QUYỀN HẠN TRÁCH NHIỆM nơi T̉A GIẢNG

 Nguyễn Bửu Đồng

 

 

Nó chỉ là một cái bục gỗ, nhưng là một bục gỗ đặc biệt.  Đặc biệt v́ nó được đặt trên cung thánh.  Nếu được đặt để ở một nơi khác th́ nó không có ǵ đáng nói v́ ai cũng có thể sử dụng, cũng có quyền dùng nó để phát biểu ư kiến của ḿnh như ở lớp học, pḥng họp... Nhưng v́ được đặt ở cung thánh, nó trở thành “ṭa giảng ”.  Theo đức tin của người công giáo, cung thánh mang ư nghĩa thánh thiêng.  Trước công đồng Vaticano II, chỉ những người giữ chức thánh hay những người giúp lễ mới có quyền hay được phép hiện diện trên đó.  Ṭa giảng, v́ vậy cũng đượm màu sắc thật đặc biệt.  Muốn sử dụng nó phải có chức thánh, ít nhất phải là thầy sáu vĩnh viễn.  Giáo dân Việt Nam, tới thời điểm này, không có quyền chia sẻ lời Chúa từ ṭa giảng.  Bởi đó, những ǵ phát biểu trên ṭa giảng phải có tính cách tôn giáo, trang nghiêm, xác tín, nói khác, không ǵ khác hơn là rao giảng Tin Mừng, ơn cứu độ của Chúa Kitô.   Và đó là trách nhiệm chung của tất cả những người giữ chức thánh! 

 

Đối với truyền thống văn hóa và đức tin của người tín hữu Việt Nam, những lời phát ra từ ṭa giảng đều có tính cách khả tin. Cha đă nói th́ phải đúng.  Không tin điều cha nói th́ c̣n tin ai v́ linh mục là chức thánh. Linh mục được huấn luyện để nói điều ngay thực, không bóp méo sự kiện, không dùng chức thánh và nơi thánh để mưu lợi cho riêng ḿnh. Người giáo dân Việt Nam từ lâu đời được dạy dỗ: linh mục là đức Kitô thứ hai .  Do đó, họ không muốn thấy một h́nh ảnh nào khác hơn là đức Kitô khi linh mục dùng ṭa giảng trên cung thánh: yêu thương và phục vụ .  Cho nên, những ǵ linh mục phát biểu trên ṭa giảng có ảnh hưởng rất nhiều, nhất là đối với những người lớn tuổi chỉ biết sống đạo theo cung cách của thời tiền công đồng Vaticano II, chỉ biết đọc kinh, đi nhà thờ để nghe lời cha giảng.

 

Quyền hành nào ở thế gian cũng có giới hạn và trách nhiệm đi kèm.  Bởi đó mà có từ “quyền hạn .” Thế nhưng, lạm quyền vẫn là sự kiện xảy ra hằng ngày trong cuộc sống, phần đời cũng như phần đạo.  Vẫn có người giữ chức thánh lạm quyền trên ṭa giảng, sử dụng cái đặc quyền rao giảng này cho lợi ích cá nhân hay những mưu sự trần thế! 

 

Ngày 12 tháng 3 năm 2000, sau 94 lần xưng tội của giáo hội, Đức Giáo Hoàng Phaolo II đă long trọng xưng tội tổng quát cho mọi lỗi lầm của giáo hội  từ  hai ngàn năm qua.  Ngài đă liệt kê ra sáu loại tội: tội thiếu khoan dung gây ra các cuộc thánh chiến, ṭa án dị giáo; tội chia rẽ, ra vạ tuyệt thông và chiến tranh tôn giáo; tội kỳ thị dân Do Thái, im lặng trước sự bắt bớ của Đức Quốc Xă; tội không tôn trọng quyền các dân tộc, các văn hóa và tôn giáo khác; tội không tôn trọng phẩm giá người phụ nữ và tính đơn nhất của nhân loại; và tội chống lại những quyền căn bản của con người.

 

Trong thực tế, dưới nhiều h́nh thức khác nhau, các tội trên ít nhiều đă vấp phạm ngay chính trên ṭa giảng bởi những người giữ chức thánh, đối với người trong đạo và cả với người ngoài đạo.

 

Tôi c̣n nhớ măi lời anh bạn tôi kể: hôm đó cha xứ đang làm lễ... Cả nhà thờ yên lặng... Bỗng tiếng chuông nhà thờ vang lên. Cha xứ liền ngưng lễ, cùng với các ông trong hội đồng quí chức chạy lên gác chuông... Vài phút sau, họ dẫn vào một thiếu niên 11, 12 tuổi. Em bé bị bắt quỳ trên cung thánh, trước mặt mọi người. Mặt em không c̣n chút máu. Em khóc, lạy, xin tha... Cha xứ và quí chức “dọa” chặt tay... Em không có đạo, theo bạn rủ đi nhà thờ lần đầu tiên. Ngồi nghe chán, em lẻn ra ngoài, lên gác chuông, giựt chơi mà không biết chuông để làm ǵ. Sau vụ đó, đứa bé, cha mẹ, thân nhân họ hàng nghĩ thế nào về đạo Chúa và những người theo đạo Chúa? Anh bạn tôi hỏi... Nếu là con cái của giáo dân họ đạo, chắc phải vạ tuyệt thông...

 

Lớn lên, anh tiếp, tôi cố gắng t́m hiểu h́nh ảnh đích thực về Thiên Chúa, một người cha thân thương nhân từ như đă được rao giảng từ ṭa giảng... Hơn một lần, tôi đi t́m hiểu ơn gọi, cả triều lẫn ḍng, nhưng tôi đều thất vọng v́ mục kích sự lạm quyền của người trên trước. Cũng may là trong cuộc sống, tôi đă thật sự gặp được Chúa qua nhiều người tôi tiếp xúc, làm việc chung với nhau. Thà làm giáo dân mà cố gắng sống cuộc đời tốt lành c̣n hơn là đi tu, giữ chức thánh mà cứ sống cuộc đời thế gian... trầm luân trong mưu định gian dối. Hôn phối và truyền chức thánh, cả hai đều là bí tích. Chúa không  nói bí tích nào cao trọng hơn bí tích nào... Hơn nữa, không thể có việc truyền chức thánh nếu không có hôn phối. Vậy con đường nào cũng có thể nên thánh nếu biết chu toàn, hoàn tất. 

 

Trước năm 1963, trong một lần đi lễ nhà thờ ở Khánh Hội, người viết đă chứng kiến một sự việc thật chướng mắt. Cha xứ đang rao giảng Tin Mừng cứu chuộc v́ đang mùa Vọng. Th́nh ĺnh cha ngưng giảng, đi xuống giữa nhà thờ. Mọi ánh mắt đều quay nh́n về hướng cha đi. Hai thiếu niên đang nói chuyện bị cha tán cho hai cái, đuổi ra khỏi nhà thờ... Xong cha lên ṭa giảng, tiếp tục giảng về Tin  Mừng cứu chuộc... như không có chuyện ǵ xảy ra. Đối với hai thiếu niên đó, mùa Vọng đă thực sự biến thành mùa... Vô Vọng! 

 

Chúa có cho các môn đệ theo Ngài quyền hành đó không? Hay h́nh ảnh dẫn dụ “chủ chiên và con chiên” đă mặc nhiên cho người chăn chiên cái quyền đó, v́ chủ chiên là con người và con chiên là con vật, không phải người? Người chăn chiên có quyền dùng gậy gộc đánh đập, xua đuổi những con chiên không chịu theo khuôn phép của ḿnh?  Câu trả lời sẽ là “có” nếu hiểu theo tương quan giữa con người và con vật.  (Nhưng hăy coi chừng, hội Bảo Vệ Loài Vật chưa chắc sẽ để yên!)

 

(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 28 tháng 3/2004 trang 50)

 

Trở lại Trang Nhà: