KHI NGƯỜI Y SĨ ĐỐI DIỆN TRƯỚC

Vấn Đề LƯƠNG TÂM VÀ BỔN PHẬN
 

Nữ bác sĩ Yin Wong

(Tác giả yêu cầu thay đổi tên vì sợ gia đình bà bị hại)

 

Thật là bận rộn ở một bệnh viện miền nam Trung Quốc vào sáng sớm ngày 24 tháng 12 năm 1989. Với tư cách là một chuyên viên về phụ sản 24 tuổi, tôi phải thực hiện hai ca mổ tử cung mà ngành y gọi là thủ thuật Xê-gia và một ca sinh khó. Bà bác sĩ trưởng khoa giao cho tôi trực luôn đêm hôm đó: một trách nhiệm vừa mới, vừa sợ đối với tôi. Tôi đã kiệt sức, đã không ăn chút gì trong khoảng 8 giờ qua. Tuy vậy, cuối cùng thì tôi cũng về đến phòng nghỉ vào lúc 1 giờ sáng, nhưng không ăn uống hay thiếp ngủ đi được vì hồi hộp quá.

Thực vậy, tôi nằm trên giường, nghĩ đến 3 cuộc sống mới mà tôi vừa đón chào vào thế giới. Tôi nghĩ đến cha tôi. Ông đã chọn nghề bác sĩ, một nghề mà ở Trung Quốc, tiền lương chưa tới gấp đôi lương của người quét đường. Ông vẫn thường nói: “Công việc cao quý nhất mà một người có thể làm là bảo vệ sự sống.”

 

Cha tôi là một gương mặt đáng yêu trong thị trấn. Ông nổi tiếng về sự khiêm tốn. Ông mặc quần áo của người lao động, mang dụng cụ trong một cái túi màu tím nhỏ rẻ tiền hư dây khoá kéo. Cái búa cán gỗ thử phản xạ của ông là một cái búa đời cũ. Không muốn vứt nó đi, ông nói với tôi: “Dụng cụ không tạo nên một bác sĩ,; sự hiểu biết và lòng trắc ẩn mới làm nên một thầy thuốc.”

 

Nghĩ ngợi lan man rồi thì tôi cũng lơ mơ chìm vào giấc ngủ. Tôi nhớ đêm nay là đêm Giáng Sinh. Như hàng triệu người Hoa, cha mẹ tôi theo Ki-tô giáo. Tôi nghĩ đến những lần chúng tôi cùng nhau mừng lễ: trang trí một cây thông be bé, hát “Silent Night” – phải thật yên tĩnh, vì hàng xóm có thể trình báo chúng tôi – và nghe cha tôi thì thầm câu chuyện Chúa Hài Nhi. Tôi sẽ điện thoại cho ông vào sáng sớm Sinh Nhật Chúa. Tôi nghĩ thế khi đi vào giấc ngủ.

 

Tiếng gõ cửa làm tôi thức giấc, một nữ hộ sinh thường làm việc trong những ca sinh nở hàng ngày gọi tôi: “Đến mau, chúng tôi cần cô giúp đỡ!” Tôi chạy ào theo chị ta, tai nghe tiếng khóc của một hài nhi mới sinh. Đến phòng đẻ, tôi thấy một người đàn bà lê lết trên giường, đang cố gắng ngồi dậy. “Xin đừng! Xin đừng!”, bà ta cất tiếng thảm thiết la lên bằng một giọng miền quê.

 

Chị nữ hộ sinh là một cô gái đôi mươi, tóc thắt đuôi ngựa, mặt đầy mụn trứng cá, bắt đầu hút i-ốt từ một chai thủy tinh trong suốt. Chất lỏng vàng nâu chảy theo một cây kim dài hơn 7,5 cm vào cái ống chích lớn. Chị nói với tôi rằng đứa bé đẻ non của người đàn bà kia là đứa bé không được mong đợi. Người mẹ đã mang thai được 8 tháng. Bà ta đã có một con rồi – luật kiểm soát dân số của Trung Quốc cấm không được sinh đứa thứ hai. Văn phòng Kế Hoạch Hóa Gia Đình địa phương sẽ bắt ép người mẹ vào bệnh viện, tại đây bà sẽ được tiêm Rivanol, một loại thuốc làm sẩy thai – Chị hộ sinh nói: “Nhưng đứa bé mới sinh còn sống”. Tiếng khóc của trẻ sơ sinh từ phòng tắm lạnh lẽo vang cả gian sảnh rộng. Chị hộ sinh nói tiếp: “Em đã xin lệnh chôn nó”. Ngọn đồi nhỏ gần bệnh viện là bãi tha ma vô danh phục vụ cho công việc này. “Nhưng ông ta nói trời đang mưa to quá”.

 

Lúc này mọi sự đối với tôi thật rõ ràng. Như một bác sĩ sản khoa được giao trách nhiệm, tôi có bổn phận không được để cho đứa bé đẻ non sống sót. Điều đó có nghĩa là 20 ml i-ốt hoặc cồn sẽ được tiêm vào đỉnh sọ mềm của hài nhi. Cái chết sẽ đến sau vài phút.

 

Chị hộ sinh trao cho tôi cái ống chích. Tôi chết điếng. Tôi không ngập ngừng lưỡng lự đối với việc phá thai ba tháng đầu, nhưng trường hợp này thì khác. Từ khi làm việc ở bệnh viện, tôi luôn luôn xoay sở để các bác sĩ kinh nghiệm hơn thi hành công việc đó.

 

Trên chiếc giường bên cạnh, mẹ đứa bé nhìn tôi với ánh mắt van lơn. Bà biết cái kim tiêm có nghĩa là gì. Mọi phụ nữ đều biết. Bà ta khóc thản thiết: “Xin thương xót con tôi Đừng giết nó! Tội nghiệp con tôi!!”

 

Bỏ lại người mẹ vẫn còn đang nài nỉ, tôi đi ngang qua gian sảnh rộng đến phòng tắm. Qua hơi thở, tôi cảm thấy trời thật lạnh. Trong góc phòng tắm là một thùng rác, trên nắp nguệch ngoạc hàng chữ XÁC THAI NHI. Cạnh đó, tôi thấy một chiếc túi đựng rác bằng nhựa đen đang cựa quậy và tiếng khóc phát ra từ bên trong. Qùy xuống, tôi bảo chị hộ sinh mở túi.

 

Tôi vẫn đinh ninh đây là một trẻ sơ sinh thảm hại, nửa sống nửa chết. Nhưng không phải thế, tôi thấy một bé trai hoàn hảo nặng hơn 2 kg đang múa máy tay chân bé tí của nó, môi tím ngắt vì thiếu dưỡng khí. Nhẹ nhàng, tôi nâng đầu đứa bé bằng một tay và đặt đầu ngón tay kia vào đỉnh đầu mềm mại. Làn da ở đó ấm áp lạ lùng, nhịp nhẹ theo tiếng khóc. Tôi hoảng sợ! Những tiếng nói thầm câm dội lên  trong tâm trí tôi: đây là sự sống, một con người. Nó sẽ chết trên sàn nhà lạnh lẽo này.

 

Tiếng người mẹ thét lên thấu qua gian phòng rộng: “Bác sĩ! Xin đừng, bác sĩ ơi!”

 

Chị hộ sinh ấn chiếc ống chích vào tay tôi. Nó nặng trĩu. Tôi trấn an chính mình: Đây chỉ là thủ tục thường lệ thôi, đâu có gì là sai trái. Luật pháp bảo phải làm mà. Ngay lúc đó, đứa bé đạp chân, bàn chân nó đẩy nòng ống chích lại gần bụng thật nguy hiểm. Tôi giật lại, thầm nghĩ: đêm nay là đêm Giáng Sinh! Tôi không thể tin được rằng mình đang làm việc này trong đêm Giáng Sinh!

 

Tôi chạm ngón tay trỏ vào môi bé. Nó quay đầu lại để bú. Tôi thốt lên: “Nhìn kìa, nó đói, nó muốn sống.”

 

Tôi choáng váng gượng đứng lên, chiếc ống chích tuột khỏi tay vỡ tan trên sàn nhà, chất lỏng vàng nâu lấm tấm trên giày tôi. Tôi bảo chị hộ sinh mang đứa bé vào phòng sinh, chuẩn bị đưa nó xuống phòng chăm sóc đặc biệt. Tôi nói với chị: “Tôi sẽ xin bác sĩ trưởng khoa chiếu cố đến nó”. Tôi nghĩ rằng một nữ bác sĩ sản khoa hơn 50 tuổi, có hai con, sẽ chẳng bao giờ giết hại trẻ sơ sinh này.

 

(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 29 tháng 4/2004 trang 6)

Trở lại Trang Nhà: