Bí-tích THÁNH-THỂ
Linh-mục Đỗ Xuân Quế O.P.
(Bắt đầu từ số 27 – tiếp theo)
Thiên-Chúa trong Cựu-ước là vị Thiên-Chúa đến gặp-gỡ loài người. Sự hiện-diện này của Chúa trong Ít-ra-en với hai đặc-tính căn-bản là siêu-việt và nội-tại đã giúp các tổ-phụ vừa cảm thấy gần-gũi lại vừa rất kính sợ Người (St 28,10-22) .
Ông Mô-sê cũng cảm thấy Chúa hiện-diện một cách sống-động như lời Chúa hứa với ông “Ta sẽ ở với ngươi” (Xh. 3,12). Lều Hội-ngộ trong sa-mạc và đền thờ Giê-ru-sa-lem sau này là nơi Chúa hiện-diện qua một dấu hiệu vừa biểu-lộ nét siêu-việt, vừa có vẻ gần-gũi là đám mây đen che lều và đền thờ. Dân Ít-ra-en hãnh-diện vì có một vị Chúa thân-thiết với dòng sinh-mệnh họ như vậy (Dnl 4,7) với hòm bia và đền thờ là nơi hằng ngự của vị Chúa này (Xh 29,45-46; Lv 26,11-12). Nhưng Ít-ra-en không được dùng hình-ảnh để cụ-thể-hoá sự hiện-diện này cũng như không được biến sự hiện-diện đó thành sở-hữu “Trời là ngai Ta, đất là bệ dưới chân Ta. Các ngươi còn tính xây cho Ta ngôi nhà nào nũa” (Is 66,1-2). Cũng vậy, khi Đa-vít tính xây nhà cho Đức Chúa thì Người đã từ-chối qua miệng ngôn-sứ Na-than: “Ngươi sẽ xây nhà cho Ta ư? Đức Chúa sẽ làm cho ngươi một ngôi nhà” (2Sm 7,5-11). Vậy không phải người ta có thể bắt Chúa nhốt vào một căn nhà khi Chúa là Đấng toàn-năng đã hứa sẽ cho Đa-vít một dòng-dõi và Người sẽ là Cha của dòng-dõi đó (2Sm 7,14). Do đó sự hiện-diện của Chúa cũng phải là sự hiện-diện đặc-biệt vì “Đấng Tối-cao không ở trong những ngôi nhà do tay con người làm ra” (Cv 7,48). Chính vì Đức Chúa muốn hiện-diện không phải như chúng ta nghĩ nên Kinh-thánh đã cho chúng ta biết sự hiện-diện của Chúa trong đến thờ như vừa có lại vừa không.
Đức Giê-su rất trọng-kính đền thờ, nhưng Người cũng muốn chúng ta hiểu rằng còn có một cái gì vượt quá sự tồn-tại giới-hạn của đền thờ. Khi Đức Giê-su đuổi bọn con buôn ra khỏi đền thờ là Người đã xoá bỏ và vuợt qua giới-hạn của biên-cương Do-thái: “Nhà của tôi phải được gọi là nhà cầu-nguyện cho mọi dân-tộc (Is 56,7; Mt 11,17); mọi dân-tộc sẽ đến đó để tế-lễ (Dc 14,16) và khi đó sẽ không còn bọn con buôn trong đền thờ nữa (Dc 14,21). Đền thờ Đức Giê-su nói đến ở đây không phải là đền thờ cũ do tay người phàm làm ra, mà là một đền thờ do chính Người xây-dựng lại trong ba ngày (Mc 14,51; Ga 2, 19-22). Đấy là chính thân xác Người đã chết và đã sống lại. Do bản-tính nhân-loại đã mặc lấy, Người sẽ ở với chúng ta cùng một thể khi Người vẫn ngự bên hữu Chúa Cha để nhờ Người mà chúng ta được đến cùng Chúa Cha (Dt 10,19-20) vì có Đấng Em-ma-nu-en (Thiên-Chúa ở cùng chúng ta) ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận-thế (Mt 28,20). Nơi đền thờ này, Đức Ki-tô - nhờ thần-khí của Người - sẽ quy-tụ các tín- hữu để cùng thành-lập một đền thờ thánh, một nơi Thiên-Chúa ngự đến cách đặc-biệt (Ep 2, 20-22; 1Pr 2,4-5).
Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem lần cuối cùng để dự lễ Vượt-qua và lầ̀n này, Người công-bố Tin Mừng không chỉ bằng lời nói, bằng cử-chỉ qua cách hành-động mà còn bằng cả chính mạng sống của Người nữa. Trước đó, Tin Mừng của Người về Nước Thiên-Chúa, về tình yêu của Thiên-Chúa đối với loài người, về giá-trị tuyệt-đối của mỗi con người được Thiên-Chúa yêu thương vuợt lên trên những hình-thức lễ-nghi bên ngoài đã bị dân chúng Ít-ra-en và những người cầm quyền trong đạo cũng như ngoài đời khước-từ và chối bỏ nên dù biết mình sẽ là nạn-nhân của việc công-bố Tin Mừng này, Đức Giê-su vẫn không lùi bước vì Người muốn đảm-nhận nhiệm-vụ Người-tôi-trung do Chúa Cha giao cho. Đức Giê-su muốn biểu-lộ cách tuyệt-đối cho loài người thấy Thiên-Chúa là tình-yêu, là Đấng hy-sinh nộp mình để cứu-chuộc nhân-loại.
Vì biết rằng sắp đến giờ phải bỏ thế-gian để về cùng Chúa Cha, nên trước ngày đại-lễ, Đức Giê-su muốn cùng các môn-đệ từ-biệt trong một bữa ăn cuối cùng. Thánh Mác-cô (14,12) và Thánh Lu-ca dường như muốn cho thấy bữa ăn đó là một bữa ăn mừng lễ Vượt-qua có tính-cách nghi-thức. Nhưng Thánh Gio-an quả-quyết rằng người Do-thái đã mừng lễ Vượt-qua năm đó vào buổi chiều sau khi Đức Giê-su chịu chết (18-28), nghĩa là cái chết của Đức Giê-su trùng-hợp với lúc người ta tế chiên trong đền thờ. Tuy nhiên, nếu bỏ qua vấn-đề ngày tháng thì điều chắc-chắn vẫn là Bữa Tiệc-ly đã diễn ra trong bầu không khí lễ Vượt-qua. Có bốn bản văn nói đến khung-cảnh bữa tiệc trong đó Đức Giê-su đã có những lời nói vắn tắt và hai cử-chỉ làm các tông-đồ xúc-động: Mt 26,26-29; Mc 14,21-25; Lc 22,14-20; 1Cr 11, 23-25.
Các nhà chú-giải đã làm việc rất công-phu tỉ-mỉ để cuối cùng cho ta biết được lai-lịch của bốn bản văn trên. Trước hết là do sự liên-hệ với nhau mà các bản văn như được chia ra hai nhóm là nhóm Phao-lô – Lu-ca (1Cr 11, 23-25 – Lc 22, 19-20) và nhóm Mác-cô – Mat-thêu (Mc 14, 22-24 – Mt 26, 26-27).
Bản văn cũ nhất là thư gửi giáo-đoàn Cô-rin-tô viết vào năm 57, trong đó thánh Phao-lô nhắc lại giáo-huấn về bữa tiệc thánh ngày Chúa-nhật (11, 20) gửi cho những dân Cô-rin-tô theo đạo vào năm 50. Thánh-nhân quả-quyết là đã được Chúa truyền cho những lời này. Đây không phải là mạc-khải riêng Đức Ki-tô dành cho thánh Phao-lô, nhưng là một truyền-thống lưu-hành trong Giáo-hội đã có từ thời Chúa Giê-su. Về văn-phong không có vẻ gì là của thánh Phao-lô mà còn có nét tương-đồng với ba đoạn văn khác cho thấy đó là một bản văn lấy từ một bài văn phụng-vụ trong các cộng-đoàn Ki-tô hữu lúc bấy giờ. Thánh Phao-lô đã được nghe nói đến bữa tiệc của Chúa khi trở lại Đa-mát vào khoảng năm 35 và chắc đã tranh-luận với thánh Phê-rô dịp ông đến Giê-ru-sa-lem vào khoảng năm 39. Hình-thức cụ-thể của bản văn bằng tiếng Hy-lạp mà thánh-nhân trưng-dẫn có lẽ đã được rút ra từ bản văn phụng-vụ của giáo-đoàn An-ti-ô-ki-a. Thánh Phao-lô biết rõ giáo-đoàn này vì họ đã cử chính ông đi truyền đạo.
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 29 tháng 4/2004 trang 114)