KHÍ TIẾT VÀ LĂNH ĐẠO
Lâm Lễ Trinh
Suốt 40 năm nay, mỗi khi ngày 1 tháng 11 trở lại, h́nh ảnh tuẫn tiết của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm vẫn khơi dậy trong tâm thức quần chúng những âm vang chua xót nhưng đồng thời, cũng nhắc nhở những kinh nghiệm bổ ích cho cuộc đấu tranh tương lai.
Nhân dịp này, không nên phí thời giờ để tố giác, một cách tiêu cực, những sai lầm của Hoa kỳ, hành vi bội phản của các người đội lốt quốc gia và sự phá hoại của Cộng sản. Thật vậy, cho đến nay, vô số văn khố giăi mật của chính quyền Mỹ, công tŕnh nghiên cứu của các thức giả, những lời thú nhận của một số nhân chứng liên hệ và, đặc biệt, t́nh trạng khánh tận của xă hội chủ nghĩa đă và đang làm chuyện đó trước công luận quốc tế.
Lịch sử cận đại Việt Nam sẽ măi ghi lại một điều sáng tỏ: Quyết định của TT Diệm tiếp xúc vào giờ chót với quân đảo chính chứng minh ông muốn t́m một giải pháp dân tộc ôn ḥa. Sự hy sinh dũng cảm của Tổng thống Diệm và bào đệ Ngô Đ́nh Nhu đă tránh cho miền Nam VN cảnh nồi da xáo thịt giữa người quốc gia và bảo toàn tiềm năng kháng cộng trong giai đoạn cực kỳ nguy kịch. Sự hy sinh ấy c̣n là một lời kêu gọi thống thiết gởi đến cho cấp chỉ huy Quân đội đừng vong bổn, vọng ngoại và chễnh mảng trong cuộc chống cộng cứu nước. Tiếc thay, lời kêu này không được lắng nghe. Nhóm tạo phản bị ngoại bang mua chuộc. Nối gót Judas, với một giá rẽ mạt – 42 ngàn đô - họ đă giết lănh tụ và bán đứng Tự do của ba chục triệu đồng bào miền Nam. Họ đă giúp Hoa kỳ thay toàn diện một thế cờ. Với 42 ngàn đô.
Trong những giờ phút cuối cùng cuộc đời, Tổng thống Diệm hoàn toàn cô đơn: đồng minh bội bạc, dân tộc hiểu lầm, người thân trở mặt và kẻ thù cộng sản reo mừng. Cầu nguyện lần chót sáng ngày 1.11.1963 tại thánh đường Cha Tam Chợlớn, với ông Nhu quỳ bên cạnh nhưng không chắc đồng một tâm tư, TT Diệm hẳn vô cùng xót xa cho Đất Nước. Rơ là một tâm trạng chán chường ngút trời , lẻ loi vô tận. Nỗi cô đơn ray rứt của một chiến sĩ cùng đường. Của một dân tộc bị chèn ép. Loại cô đơn từng được nhà đại văn hào Gabriel Garcia Marquez diễn tả sâu sắc trong tuyệt phẩm “One Hundred years of Solitude, Một trăm năm tịch liêu.”
Hồ sơ giải mật của Bộ Ngoại giao Hoa kỳ ghi lại như sau nội dung điện đàm lần chót giữa Diệm và Cabot Lodge:
Diệm: “Vài đơn vị đă nổi loạn và tôi muốn biết thái độ của Chính phủ Mỹ.”
Lodge: “ Tôi không có đủ tin tức để trả lời cho Ngài. Tôi có nghe súng nổ nhưng không biết rỏ tất cả các sự kiện. Bây giờ là 4:30 sáng tại Hoa Thịnh Đốn và Chính phủ Hoa kỳ không có quan điểm ǵ.”
Diệm: “Tôi đă cố gắng làm bổn phận của tôi.”
Lodge: “Như tôi đă thưa với Ngài sáng nay, Tôi khâm phục can đảm của Ngài và những đóng góp to lớn của Ngài cho quư quốc. Nếu tôi có thể làm ǵ được cho sự an toàn của bản thân Ngài, xin kêu tôi.”
Tổng thống Diệm liền gát điện thoại. Ông giữ vững khí phách đến cùng. Dù có những sơ hở khó thể tránh trong lúc cầm quyền - lịch sử về sau sẽ phân tích công và tội – ông quyết không làm nhục quốc thể, J.F. Kennedy lẫn Hồ Chí Minh không dám coi thường. Trước sau như một, TT Diệm không nhân nhượng, không đầu hàng . Làm sao có thể ngẫng đầu cao nếu đi bằng đầu gối?
Di nghiệp chính trị của Tổng thống Diệm lưu cho hậu thế là một thông điệp nóng cháy: Triệt để bảo vệ chủ quyền và thể thống quốc gia trong mọi hoàn cảnh. Ngay từ đầu cuộc chiến, Hoa kỳ và VNCH quan niệm khác nhau mối liên hệ đồng minh giữa hai nước. Từ đó sinh ra những bất đồng dẫn đến bất ḥa và kết thúc bằng sự bức tử của Miền Nam. Đúng vậy, quyền lợi của Mỹ và VN chênh lệch: Chính phủ Sàig̣n chống Bắc Việt để bảo toàn dân chủ và độc lập, trong khi Hoa kỳ dùng VNCH như con cờ thí trong kế hoạch quân b́nh thế lực tại Á châu, chống Bắc kinh bành trường và gây chia rẽ giữa Nga - Tàu.
Quốc hội Mỹ không bao giờ tuyên chiến công khai với Hànội, tránh né bảo đảm an ninh của VNCH bằng một hiệp ước như tại Nam Hàn, không cho Quân dội miền Nam vượt vỹ tuyến 17, khóa tay Hành pháp bằng đạo luật War Power Act và, cuối cùng, không bận tâm thông qua theo thủ tục hiến định Hiệp ước đ́nh chiến Paris.
Sau tháng 11.1963, Mỹ đă dành hết trách nhiệm điều khiển cuộc chiến để đễ bề thao túng. Tùy theo nhu cầu chính sách, Hoa Thịnh Đốn đă ngạo mạn Mỹ hóa, sau đó Việt nam hoá chiến tranh để rồi, năm 1973, hối hả rút khỏi vũng lầy Việt Nam , một terra incognita, xa lạ với Mỹ về tâm lư và tập quán.
Đại cường Hoa kỳ thiếu kiên nhẩn, đánh không muốn thắng, không thông hiểu chiến tranh nhân dân, đoán sai quyết tâm của Cộng sản và bỏ rơi Chính phủ miền Nam.
Âm mưu giết hại Tổng thống Diệm là một vết nhơ, một “mối ám ảnh đeo đuổi dai dẵng lương tâm nước Mỹ, quần chúng và nhà lănh đạo xứ này, tạo ra hội chứng Việt Nam.” (“Anne Blair trong tác phẩm Lodge in VN, nhà xuất bản Yale University Press, New Haven, 1995, trang 190)
Tại Hoa kỳ, có một câu thông dụng “Người quá cố không kể chuyện hoang đường , Dead men tell no tales.”. Cái chết của Tổng thống Diệm, tự nó, đă lớn tiếng tố cáo, mang nặng ư nghĩa và dạy nhiều bài học. Về bạn và thù. Về nhân t́nh, thế thái. Về Điểm và Diện trong chiến lược trường kỳ.Và bao nhiêu chuyện khác. Ít nữa có hai bài học không thể quên:
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 26 tháng 12/2003 trang 80)