TỰ DO NGÔN LUẬN,

 

 QUYỀN CĂN BẢN CỦA CON NGƯỜI

 

VÀ NỀN TẢNG CỦA THỂ CHẾ DÂN CHỦ

 

Nguyễn Học Tập

 (tiếp theo số 27)

 

 Sự hiện diện của thành phần thiểu số đối lập là h́nh thức bảo vệ dân chủ và làm cho “Dân Chủ Cầu Tiến, Dân Chủ Hiệu Năng“  thay v́ “Dân Chủ Ngủ Gà Ngủ Gật, Dân Chủ Bè Phái, Dân Chủ Đảng trị“ và “Dân Chủ Giả Dạng “ (Gherig, op. cit. , id.).

 

Nhưng tất cả những ǵ cao đẹp vừa kể được Hiến Pháp giao cho thành phần thiểu số đối lập  để bảo vệ và làm cho dân chủ được phát huy sẽ trở nên vô dụng, nếu Hiến Pháp không đứng ra bảo vệ quyền tự do ngôn luận. Và đó là những ǵ Hiến Pháp 1949 CHLBĐ đă tiền liệu: “Mọi người đều có quyền phát biểu tư tưởng của ḿnh bằng lời nói, chữ viết và mọi phương tiện truyền thông khác, có quyền được thông tin, mà không ai được cấm cản, từ những nguồn tin mà ai cũng có thể biết được. Mọi hành vi cắt xén, kiểm duyệt đều không thể được chấp nhận “ ( Điều 5, đoạn 1, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).

 

Không có quyền bày tỏ ư kiến để “chỉ trích, kiểm soát, thắng bớt, cân bằng, điều chỉnh “, thực quyền Hiến Pháp dành cho thành phần thiểu số đối lập sẽ trở thành vô dụng.

 

c) Tự do ngôn luận và kiểm soát hạn chế quyền lực .

 

Hai yếu tố vừa được bàn đến, tự do bầu cử và tự do đối lập, trong thể chế dân chủ không có mục đích ǵ khác hơn là tạo được một nhóm người đại diện lănh đạo Quốc Gia nói chung và Chính Quyền nói riêng được sự đồng thuận của đa số chính danh hoá cho việc thừa  hành quyền lực Quốc Gia , hành xử trong giới mức hiến định và hiệu năng để bảo vệ người dân và đem lại lợi ích chung cho xứ sở.

 

Nhưng trong thể chế dân chủ, quyền lực Quốc Gia được trao cho các người đại diện thừa hành phải được người dân, chủ nhân của quyền lực tối thượng Quốc Gia luôn luôn kiểm soát và hạn chế, nếu không chủ nhân của quyền lực Quốc Gia có thể trở thành nô bộc cho giới cầm quyền, bị đàn áp và tước đoạt bởi những người đại diện, thay v́ được họ phục vụ.

 

Đặc tính trước tiên của các Hiến Pháp của các Quốc Gia dân chủ Tây Âu là đặc tính bảo chứng ( garantisme), áp dụng nhiều kỹ thuật bắt buộc giới hành quyền đương nhiệm phải tuân theo, xác định lằn mức không thể vượt qua cũng như những điều khoản bắt buộc phải thi hành, để bảo vệ quyền và tự do của người dân, cũng như định hướng đường lối cai trị hiệu năng và không thiên vị.

 

Nhưng điều chúng tôi muốn đề cập ở đây không phải là nghiêng cứu và b́nh luận những kỹ thuật hiệu năng được áp dụng để bênh vực con người và tạo nên thể chế dân chủ thực hữu ( démocratie substantielle) trong các Hiến Pháp vừa được đề cập (chúng tôi đă có dịp bàn đến trong bài “SOẠN THẢO VÀ TU CHÍNH HIẾN PHÁP“).

 

Điều mà chúng tôi muốn suy tư ở đây, liên quan đến quyền tự do ngôn luận đang bàn, là tự do ngôn luận, yếu tố tối quan trọng để chọn người đại diện lănh đạo quốc gia một cách dân chủ thực sự và bảo đảm cho nền dân chủ cầu tiến và hiệu năng, qua vai tṛ của thành phần đối lập, như đă nói.

 

Ngoài ra quyền tự do ngôn luận được các Hiến Pháp dân chủ Tây Âu dành cho dân chúng như là dụng cụ để kiểm soát hành vi của giới đương quyền lănh đạo.

 

Ai trong chúng ta cũng biết để tránh quyền lực tập trung vào tay một chủ thể duy nhứt, vua trong thời quân chủ hay Đảng ở các Quốc Gia Cộng Sản, các Quốc Gia dân chủ hiện nay phân chia quyền lực Quốc Gia theo  hàng ngang, lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các quyền lực Quốc Gia được chia như vậy độc lập, để kiểm soát và cân bằng nhau (Checks and Balances) theo tinh thần của Hiến Pháp Philadelphia 1787. Ngoài ra cách phân chia hàng ngang như vừa nói, các Hiến Pháp dân chủ Tây Âu hiện nay c̣n phân chia quyền lực Quốc Gia theo hàng dọc, từ trung ương đến địa phương, cộng đồng địa phương (vùng, tỉnh, quận, tổ chức xă hội trung gian, công đoàn, tổ chức kỷ nghệ và kinh tế…).

 

Nói cách khác Hiến Pháp đă trao cho các cộng đồng địa phương quyền tự do ngôn luận để cộng tác xác định đường lối chính trị Quốc Gia. Tiếng nói của cộng đồng điạ phương không phải là tiếng nói của người dân địa phương chỉ liên quan đến nhu cầu và ước vọng dân chúng sở tại, mà c̣n là tiếng nói của những người dân cư ngụ trên một phần lănh thổ Quốc Gia bày tỏ ư kiến và đồng thuận liên quan đến đường lối lănh đạo cho cả đất nước , để kiểm soát, hảm thắng, định hướng và quyết định trợ giúp giới lănh đạo đương quyền.

 

Đó là những ǵ Hiến Pháp 1947 Ư giao phó cho người dân địa phương - quyền đề xướng dự án luật Quốc Gia :

 

*“ Quyền đề xướng luật pháp thuộc về Chính Quyền, mỗi thành viên của Lưỡng Viện Quốc Hội và các cơ quan và tổ chức được luật hiến pháp giao cho.

 

Dân chúng hành xử quyền đề xướng luật pháp, qua sự yêu cầu của ít nhứt 50.000 cử tri, bằng một dự thảo luật viết thành điều khoản “ ( Điều 71, Hiến Pháp 1947 Ư).

 

(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 28 tháng 3/2004 trang 92)

 

Trở lại Trang Nhà: