Tâm Sự Cuối Năm... Trên Vài Trang Sách Cũ
Bs. Nguyễn Đức Liên
Mùa Tạ Ơn 2003, người cháu du học từ Italie trên đường về ghé thăm ông, hỏi thêm ông về Bố con lúc sinh thời trong quân đội. Cháu, kêu tôi bằng ông, con trai một sĩ quan Thủ đức kêu tôi là chú. Người sĩ quan tử trận năm 1971 tại chiến trường Quân-khu III. Cháu lớn khôn, nên người trí thức, tự phấn đấu lập thân lãnh đạo Dân Chúa ngay giữa lòng chế độ vô thần. Thụ phong linh mục tại Italie, ĐQĐ được Dòng Thợ (Ý) cấp học bổng, thêm 4 năm. Học xong, trở về dậy các tu-sinh Dòng Thợ, bên Nhà.
Hai mái đầu ngồi tâm sự trong đêm khuya; hết truyện nhà, bàn qua truyện đời.
Đầu Xanh xót xa nỗi bất hạnh của một Dân-tộc nhẫn nhục cần cù, 3 thế-hệ máu xương, chưa nhìn thấy chút hy vọng ngẩng mặt. Chế-độ cai trị tự xưng độc lập nhưng cũng tự khoanh rừng cắt biển hiến cho Trung cộng, cúi đầu tôi đòi cho cái nước đàn anh ‘‘mèo trắng hay mèo đen, miễn là mèo bắt cho nhiều chuột’’
Đầu Bạc đọc tên tựa-đề cuốn sách cũ, thời Bố cháu sinh tiền, ‘’có dịp, hãy tìm lấy cuốn sách mà đọc’’.
Chủ đề của Sách nêu lên một đường lối canh tân đất nước. Không có nước nào canh-tân kỹ-thuật-hóa lên văn-minh, hùng cường mà không trải qua con đường Tây-phương-hóa do chính mình lựa chọn, Tây-phương-hóa trong kỷ luật, và hết mình. Tôi âm thầm tâm sự với đứa cháu: Ông cũng như Bố cháu, tối ngày hành quân, chưa hề nghe tới tên Cuốn Sách.
Một cách rất tình cờ được đọc mà tác giả đã viết từ bốn thập niên trước để hãnh diện khám phá ra một điều là từ những năm cuối 50’s-đầu 60’s, người dân Việt Nam Cộng Hòa no ấm hơn các nước lân bang. Kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, văn học, thể thao...mặt nào cũng xếp hàng đầu toàn vùng Đông Nam Á (ĐNA). Nam Việt Nam chỉ đứng sau một nước, Taiwan, về kinh-tế và binh-bị. Kỳ dư Đại Hàn, Mã lai, Nam dương, Phi, Thái đứng sau Việt nam Cộng hòa, mọi địa hạt. Cộng-hòa Singapore, lúc đó, chưa thành lập.
Xưa thì vậy. Ngày nay, các nước ĐNÁ đã lột xác thành rồng. Riêng quê hương Ta, dù đã bao gồm tám chục triệu dân, Bắc xuống Nam đều đói rét, thân phận những con trùng cắm đầu dưới đống rác kẻ thù thải ra. Trong đêm đen của Mùa Tạ Ơn năm 2003, ông cháu tôi đã âm thầm chia sẻ với nhau
Nhan sách “Chính Đề Việt Nam”
Bìa Sách, tác-giả ghi: ‘’Kính Tặng Các Chiến Sĩ Vô Danh của Cộng đồng Quốc gia’’.
Trang đầu, khẩu hiệu của Đức Phú Tô Phong, văn-hào Nhật bổn, ‘’Một Dân Tộc hùng cường là một Dân Tộc giầu chiến sĩ vô danh’’
Sách cũ, nhưng không cũ kiểu Tây Sương Ký hay Đông Châu Liệt Quốc. Cũ nhưng không đem các giá-trị truyền thống đè lên người đời sau mà dậy khôn, kiểu cổ-học tinh-hoa. Kể về tuổi đời, người viết nếu còn sống hẳn phải xấp xỉ 80. Trong cái cảm giác chủ quan chưa kiểm chứng thì tác-giả cuốn sách có thể đã qua đời từ mấy chục năm trước. Sách dầy 500 trang. Văn-phong khuôn thước, đắt giá từng chữ từng lời. Kiến văn bác-cổ và thư-tịch từ trang đầu tới những hàng chữ cuối. Tất nhiên cách hành văn cũ hơn so với quý ông Mai Thảo, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền nhưng không đi lối chân phương của các cụ Nhất Linh, Nhượng Tống.
Tác-giả ký tên Tùng Phong. Đồng Nai xuất bản năm 1965 tại Sài Gòn. Cụ Tùng Phong hẳn đã viết vào những năm 1950’s để cho sách chào đời năm thứ nhì của Đệ Nhị Cộng Hòa. Vì thân-phận hậu-sinh lại vùi-dập triền miên binh-lửa kể từ khi rời đống sách nhà trường, tôi chưa hề nghe tới tên, cũng chưa có dịp đọc lấy một bài, một quyển sách dưới tên tác-giả cho tới khi một thân hữu cho mượn đọc, trong tình cờ.
Sách cho nhiều con số tôi đi tìm từ lâu, nay mới đọc được qua tác-giả Tùng Phong. Trang 323 sách viết: Mức lợi tức ước lượng trung bình cho mỗi người (dân Việt-nam Cộng-hoà, 1960) lối 60 Mỹ-kim một năm, lối 5,000 bạc Việt-nam. Để có thể so sánh chúng ta nên biết rằng lợi tức trung-bình hằng năm của mỗi người dân Ấn-độ là 57 Mỹ-kim, Trung-hoa là 27 Mỹ-kim, Nhựt-bổn là 100 MK... Chúng ta lại biết rằng những quốc-gia có mức lợi trung bình cho mỗi người dân dưới 100 Mỹ kim kể là những quốc-gia chưa có mở mang. Từ 100-300 được kể vào hạng kém mở mang. 500-800 Mỹ-kim kể là đã mở mang. Và trên 800 thì kể là mở mang đến cao-độ. Những con số cụ Tùng Phong nêu lên trên đây khá chính xác.
Sách trưng dẫn khá nhiều số liệu, nhưng tác giả ít khi cho chúng giá trị thống kê. Họa hoằn, một vài con số được trưng ra làm thí dụ, cho luận lý thêm sáng sủa hùng hồn. Ý tưởng và luận chứng của người viết ‘’Chính Đề Việt Nam’’ chính xác, chắc nịch từ trang đầu cho tới phần kết. Thử đọc trang 319 (tái bản năm 1988 tại California, nxb Hùng Vương):... trong gần 100 năm chúng ta đã sống trong chế độ thống-trị của Đế quốc. Đế quốc thống-trị chúng ta chớ không lãnh đạo Dân-tộc chúng ta. Thực-dân khai thác Dân Tộc bị trị, và không cần biết phải dẫn dắt Dân tộc bị trị đi đường nào và tới mục-đích gì. Vì thế cho nên cuộc Tây-phương-hóa của chúng ta trong thời kỳ Pháp thuộc hoàn toàn không mục đích và không đường hướng. Chủ định đã như vậy, thì nhà cầm quyền Pháp cần gì đến tổ-chức quần chúng. Ngược lại, họ cần phải cấm đoán mọi hình thức tổ-chức quần chúng để giữ cho nhân-dân sống rời rạc và không đoàn-tụ được
Đọc tiếp trang 320:... Những người quen thuộc với nề nếp cai-trị của Pháp, không quan niệm được rằng sự lãnh-đạo của một quốc gia không phải là chỉ giữ cho được cuộc trị-an. Và (những người lãnh đạo dưới thời Pháp cai trị cũng không quan niệm được rằng) bộ-máy lãnh đạo Quốc gia cần phải giải quyết những vấn đề của Dân-tộc mà người Pháp không cần biết đến. Chính vì không nhận định được sự kiện này, mà tất cả các chính-phủ Việt-Nam, do đế-quốc Pháp thành-lập, hoặc do đế-quốc Pháp chi phối, đều thất bại... Nhân-dân sẽ theo những người nào giải quyết được các vấn-đề của Dân-tộc.
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 29 tháng 4/2004 trang 62)