Những Tấm Gương Sống Đạo Giữa Đời

 

Lê Thiên & Lê Tinh Thông (sưu tầm & biên khảo)

 

Linh mục Đặng Đức Tuấn [1]

 

(1825-1874)

Bị bắt v́ là đạo trưởng trở thành khâm sai đi sứ cho vua

 

Địa sở Gia Hựu thuộc huyện Hoài Nhơn, tỉnh B́nh Định, là một họ đạo lớn kỳ cựu của Địa phận Đàng Trong, nay thuộc Giáo phận Qui Nhơn. Thống kê năm 1747 ghi nhận đă có 400 tín hữu trong họ đạo này. Đặng Đức Tuấn sinh năm 1806 và lớn lên tại họ đạo ấy. Thân phụ của Tuấn là Đặng Đức Lành, một nhà Hán học nổi danh trong vùng, làm trùm trưởng giáo họ Gia Hựu. Ba người con của ông gồm Đặng Đức Hóa, Đặng Đức Tuấn và Đặng Đức B́nh đều được giáo dục nên người, ngoan đạo và tinh thông chữ nghĩa. Có tài liệu ghi nhận Đặng Đức Lành là cháu nội Đặng Đức Siêu (1750-1810), người Bồng Sơn, tỉnh B́nh Định, một danh sĩ đă từng làm Lễ Bộ Thượng Thư triều Gia Long và đă sáng tác nhiều văn thơ nổi tiếng, trong đó có Văn Tế Vơ Tánh và Ngô Tùng Châu. Đặng Đức B́nh, con trai út của Đặng Đức Lành, mất sớm v́ bệnh đậu mùa. Con cả Đặng Đức Hóa đổ tú tài Hán học. Riêng Đặng Đức Tuấn, năm 1825 (lúc 19 tuổi), cũng lều chơng vào B́nh Định thi hương, vượt qua được hai trường thi (kinh nghĩa và phú lục), nhưng ở trường thi thứ ba lại hỏng môn thơ phú là môn sở trường của cậu.

 

Thầy dạy chữ Hán trở thành chủng sinh, rồi linh mục.

 

Thời kỳ đó, tại Mă Lai, Đại Chủng Viện Phi Năng (Pénang) được thành lập để đào tạo linh mục cho vùng Đông Nam Á (thay thế Chủng Viện ở Thái Lan, đóng cửa v́ bị tàn phá). Các Chủng Sinh Việt Nam được gửi học tại Chủng Viện Pénăng (Phi-Năng), phần lớn đă được thụ phong linh mục. Một số nhỏ trở về sống đời giáo dân và đă thành danh, như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Kư, Nguyễn Hữu Bài và Ngô Đ́nh Khả.

 

V́ linh mục Việt Nam cần học chữ nho để chu toàn công tác mục vụ thời ấy, nên sau khi xét thấy Đặng Đức Tuấn vừa uyên thâm nho học vừa có tư cách đạo đức, năm 1840, Đức Giám Mục Cuénot Thể (Giám Mục Đàng Trong) giới thiệu Tuấn đi Mă Lai dạy chữ Nho trong Chủng Viện. Đặng Đức Tuấn không những tỏ ra mẫn cán trong việc dạy học, mà c̣n nhanh chóng thông hiểu cả tiếng Latinh lẫn một số sinh ngữ Tây Phương, nhờ anh cố công tự học với sự tận t́nh chỉ dẫn của một số Cha giáo.

 

Cha Bề trên Đại Chủng Viện khám phá khả năng thông hiểu tiếng Latinh của thầy dạy chữ nho Đặng Đức Tuấn. Cha ướm hỏi thầy có muốn làm linh mục không. Câu hỏi đánh trúng ước vọng thầm kín mà Tuấn đă ôm ấp từ khi đến dạy học ở chủng viện này. Tuấn không ngần ngại đáp lại tiếng gọi thiêng liêng của Chúa. Thế là thầy Tuấn vừa tiếp tục giảng dạy môn chữ Hán vừa bắt đầu học các môn học cần thiết cho sứ mạng mục vụ tương lai.

 

Sau 7 năm mài miệt sách đèn, thầy Tuấn được Bề Trên gọi ban chức Cắt Tóc, chuẩn bị bước vào đời sống giáo sĩ. Măn Đại Chủng Viện, thầy trở về Việt Nam đi tập sự, gọi là “đi thử’ hầu tự đào luyện thêm cả khả năng lẫn đức độ. Ít lâu sau, Đặng Đức Tuấn được Giám Mục Cuénot Thể phong chức linh mục tại nhà thờ G̣ Thị (B́nh Định), quê hương của Thánh Anrê Kim Thông, rồi được bổ nhiệm cai quản họ Châu Me và Trung Tín, thuộc huyện Tuy Phước, tỉnh B́nh Định.

 

T́nh h́nh bách hại: Thích tự và phân sáp

 

Linh mục Đặng Đức Tuấn bắt đầu thi hành nhiệm vụ mục vụ nhằm vào lúc xảy ra biến cố 1858 và 1859 xảy ra biến cố liên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh phá Đà Nẳng năm 1858 và xâm chiếm Sài G̣n – Gia Định năm 1859 dưới triều vua Tự Đức (1848-1883). Trước đó, dưới triều vua Minh Mạng (1820-1840), người Công Giáo đă chịu bách hại một cách thảm khốc. Tới thời vua Thiệu Trị (1841-1847) và thời kỳ đầu của triều vua Tự Đức (1848), sự bắt bớ tuy vẫn tiếp tục, nhưng cường độ ít căng thẳng hơn. Sau hai biến cố trên, cuộc bắt đạo trở nên gay gắt gấp bội. Các đạo trưởng (linh mục cùng tu sĩ) và các trùm họ bị bắt đều bị đưa ra pháp trường xử trảm. Hàng trăm ngàn giáo dân bị đóng ấn hay khắc chữ “tả đạo” lên mặt bằng sắt nung lửa (gọi là thích tự), rồi phân tán vào các làng không Công Giáo (gọi là phân sáp) để canh giữ và ḱm kẹp.

 

T́nh h́nh thích tự, phân sáp được linh mục Đặng Đức Tuấn mô tả bằng những ḍng sinh động sau đây:

 

Đạo rày phân sáp các miền,

Làm vi canh nhặt giữ ǵn chớ tha.

Làng nào để nó trốn ra,

Tội t́nh chẳng nhỏ, oan gia chẳng vừa.

Giáo dân lớn nhỏ bắt bừa,

Bắt ra thích tự chẳng chừa gái trai.

(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 26 tháng 12/2003 trang 113)

Trở lại Trang Nhà: