn muốn trao trái tim và tâm hồn tôi cho một người nào nữa. Khi nói chuyện với cô em gái và em rể tôi về người phụ nữ ở Washington, tôi cho biết cô ta không muốn dọn về đây và tôi cũng chẳng còn muốn di chuyển đến đó. Cả hai chúng tôi đều đặt ra một số điều kiện tiên quyết về mối quan hệ của mình. Em rể tôi nói rằng những mối quan hệ bền chặt không thể có những điều kiện trước hết như thế, và một cuộc hôn nhân như vậy thì không tốt cho tôi. Em tôi nói đúng. Tôi không thấy có gì chứng tỏ mình thích hợp với đời sống hôn nhân cả. Như vậy những liên hệ của tôi với phụ nữ có khuynh hướng dẫn vào con đường không lành mạnh, vào một ngõ cụt thôi. Đời sống độc thân là lựa chọn đúng đối với tôi. Như người nghiện rượu nói anh ta không thể uống nữa, tôi phải khiêm tốn thú nhận rằng tôi không thể để mình rơi vào hoàn cảnh mà một người phụ nữ nào đó lại trở thành trung tâm của đời tôi. Nó sẽ luôn luôn kết thúc cùng một cách, đó là tôi phải xa rời mối quan hệ và làm tổn thương đến người phụ nữ ấy. Những lần tham vấn tâm lý đã giúp tôi hiểu đời sống độc thân như vậy.

Tôi thích đoạn Kinh Thánh nói rằng có những quà tặng khác nhau cho những người khác nhau. Tôi chưa bao giờ làm Cha Sở và không ham muốn làm Cha Sở chút nào. Tôi đã từng thích thú với công việc ở trường trung học mặc dầu lúc đầu tôi còn ngỡ ngàng. Tôi thích làm tuyên uý bệnh viện, thích viết lách, thích thú dạy các lớp Kinh Thánh. Tôi biết ơn vì có dịp làm được nhiều việc khác nhau như thế. Tôi cũng thích có cơ hội để sống trầm lặng. Một điều nữa cũng tốt cho tôi, đó là mấy năm gần đây tôi được đi nghỉ hè luân phiên ở Ái Nhĩ Lan, Nga và Pháp.

Tôi đã kinh nghiệm khá nhiều về những thảm cảnh. Năm nọ khi tôi đang dạy học ở Dubourg, có một giáo sư và 7 học sinh chết vì tai nạn xe hơi, một người bị giết và một vì ung thư. Vì một lý do nào đấy, tôi được chọn để báo tin vụ thứ nhất. Thế rồi thành tiền lệ, và tôi phải tiếp tục thông báo như thế suốt cả năm. Ngoài ra, vì làm việc ở nhà thương tôi có kinh nghiệm về nhiều cái chết.

Tôi yêu mến Công Đồng Vatican II, song tôi nghĩ từ đó chúng ta mất đi ít nhiều. Tất cả thần học về sự sống lại, mồ trống, thần học hoa mỹ là đẹp, nhưng tôi nghĩ rằng những lễ an táng cũng gồm có việc thương tiếc và buồn thảm. Bởi vậy sự chuyên biệt của tôi trong lãnh vực sinh tử là khả năng để tôi tỏ bày lòng thương cảm, cùng chịu đau khổ với họ. Có một điều lạ là khi được hiện diện với một người trong giờ chết thì không thấy rùng mình bằng khi nghe tin báo tử qua điện thoại. Có ai gọi và nói: "Người đó người đó đã chết" thì gây chấn động trong tôi mạnh hơn là khi tôi ở trong phòng với họ và chứng kiến họ ra đi. Kinh nghiệm cho tôi thấy họ chưa thực sự ra đi. Trái tim họ ngưng đập, phổi họ ngưng thở, nhưng tinh thần của người đang sống ấy vẫn còn đó.

Khi tôi chịu chức, tôi đã nghĩ đời Linh mục thật dễ dàng. Song tôi ngạc nhiên là khi phải quyết định mới thấy khó biết bao. Chúng ta cần phải công nhận rằng cuộc sống đương nhiên là khó. Chặng đường nào cũng có thánh giá. Tôi xác tín là chúng ta hạnh phúc nhất khi chúng ta trung thành vác thánh giá. Nhưng thánh giá đương nhiên là có gây đau khổ. Bởi thế sự khó khăn khi phải quyết định, và những gặp gỡ đụng chạm đúng là thánh giá cả.

Với tất cả những lúc gặp khó khăn, cũng có những giờ phút tràn ngập niềm vui trong đời Linh mục. Hiện giờ, niềm vui lớn nhất của tôi là vẫn còn được sống. Dịp kỷ niệm 25 năm Linh mục, tôi dâng một trong những thánh lễ Chúa Nhật thường lệ ở giáo xứ. Tôi mời một vài gia đình tới dự, họ là những người đã nuôi dưỡng tôi lớn lên qua một cách thế đặc thù nào đấy. Nhưng bữa tiệc thật sự được tổ chức đêm hôm ấy ở sân chơi đá cầu. Bốn trăm người đến chúc mừng tôi và xem các vị Hồng Y chơi banh. Niềm vui thật thanh khiết. Tên tôi được ghi trên bảng điểm.

Tôi tin rằng tôi đã tạo được những ảnh hưởng tốt trong cuộc sống nhiều người. Vì quan niệm hoàn hảo của tôi, tôi không nghĩ rằng tôi đã gây được ảnh hưởng nhiều như đáng lẽ tôi phải làm. Song tôi thấy có vài học sinh của tôi đã quyết định dời bỏ McDonnel Douglas chỉ vì người ta chế tạo vũ khí. Chúng đã học được một điều gì đó trong lớp dạy về công bình của tôi. Tại giáo xứ Thánh Cronan, cha sở cũ, cha sở hiện nay và tôi đang tạo cho những người Công giáo không hợp thức một chỗ đứng. Chúng ta là người Công giáo Rôma, chúng ta trung thành với giáo huấn của Giáo hội. Còn những nhà hoạt động chính trị, tranh đấu cho nữ quyền, đồng phái luyến ái cũng phải tìm được mái ấm cho niềm tin riêng của họ và vẫn liên kết với Giáo Hội hoàn vũ và với Rôma. Đây là những người đã có thể rời bỏ Giáo hội từ lâu rồi, nếu chúng ta không gặp được họ tại giáo xứ Thánh Cronan.

Hiện giờ có một bạn trẻ trong giáo xứ tỏ ra muốn làm một Linh mục tuyệt vời. Tôi nói chuyện với gia đình của anh về chuyện đó. Gia đình anh tỏ ra thận trọng vì các thời điểm, song tôi vẫn tiếp tục thảo luận với Sam về ơn gọi. Nếu một bạn trẻ có ơn gọi nội tâm mà gặp được sự trìu mến, sự cảm thông, sự quan tâm và lòng chân thực, thì anh ta sẽ vào chủng viện.

Tôi có thể nói được rằng thật bất ngờ khi khám phá ra đời Linh mục tuyệt diệu biết bao. Tôi được Thiên Chúa hướng dẫn qua những mối liên hệ khó khăn, qua bệnh hoạn để đạt tới một sự tự do thật ngọt ngào. Có thể kết luận rằng những lo lắng về sứ vụ của tôi đều đã chết trên giường trong bệnh viện. °