Cảm nghĩ nhân ngày 30-4-2004

SAU NĂM 1975, PHẢI CHĂNG

ĐẤT NƯỚC AN BÌNH ỔN ĐỊNH?

Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải
và Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi

Ngày 30-4-1975, tiếng súng đã ngừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Ai ai cũng mong đất nước từ nay được sống trong an bình ổn định, để mọi người cùng nhau hàn gắn những đổ vỡ vật chất và tinh thần, xây dựng lại quê hương giàu đẹp. Nhưng cho đến hôm nay, gần 30 năm sau, lòng mong ước ấy phải chăng đã được toại nguyện? Thưa không! Cuộc sống của mọi con dân đất Việt vẫn phải chịu cảnh xáo trộn miên trường!

1. Trước hết là cuộc sống bên kia thế giới của những người đã khuất, khuất tự bao đời hay trong những thập niên chinh chiến.

Đầu tiên là các vua chúa triều Nguyễn. Do một quan niệm lịch sử duy vật võ đoán, nếu không muốn nói là ngu xuẩn, một não trạng đấu tranh giai cấp lỗi thời, nếu không muốn nói là phi nhân của CSVN, toàn bộ nhà Nguyễn, trong đó không ít vị yêu nước, có công, bị dựng dậy khỏi mồ để nghe những lời thóa mạ: nào là “chế độ phong kiến thối nát”, “sào huyệt của mọi sự xấu xa lạc hậu”, nào là “những kẻ cõng rắn cắn nhà gà, rước voi về dày mả tổ, đã dựng lên cái kinh đô của một triều đại xấu xa, khiến Thăng long văn hiến bị lụi tàn...” (chữ của nhà sử học cộng sản Dương Trung Quốc). Từ đó, di sản vô giá nhà Nguyễn để lại, đặc biệt trên đất Huế, đã bị bỏ mặc cho hoang phế. Nếu không nhờ sự phản đối của nhân dân, của các nhà sử học chân chính, không nhờ sự nhắc nhở và công nhận của Tổ chức Văn hóa Liên Hiệp Quốc cách đây hơn 10 năm, thì có lẽ vong linh của các vua triều Nguyễn vẫn mãi bất an dưới suối vàng khi tiếp tục nhìn thấy thanh danh, công trạng và di sản của mình bị khinh rẻ, vùi dập.

Nhưng rồi, Hiệp định về biên giới Việt-Trung cuối năm 1999 và Hiệp định về lãnh hải Việt-Trung cuối năm 2000 đã khiến toàn thể vong linh dân Việt, đặc biệt các vị anh hùng đã xả thân dựng nước và cứu nước suốt mấy ngàn năm, phải từ cõi âm thét lên tiếng thét phẫn nộ trước hành vi của lũ tặc tử phản quốc đã dám đem gần 1000km2 lãnh thổ và hơn 10.000km2 lãnh hải thấm đẫm bao xương máu Lạc Hồng dâng cho kẻ thù truyền kiếp xâm lược, chỉ để cầu mong Bắc triều bảo vệ cái ghế quyền lực, bất chấp hiểm họa an ninh và kinh tế cho tổ quốc đồng bào.

Chưa hết, quên đi đạo lý ngàn đời của dân tộc và nhân loại, “nghĩa tử là nghĩa tận”, CS đã nhẫn tâm khai quật mồ mả của bao binh lính viên chức chế độ Việt Nam Cộng hòa được chôn cất trong vô số nghĩa trang quân đội lớn nhỏ ở miền Nam, những người dù sao cũng là đồng bào ruột thịt, đã chết cho tự do độc lập, đã đem xương máu bồi đắp non sông. Ngôi mộ tập thể của các nạn nhân Mậu Thân tại Huế và vài nơi khác cũng bị san bằng, khiến nửa vạn oan hồn -phần lớn là tu sĩ, viên chức, học sinh- bị chôn sống cách tàn bạo đã chẳng được giải oan mà lại thêm một phen tức tưởi. Đó là chưa kể bao nhiêu người hiện nay vừa nằm xuống đã phải chứng kiến thân nhân bị bóc lột bởi bọn cò nhà xác và dịch vụ mai táng đòi giá cắt cổ, bởi lũ bất lương chuyên bán đất nghĩa trang, giành độc quyền xây mồ mả với chi phí trên trời, một tệ nạn đang ngang nhiên hoành hành dai dẳng nhiều nơi trên đất nước -đặc biệt ở thành thị- khiến người sống điêu đứng, kẻ chết bất an.

2. Thứ đến là cuộc sống hiện tại của từng cá nhân cũng như của các tập thể lớn nhỏ: tôn giáo, làng họ, gia đình dân Việt.

a- Vừa chiếm trọn đất nước, CSVN đã lập tức gây xáo trộn cho đời sống các tôn giáo bằng cách thành lập các giáo hội quốc doanh, hay nếu không được thì gầy dựng các ủy ban quốc doanh trong các Giáo hội, nhằm làm cho mọi thành phần trong tôn giáo chia rẽ chống đối nhau, làm cho sinh hoạt tôn giáo chỉ còn vỏ bên ngoài hơn là thực chất, làm cho giáo lý tôn giáo bị biến dạng để trở thành mớ học thuyết tán trợ chủ nghĩa xã hội, làm cho chức sắc tôn giáo đánh mất vai trò thầy dạy lương tâm, phát ngôn sự thật, để trở thành một thứ cán bộ của Nhà nước vô thần. Từ đó nhiều cộng đoàn phải sống trong cảnh giác nghi ngờ vì CS đã gài mật báo viên vào giữa; nhiều chức sắc vì muốn an thân nên đành im lặng hoặc thỏa hiệp; các giáo hữu đơn sơ mất phương hướng hành đạo; các sinh viên học sinh có đạo thấy niềm tin của mình bị thóa mạ tại nhà trường, trong sách giáo khoa. Đại lễ tôn giáo như Giáng Sinh bị biến thành ngày thi cử với dụng ý gây chia trí, phá tinh thần của tín đồ. Nhiều thánh điện, chốn hành hương với lễ hội ý nghĩa trang nghiêm bị đem ra kinh tài, đôi khi do chính nhà nước. Nhiều cộng đoàn tu trì thậm chí ở chốn thâm sơn cùng cốc cũng chẳng được yên, vì đất đai tài sản của tu viện bị chiếm làm chỗ vui chơi giải trí, bầu khí thanh khiết tĩnh lặng bị xáo trộn bởi những sinh hoạt hết sức trần tục. Nhiều hoạt động tôn giáo thậm chí tại tư gia -do bị cấm xây nhà thờ- với ít người tham dự cũng bị giải tán, hành hung, nghiêm xử. Nhiều cơ sở giáo dục của các giáo hội, dù chỉ ngang mẫu giáo, vẫn bị thường xuyên kiểm tra, hạch hỏi, giới hạn. Nhiều tu sĩ bị vào tù rồi cũng chẳng được yên, vì CS còn đem ra tẩy não, chạy ra nước ngoài tỵ nạn vẫn bị công an chùng lén bắt về.

Nói chung, chẳng mấy cộng đoàn tôn giáo được an ổn vì chính quyền, mặt trận, công an địa phương luôn lạm dụng sổ hộ khẩu, bằng chủ quyền nhà đất, visa xuất cảnh và đủ thứ giấy phép để áp bức lương tâm, cản trở hành động, kiểm soát tự do, lục lọi nhà cửa và bòn rút tiền bạc của tôn giáo. Trên phương diện pháp luật thì các Nghị định và Pháp lệnh tôn giáo như thanh gươm lơ lửng trên đầu, thòng lọng siết chặt vào cổ của các Giáo hội.

(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 30 tháng 5/2004 trang 68)

Trở lại Trang Nhà: