NẶNG VỚI QUÊ HƯƠNG MỘT TẤM L̉NG
Giới thiệu bút kư TÔI PHẢI SỐNG của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
Trần Trung Đạo
Cách đây hơn 4 năm, cũng tại thành phố Boston này, lần đầu tiên tôi có d uyên được nghe Linh mục Nguyễn Hữu Lễ nói về những áp bức nhân quyền và đấu tranh tôn giáo đang diễn ra tại Việt Nam. Dựa theo những ư chính trong buổi nói chuyện của Cha, tôi đă viết thành một bài tâm bút có tên "Theo Bước Chân Người Linh Mục". Trong bài viết, tôi nhiều lần lập lại câu nói ngày nay đă trở thành quen thuộc của Cha Nguyễn Hữu Lễ: "Trước khi trở thành linh mục, tôi là người Việt Nam". Câu nói đó thật ra không phải là một khám phá thiên tài nhưng trái lại rất b́nh thường. Ai cũng có thể nói được và ai cũng biết đó là sự thật. Tuy nhiên biết đúng và sống đúng với những điều ḿnh biết nhiều khi là chuyện khác nhau. Tôi nghĩ rằng, hơn bao giờ hết, những người Việt Nam yêu thương đất nước ḿnh không phải chỉ biết nói lớn như Cha Nguyễn Hữu Lễ, nhưng c̣n biết sống v́ đất nước như Cha Nguyễn Hữu Lễ, biết quư cái tổ mà chúng ta đă được ấp thành người, dù chiếc tổ đó làm bằng rơm rạ Việt Nam chứ không phải bằng chăn êm nệm ấm xứ người.
Tôi nhận rất nhiều điện thư hồi đáp về bài viết Theo Bước Chân Người Linh Mục. Đa số hồi đáp rất tích cực. Bài viết đă dựng nên một nhịp cầu cảm thông, không những chỉ giữa cá nhân tôi và Cha, không những giữa các thế hệ Việt Nam ở hải ngoại, mà cả nhiều tín đồ của hai tôn giáo lớn. Bởi v́ chúng ta, trước khi trở thành bất cứ một cương vị nào trong xă hội hay trong tôn giáo, đều là người Việt Nam, và trước hết phải có bổn phận đối với sinh mệnh của dân tộc Việt Nam. Tôi vẫn nhớ bài viết của vơ sư Việt Vơ Đạo Nguyễn Tiến Hóa đọc trong một Thánh Đường: "Con xin mượn lời của Cha Nguyễn Hữu Lễ trong câu: Trước khi làm linh mục, tôi là người Việt Nam trong bài Theo Bước Chân Người Linh Mục của Trần Trung Đạo, để xác tín: tất cả chúng ta đang hiện diện trong ngôi thánh đường nhỏ bé này đều là người Việt Nam. V́ thế, ngoài bổn phận thiêng liêng đối với Thiên Chúa, chúng ta c̣n một bổn phận thứ hai không kém phần quan trọng: Đó là t́nh yêu quê hương và tổ quốc Việt Nam". Tôi trích dẫn câu nói của vơ sư Nguyễn Tiến Hóa bởi v́ cá nhân ông, mặc dù không bị tù đày như Cha Lễ, cũng là một trong những biểu tương của sự chịu đựng và ḷng yêu nước. Vơ sư Nguyễn Tiến Hóa đến được bến bờ tự do năm 1981 với một giá rất đắt. Ông đă bỏ lại trên biển cả một vợ, hai con, một người em dâu và người cháu ruột, cùng tất cả những người trên tàu, hầu hết là anh em bà con trong ḍng họ. Ông đă bị bệnh tâm thần hết gần tám năm sau chuyến hải hành đầy máu và nước mắt đó. Nhưng tinh thần dân tộc, qua môn phái Việt Vơ Đạo, đă giúp ông vượt qua cửa chết để trở về với đường sống trong t́nh người Việt Nam.
Trong số những hồi đáp tôi cũng nhận được là một câu hỏi của một nữ sinh viên Việt Nam: "Cám ơn anh đă nhắc lại câu nói của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, trước khi trở thành linh mục ông là người Việt Nam. Thế nhưng tôi thắc mắc là sau khi trở thành linh mục rồi, ông có c̣n là người Việt Nam nữa hay không?" Tôi trả lời cô, theo tôi, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ chịu đựng gian lao tù tội không phải v́ ông là linh mục nhưng là v́ cái tội ông đă yêu thương mảnh đất từng nuôi ông lớn, v́ cái tội ông kính trọng các truyền thống đạo đức, tôn giáo tốt đẹp mà tổ tiên ông đă để lại, v́ cái tội ông đă đeo đuổi cuộc đấu tranh cho một xă hội công bằng bác ái, dân chủ, tự do cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau. Tóm lại ông bị tù đày v́ ông là người Việt Nam yêu nước. Dù sao, câu trả lời cũng chỉ dựa theo hiểu biết giới hạn của tôi về những chịu đựng, gian nan mà Linh mục Nguyễn Hữu Lễ đă trải qua trong nhà tù Cộng Sản. Hôm nay, tôi tin rằng cô nữ sinh kia và quư đồng hương quan tâm ở trong cũng như ngoài nước, đă nhận được câu trả lời rơ ràng hơn và đầy đủ chi tiết hơn về hành tŕnh gian khổ của Cha Nguyễn Hữu Lễ, được tích chứa trong bút kư dài 650 trang, Tôi Phải Sống, của ông.
Hồi kư, trong trường hợp này là bút kư, là một thể văn quen thuộc trong văn chương Anh Mỹ. Bước vào một nhà sách Mỹ, hồi kư bao giờ cũng chiếm một số lượng lớn so với nhiều thư mục khác. Các tổng thống, các nhà chính trị, các kinh tế gia, các văn nghệ sĩ nổi danh, các nhân vật từng tạo nên thời thế đều muốn để lại cho đời sau những bài học sống động qua những thiên hồi kư viết về cuộc đời của chính họ. Trong ḍng văn học Việt Nam lưu vong, hồi kư cũng đă trở nên thể văn phổ biến bằng một lư do tương tự. Các nhà lănh đạo chính trị, quân sự Việt Nam sau mùa băo lửa dài của đất nước, đă có cơ hội nh́n lại cuộc chiến Việt Nam, có cơ hội ghi lại những biến cố mà họ đă chủ động tham gia hay chứng kiến, để qua đó các thế hệ Việt Nam mai sau có cơ hội học hỏi những kinh nghiệm thành công và cả không thành công của các thế hệ ông cha.
Hồi kư rất cần thiết và rất giá trị. Nhưng có lẽ điều khó khăn và cần thiết nhất của một hồi kư là giữ được đặc tính khách quan, không phải chỉ khi mô tả bối cảnh đất nước, khi viết về người khác mà quan trọng hơn khi viết về chính tác giả. Nếu không, các thế hệ Việt Nam tương lai khi vẽ lại h́nh ảnh đất nước qua những hồi kư của ông cha, họ sẽ phải bâng khuâng và đặt nhiều nghi vấn. Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20, theo họ biết, phải là thời đại của nhiễu nhương, thống khổ, hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, chết giữa rừng sâu, chết trong lao tù, chết ngoài biển cả, th́ trái lại, trong nhiều hồi kư, các tác giả viết về ḿnh như là những anh hùng, những gương hy sinh cao cả, những nhà lănh đạo vô cùng tận tụy với nhân dân, những chính khách suốt đời thanh liêm trong sạch. Không ít tác giả viết rất nhiều về những đóng góp của họ vào việc xây dựng đất nước nhưng không nhắc ǵ đến những đóng góp khác của họ vào việc làm sụp đổ đất nước. Bức tranh Việt Nam, mà các tác giả đó vẽ nên, là một khu vườn toàn kỳ hoa dị thảo rực rỡ sắc màu giữa một bầu trời quê hương đầy sao sáng. Và trong bầu trời đó, không ngôi sao nào chịu thừa nhận ḿnh là ngôi sao xấu. Con cháu chúng ta sẽ hỏi, các ông các bà đă đứng đâu trong cảnh máu xương của dân tộc? Các ông các bà đă làm ǵ trước những điêu linh thống khổ của Việt Nam trong thế kỷ 20?
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 26 tháng 12/2003 trang 41)