Giáo Hội Và Chính Trị

Nguyễn Chính Kết

Hiện nay, trong Giáo Hội Công giáo Việt Nam, trong nước cũng như hải ngoại, có một luồng tư tưởng rất phổ biến, đặc biệt ăn sâu trong giới giáo sĩ, đó là Giáo Hội không làm chính trị. Nhiều người thắc mắc về vấn đề này và nhiều khi cảm thấy bối rối hoang mang, vì:

– một đằng lương tâm và tình yêu Kitô giáo thúc đẩy họ phải làm một cái gì khi thấy đồng bào của mình bị áp bức, khi Giáo Hội bị hạn chế tự do tôn giáo. Mà dấn thân làm theo đòi hỏi của tình yêu và lương tâm trong trường hợp này thì thế nào cũng ít nhiều có liên quan đến chính trị.

– một đằng họ nghe phong thanh rằng người công giáo – nhất là giới giáo sĩ – không được làm chính trị. Nếu như vậy, thì dấn thân vào lãnh vực chính trị là lỗi luật Giáo Hội.

Thế là lương tâm của họ bị xung đột giữa một đằng là đòi hỏi của tình yêu, một đằng là luật của Giáo Hội.

Tôi nghĩ cần phải làm sáng tỏ vấn đề này để xóa tan những bối rối hay hoang mang trong lòng nhiều người. Riêng tôi, để giải quyết vấn đề này, tôi dựa trên hai nguyên tắc căn bản sau đây:

– luật của lương tâm hay đức ái là luật tối thượng: giả như có sự xung đột giữa luật Giáo Hội – hay bất cứ thứ luật nào khác của con người: luật nhà nước, luật tổ chức… – thì người Kitô hữu buộc phải ưu tiên làm theo luật của lương tâm hay của đức ái.

– luật của Giáo Hội về vấn đề chính trị: Giáo Hội phân biệt hai trường hợp: làm chính trị theo lương tâm đòi buộc và làm chính trị đảng phái. Theo luật Giáo Hội, giáo sĩ không được phép làm chính trị đảng phái, còn giáo dân thì được tự do; còn những gì mà lương tâm hay đức ái đòi hỏi, dù có liên quan ít nhiều đến vấn đề chính trị, thì dù là giáo sĩ hay giáo dân cũng đều nên làm và nhiều khi buộc phải làm.

Tôi xin khai triển hai nguyên tắc căn bản trên.

Luật của lương tâm là luật tối thượng

Trong Tin Mừng Luca, có hai đoạn như sau:

1. «Ông trưởng hội đường (là một người Pharisêu) tức tối vì Đức Giêsu đã chữa bệnh vào ngày sabát. Ông lên tiếng nói với đám đông rằng: “Đã có sáu ngày để làm việc, thì đến mà xin chữa bệnh những ngày đó, đừng có đến vào ngày sabát!” Chúa đáp: “Những kẻ đạo đức giả kia ! Thế ngày sabát, ai trong các người lại không cởi dây, dắt bò lừa rời máng cỏ đi uống nước? Còn bà này, là con cháu ông Ápraham, bị Xatan trói buộc đã mười tám năm nay, thì chẳng lẽ lại không được cởi xiềng xích đó trong ngày sabát sao?”» (Lc 13,14-16)

2. «Một ngày sabát kia, Đức Giêsu đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pharisêu để dùng bữa: họ cố dò xét Người. Và kìa trước mặt Đức Giêsu, có một người mắc bệnh phù thũng. Người lên tiếng nói với các nhà thông luật và những người Pharisêu: "Có được phép chữa bệnh ngày sabát hay không ?" Nhưng họ làm thinh. Người đỡ lấy bệnh nhân, chữa khỏi và cho về. Rồi Người nói với họ: "Ai trong các ông có đứa con trai hoặc có con bò sa xuống giếng, lại không kéo nó lên ngay, dù là ngày sabát?" Và họ không thể đáp lại những lời đó» (Lc 14,1-6).

Trong hai đoạn này, ta thấy có hai khuynh hướng: khuynh hướng vị luật của những người Pharisêu và khuynh hướng vị tha hay vì tình yêu của Đức Giêsu.

Theo quan điểm của ông trưởng hội đường thì luật giữ ngày sabát là luật Môsê, cũng là luật của Thiên Chúa. Vì thế, người công chính phải tuân giữ lề luật, càng công chính thì càng phải giữ luật một cách chi tiết. Quan điểm của ông quả là hết sức hợp lý vì nó hoàn toàn được xây dựng trên những đoạn Kinh Thánh khuyên người ta phải giữ luật. Vì thế, đối với ông, việc giữ luật tôn giáo là vô cùng quan trọng. Do đó, nếu có sự xung đột giữa một bên là giữ luật Chúa, một bên là đòi hỏi của lương tâm và đức ái, thì phải ưu tiên cho việc giữ luật.

Vì thế, ông đề nghị với dân chúng: «Đã có sáu ngày để làm việc, thì đến mà xin chữa bệnh những ngày đó, đừng có đến vào ngày sabát!» Ngày Sabát là ngày của Chúa, luật Môsê đòi buộc phải nghỉ ngơi vào ngày đó. Vô số đoạn trong Cựu ước xác định luật này (x. Xh 16,23; 20,11; 31,15-16; Lv 16,31; 23,23.32; 26,2; Đnl 5,14). Vi phạm luật nghỉ ngày sabát là một tội rất nặng, phải bị kết án tử hình (Xh 31:14-15; 35,2). Ông và những người Pharisêu đòi hỏi như thế thật hết sức hữu lý.

Nhưng quan điểm của Đức Giêsu thì khác hẳn. Đành rằng luật Môsê là luật của Thiên Chúa, nhưng khi có xung đột giữa luật của Thiên Chúa với những đòi hỏi của lương tâm và đức ái, thì phải ưu tiên giữ luật của lương tâm hay của đức ái. Nếu ngày sabát mà lương tâm hay đức ái đòi buộc phải làm việc, phải chữa bệnh, thì phải chấp nhận lỗi luật sabát thì mới đúng với ý Thiên Chúa. Đức Giêsu đưa ra trường hợp rất cụ thể: «Còn bà này, là con cháu ông Ápraham, bị Xatan trói buộc đã mười tám năm nay, thì chẳng lẽ lại không được cởi xiềng xích đó trong ngày sabát sao?»

(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 30 tháng 5/2004 trang 11)

Trở lại Trang Nhà: