CÙNG LANG THANG GIỌT NẮNG – GIỌT MƯA

LANG THANG ĐẤT LẠ QUÊ NGƯỜI...

Lm. Lê Quang Uy, DCCT

Những ngày Đại Hội Giáo Lý 2004 của Tổng Giáo Phận Los Angeles đã trôi qua thật nhanh. Hôm nay tôi ngồi lắng lại trong tiết trời se se lạnh cuối đông của Anaheim. Ngoài vuông cửa sổ vọng vào những tiếng thảng thốt của "kêu cái mà quạ kêu" quang quác suốt ngày đến bực mình, nhưng nghe với một chút tình tự lãng mạn thì lại như một thứ nhịp cầu dân ca quen thuộc nối liền tôi từ miền Cali này với quê Việt cách xa một nửa vòng xoay trái đất...

Cái số tôi trong Tử Vi có "thiên di" chiếu mệnh nên cứ được lang thang hoài. Ở Việt Nam lang thang khắp Nam Trung Bắc, lên rừng, xuống biển, ra thành thị, về nông thôn, nói tiếng Kinh, ăn cơm Thượng... Năm 2001 lang thang sang tới Pháp, Đức, Luxembourg, Roma... Bây giờ lại lang thang tận xứ Cờ Hoa. Ngẫm nghĩ mà lạ! Nhưng thấy lạ lạ vậy thôi, không muốn lý giải nguồn cơn làm gì cho nó thêm rắc rối sự đời. Trời cho lang thang thì cứ vâng lời mà lang thang, hạnh phúc lắm rồi còn mong gì hơn. Chỉ xin chịu khó một chút, ghi chép tản mạn về những nơi chốn đã lang thang, những "dọc đường gió bụi" mà chia sẻ cho bên nhà gọi là chút quà phương xa. Cho cả những anh em bạn bè yêu dấu rời quê đã lâu sang bên này nữa chứ. Và như thế cũng có thể gọi là chút thơm thảo biết ơn hết thảy những ai đã lo liệu cho tôi có được chuyến lang thang hi hữu lần này...

 

Rời Sài-gòn trưa thứ hai 16 tháng 2, vậy mà bay đến Los cũng chỉ mới là xế chiều cùng ngày, hóa ra mình đi ngược thời gian cơ đấy! Gặp lại các bạn nhóm Mai Khôi ngày xưa... Vui ghê lắm, mất ngay cái ngơ ngác nơi đất khách xa lạ lâu nay chỉ mới làm quen qua phim ảnh, sách báo và lời kể. Đến lúc ngồi vào xe hơi bon bon 70 – 80 miles một giờ trên tuyến carpool của freeway thì nhìn ngang ngó dọc cái gì cũng lạ cũng mới...

 

Ngôi nhà tá túc đầu tiên không ngờ lại là mái ấm của gia đình anh Thành "Râu", ca trưởng đầy cá tính của hơn hai mươi năm trước ở Phan-xi-cô Đakao. Nằm lăn ra giường, trùm chăn ngủ ngay một giấc, ngắn nhưng sâu, hồi phục khá nhiều sau chuyến bay hai chặng dài hơn 16 tiếng... Nhịp sinh học vẫn chưa được bình thường nên đêm thì thức trắng, ngày thì ngồi đâu hễ cứ nhắm mắt là ngủ gà ngủ gật. Những bữa ăn cứ bị kéo dài vì không dứt được chuyện. Một Thánh Lễ quây quần bên chiếc bàn nhỏ, chỉ có ba người quen thân mà như thể hiện diện tất cả mọi người thân quen gần xa trong niềm tạ ơn Thiên Chúa Quan Phòng...

 

Theo tiêu chuẩn speaker do ban tổ chức Đại Hội mời, tôi "buộc" phải vào ở lầu 17 khách sạn Hyatt. Không biết khách sạn này đạt cấp độ mấy sao mà cái gì đối với mình cũng choáng ngợp, cứ như anh Hai Lúa về thành vậy! Dẫu sao buổi tối cũng được ngồi yên một mình để soạn bài. Nội dung chuẩn bị từ lâu bên nhà nhưng bây giờ phải sắp xếp lại hình thức cho nó thích hợp. Tranh thủ ngấu nghiến mấy tờ tạp chí cả đạo lẫn đời của bên này như: Thế Kỷ 21, Hiệp Nhất, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp... để làm quen phần nào với tâm thức người Việt ở Mỹ. Mệt thì lăn ra ngủ vùi...

 

Thứ năm 19 tháng 2, Đại Hội dành hẳn một ngày cho Giới Trẻ. Hơn 15.000 bạn trẻ Giáo Lý viên, học viên từ các Giáo Xứ, cả các Giáo Phận khác của Hoa Kỳ, đi thành từng đoàn, có khi mặc chung một loại áo pull cùng màu, tay cầm cờ hoặc giải băng cổ động của đơn vị, da trắng, da đen, da vàng của Người Việt, người Hàn, người Hoa, Người Indonesia, da màu của người Mễ-tây-cơ, người Cuba, người Hawaii... tất cả tập trung tại hội trường khổng lồ của Anaheim Convention Center. Đây là một kiến trúc mái vòm, giống như một thứ vận động trường đa năng có mái che, hình tròn dài như quả trứng ngỗng, không có một cột kèo gì cả, mênh mông mà ấm nồng, những đợt sóng bạn trẻ đứng lên ngồi xuống cứ chạy dạt vòng tròn kèm theo những tiếng hô to Ha-lê-lu-ia như sấm động... Trên lễ đài hoành tráng, cả chục máy projector cùng với đèn follow thổi lên hai hàng chữ lớn với nền rực đỏ cam vàng như lửa thanh xuân hừng hực: "Steeped in Mercy, Balm for the World" là khẩu hiệu, là châm ngôn chỉ đạo cho toàn Đại Hội lần này.

 

Tôi đến hơi trễ, đang giữa bài chia sẻ của chị Renée Bondi ngỏ lời với giới trẻ. Chị là một người khuyết tật do tai nạn, phải ngồi xe lăn mười mấy năm qua. Chị kể lại những thời gian đầu phải vượt qua những cơn khủng hoảng tuyệt vọng như thế nào. Có lúc chị đã gào lên, khóc mà nước mắt không trào ra được. Chị ngỡ Lòng Tin đã mất, chỉ còn lại sự căm giận trước số phận nghiệt ngã, nhất là sau đó đến phiên người chị gái trong gia đình lại bị tai nạn và bại liệt toàn thân như chị. Rồi một hôm, chị run rẩy cầu nguyện, chỉ một này thôi rồi có thể sẽ là cái chết: "Lạy Chúa, không thể cứ mãi thế này, Chúa phải làm điều gì đó cho con đi chứ? Con xin đầu hàng!" Có một thôi thúc kỳ diệu để lần cầu nguyện ấy không phải là lần cuối cùng, chị cứ hằng ngày cố gắng thức dậy để lại bật lên một lời kêu cứu như thế, trung thành trong suốt ba tháng liền. Một buổi sáng, chị đã "ngộ" và ngước mặt cười vang như trẻ thơ, cười như chưa bao giờ được cười, cười trong niềm vui thật sự, cười ràn rụa nước mắt vì đã được chữa lành, cười đổi đời. Tự nhận mình là người hát rong của Thiên Chúa (Troubadour for the Lord), chị Renée đã cất lên tiếng hát cao vút giữa lòng Đại Hội như một lời chứng sống động về lòng thương xót của Thiên Chúa. Chiếc xe lăn của chị tới lui ngang dọc, có lúc xoay tròn trên lễ đài theo giai điệu lúc mượt mà, lúc trào dâng như sóng. Và các bạn trẻ có mặt hôm ấy ở Convention đã làm cho những đợt sóng ấy dựng cao lên nữa, ùa vỡ thành lời hoan ca tạ ơn tung hô Tình Yêu bất diệt... (có thể truy cập Internet theo địa chỉ http://www.troubadourforthelord.com/Artists/Page11991/RNB03-01.RAM để nghe một trong các bài hát của chị Renée bằng chương trình RealPlayer )

 

(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 29 tháng 4/2004 trang 41)

Trở lại Trang Nhà: