Chuyện Trong Nhà, Ngoài Ngõ
LêViGiả
Nhìn dáng người thi sĩ gầy ốm, ít ai tin là Ông Sáu đang ôm ấp chung niềm đau của gần 80 triệu dân Việt đã gần 30 năm nay.
Mới ngày nào con Tũn còn ẵm ngửa khi gia đình rời khỏi Traị 4 của Camp Pendenton để lên Tiểu bang Washington định cư, thế mà hôm nay đã gần 30 năm tỵ nạn . Chen chúc để giành một chỗ cho gia đình ra đi vì CS đã vào đến cửa ngõ Đô Thành Saigon! Nhìn laị ba mươi năm với qúa nhiều đổi thay trong gia đình làm Ông Sáu chóng mặt.
Là người cẩn trọng, Ông Sáu không dám phê phán những diễn biến đổi thay của bè bạn hoặc xa hơn như Quê hương đất nước; có lẽ vì không nắm vững những điều cần có như dữ kiện chính xác bằng con số khiến Ông Sáu ngần ngaị mỗi khi cần phán đóan. Những “hình dung từ” không rõ ràng như hình như, có thể...nói chung là những chữ mơ hồ, thiếu rõ ràng cụ thể là chúng tôi tránh, nhất định không xài.̀ Ông thường lên án những lối nói mập mờ hiểu hai ba nghĩa, kỵ nhất là nói và làm khác nhau. Nói “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc” mà dân đói thấu trời từ mấy chục năm rồi mà vẫn cứ nói thì thật là bố láo. Đói mờ người nhưng vẫn phải cuốc mà lại gọi “lao động là vinh quang” thì thật là “hiếp dâm chữ nghĩa”, nói như Vẹm!
Bạn bè của Ông Sáu đều bóc ít nhất là tám chín cuốn lịch trong các trại tù cộng sản từ Nam chí Bắc nên Ông Sáu rất thuộc baì mặc dù mồng 5 tháng 5 năm 75 Ông đã ở Traị Orotee Point của Guam rồi. Con cháu của Bạn thành hôn, nhiều lần Ông Sáu được xếp chung bàn với các Bác đã ở Hà Nam Ninh, Hoàng Liên Sơn...mỗi khi bị hỏi là ở Trại nào (khi đi tù) Ông Sáu đều trả lời là ở K3 rất ngon lành. Nhiều Bạn của Ông Sáu coi Hà Nam Ninh... như một thứ credit hào hùng nữa nên các Bạn HO 75 hơi rét, sợ mích lòng cũng mhư tạo thêm chia rẽ. Thật sự thì nhiều Bác có nơi có chốn để ra đi nhưng các Bác laị tiếc nhà, tiếc của, tiếc “lá đa”...nên kẹt tùm lum.
Là loại ‘HO 75’ nhưng Ông Sáu vẫn chưa về Saigon bao giờ, trong lúc bằng hữu đã về VN ăn tết đôi ba lần. Nhiều Bác quan niệm “ăn Tết” cho ra Tết thì nhất định phải về. Trợ cấp Xã Hội tạm đủ sống, không đủ tiền mua vé máy bay nên đã lấy cả trợ cấp học bổng của các cháu để mua vé máy bay, dù biết rõ rằng tương lai của xấp nhỏ tùy thuộc vào mấy cái Scholarship này!
Vô tình chuyện “Lãnh tụ Râu Kẽm” về nước thăm nhà đã cảnh tỉnh khá nhiều những đam mê bất chánh của đám “ Tỵ nạn ham zui” chúng tôi. Đọc những bài tường thuật của Báo chí bên cạnh dư luận bàn tán ở mấy quán ăn...nếu ứng dụng vào cung cách hành sử của mình đối với Quê hương thì thật là nhơ nhớp, xấu xa. Hồi tưởng laị hơn hai mươi năm trước, phải ngồi trong xe lửa chật như nêm côí được đổ xuống Cảng Hải Phòng dưới nhãn hiệu Tù Caỉ Tạo để lên Cao Bằng mới thấy ê chề đáng trách, mặc dù Hoa Kỳ thường nói là :”Không có kẻ thù nào là truyền kiếp và không có Bạn nào là miên viễn” nhưng ông Sáu vẫn thấy dằn vặt ray rứt. Cố nhắm mắt để tìm sự Thứ tha như Kinh Thánh dạy, nhưng Kẻ Thù vẫn nguyên hình lộ diện hung ác tàn nhẫn với Đồng bào, với Họ Đạo từ Bắc chí Nam, từ nông thôn tới thành thị và đã nửa thế kỷ rôì dân chúng vẫn nhục nhằn khổ đau bất tận.
Ngờ vực về suy tư của mình trước những đau buồn của Quê Hương nhân Ngày 30 Tháng 4; ngồi xem thiên Phóng sự của Nữ Phóng Viên Laurence Jourdan của Pháp chiếu trên Đaì France 5 ngày 5 tháng 3 năm 2004 tường thuật về “Những người con gái bị lãng quên của đường mòn Hồ Chí Minh” (HCM) mới thấy rõ sự quỷ quyệt của con người HCM và sự thâm độc tàn ác của chế độ CS. Để phục vụ chiến tranh, CS đã xẻ nuí lấp sông làm con đường chạy từ Thanh Hóa vào Nam dài khoảng hai mươi ngàn cây số (20.000km) để tiếp tế quân nhu, quân cụ cho những anh bộ đội CS xâm lăng mang tên là “Sinh bắc Tử Nam” được gọi là Đường mòn HCM. Goị là Đường mòn nhưng rộng khoảng 3 thước để xe cộ có thể di chuyển. Những hình ảnh rừng gìa trùng điệp và phương tiện để làm đường là tay chân, cuốc xẻng ...nhưng CS thường xưng tụng là “biến sỏi đá biến thành cơm”.
Thiên phóng sự được thực hiện năm 2003, tức là 28 năm sau để noí về 150.000 chị em mệnh danh là “Thanh Niên Xung phong,” một thời đang là “con gái” của đôị quân “tình nguyện” bị đưa ra tiền tuyến năm 1965, lúc còn ở lứa tuổi mười tám đôi mươi. Họ đã “xung phong” lên đường khi đang độ xuân thì. Ngày nay họ đã là những bà già trên dưới 60, đang lầm lũi đi vào cuối thu của cuộc đời. Họ kể laị những gian khổ, hiểm nguy khi thi hành “nghĩa vụ” trên con đường chiến lược haĩ hùng này. HCM và đảng CS phaỉ duy trì con đường tiếp tế này bằng moị gía, trong lúc hàng trăm ngàn tấn bom đạn của Không quân VNCH và Đồng minh đã trút xuống con đường này để phá hủy. Thế mà, trên con đường đó, CS vẫn duy trì luôn luôn có hàng trăm ngàn “Cô gái Trường Sơn” túc trực sửa đường, lấp hố bom cho xe di chuyển. Họ được tổ chức thành từng đoàn dưới sự chỉ huy của cán bộ, đóng taị những căn cư sát với con đường. Vừa dứt tiếng nổ, khói lửa còn nghi ngút, họ đã túa ra đường, tay cuốc, tay xẻng...Họ gọi nhau ơi ới để xem ai còn, ai mất...gọi nhau để “khẩn trương” ra làm nhiệm vụ. Có nhiều người không thể đáp laị lơì goị, vì họ đã vĩnh viễn ra đi, hoặc trúng thương nằm quằn quaị trên vũng máu. Cuộc sống của chị em không chỉ có hiểm nguy vì bom đạn. Theo lời bà Đinh Thị Hợi, bà Nguyễn Thị Vân và hầu như tất cả các Bà được phóng viên phỏng vấn đều nói về tình trạng bệnh tật của những người “Con gái Trường Sơn”. Sốt rét đã khiến họ rã rời thân xác, đầu rụng hết tóc, mặt bủng da chì...Ông Huỳnh Công Ánh, người từng chỉ huy một đơn vị “Thanh Niên Xung Phong” gồm tòan là gái đã cho biết: khi mới ra đi, các Cô xinh đẹp, da dẻ mịn màng...nhưng chỉ sau đó ít lâu, người ta không còn nhận ra họ nữa. Ngòai bệnh sốt rét ác tính, họ còn bị những bệnh tâm thần. Họ kể nhiêù về sự cay đắng khi trở về làng cũ. Thời gian họ phải phục vụ taị con đường mòn HCM từ 4 đến 5 năm...vừa đủ để hiêủ rõ “chế độ” với đủ thứ bịnh họan chứa đầy trong cơ thể. Những người đồng trang lứa với họ, những người trai yêu họ thì nay đã ra đi chưa về, hoặc đã chết...Ở nơi họ đang ợ̉ chỉ còn các Cụ gìa, em bé và đám cán bộ đứng tuổi đã có vợ con. Hầu hết họ vẫn sống độc thân. Họ đau buồn. Họ lo sợ vì không có ai nương tựa lúc về gìa ?́ Họ được tặng danh hiệu là 5 không : Không chồng. Không con. Không cha mẹ. Không nhà cửa. Không chế độ vì chế độ không đãi ngộ, không nhòm tới!
Là những thành phần được “bác Hồ” thuở sinh thời mời gọi như các “đồng chí gái yêu dấu” mà còn vất vả, ba đào như thế huống hồ là các bác “Việt kiều” cách xa ngàn dặm trù tính đóng góp chất xám trong lúc xác “bác” đã “thúi rữa”, chỉ còn ít dòng di chúc cuôị thì tin gì nổi ?
Theo Thuyết Nhân Vị thì chuyện Sinh và Tử của con người hoàn toàn do Thượng đế. Con người không có quyền quyết định chuyện sống chết của chính mình. Căn ngày căn giờ để sinh thằng cu Tý là chuyện bố thằng Cu, mẹ cái Tý hổng làm được. Dĩ nhiên các bác Homo, Lesbian còn chào thua nữa, đó là điều chắc như bắp. Có lisence của Thành phố cấp cũng chỉ là để “làm cảnh “cho vui. Chuyện “đai” không định được và “ bớc”cũng không hay. “Đai” lúc nào không biết ,”đai” ra làm sao, “đai” theo kiểu nào...như vậy có nghĩa là chúng ta cần phải có “tý đỉnh” để phòng cho ngày mai. Có thể là cả chục năm sau nưã mới “đai” chưa biết chừng; vì vậy mà vấn đề tư hữu là điều cần phaỉ có cho con người. Các Cụ còn phán là:”Quân tử phòng thân, tiểu nhân phòng bị gậy” nữa cưa !
Vấn đề phòng thân là tối cần thiết cho con người, “hao-e-vơ” chuyện tư hữu nó cũng “một vưà hai phải thôi”. Lấy của người khác làm của “đảng mình”, chiếm công vi tư nhưng laị phịa: ”Đảng là qủan lý và Nhân dân là chủ” theo di chúc bịp của “bác” là vỡ nợ. Kỵ nhất là sách lược “cào bằng” của Mác-Lê đề xướng từ mấy thập niên khiến đảng ta rách mướp nhưng laị hô hoán là đỉnh cao trí tuệ thì thật là đaị bịp.
Tầu sửa đổi Hiến pháp rôì. Chừng nào “Cán ta” mới cọp dê cho dân ta đỡ vất vả đây? Có điều, nếu dân ta có đỡ vất vả tí tỉnh thì cũng chỉ là thứ ký sinh ‘ăn theo’, vì thực chất nó chỉ là mưu mẹo của ‘Đảng Ta’ nhằm hợp thức hóa những của chìm của nổi mà các ‘Đỉnh Cao Trí Tuệ’ đa trót cầm nhầm lâu nay mà thôi.·
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 29 tháng 4/2004 trang 110)