GIÁNG SINH CỦA CHÚA GIÊ-SU

 

Trần Công Tiến

 Tiến Sĩ Triết Học

 

 “Tháng thứ sáu, Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đă đính hôn với một người tên là Giu-se, thuộc nhà Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi người đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa ǵ. Sứ thần liền nói: “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, v́ bà đẹp ḷng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị v́ nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại Người sẽ vô cùng tận.” Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xẩy ra cách nào, v́ tôi không biết đến việc vợ chồng!” Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, v́ thế, người con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa. Ḱa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đă có thai được sáu tháng. V́ đối với Thiên Chúa, không có ǵ không thể làm được.” Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi .”[1]

 “Sau đây là gốc tích Chúa Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đă đính hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đă có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, th́ ḱa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giu-se, là con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, v́ người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, v́ chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” Tất cả sự việc đă xẩy ra, là để ứng nghiệm lờ́ xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.” Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su .”

 

Đối với nhiều người, việc thu thai và sinh con mà vẫn đồng trinh là một việc không xẩy ra. Đối với nhiều người khác việc đó có thể xẩy ra, bởi v́ đối với Thiên Chúa th́ mọi sự đều có thể có. Cuộc tranh biện này đă diễn ra, hiện đang diễn ra và sẽ con diễn ra không biết đến bao giờ mới ngừng.

 

Tuy nhiên chúng ta nên đọc ra ư nghĩa biểu tượng của câu truyện. Chúa Giê-su sinh ra với thân xác con người như mọi người khác. Và mọi thân xác đều mang trong nó một tinh thần. T́nh thần này như thế nào?

 

Thông thường tinh thần, tuy khác với thân xác, lại mang những ư tưởng nẩy sinh do sự tiếp xúc của thân xác với thế giới vật chất. Những ư tưởng này là những ư tưởng xấu. Sách Sáng Thế viết: “Thiên Chúa thấy rằng sự gian ác của con người quả là nhiều trên mặt đất, và ḷng nó chỉ toan tính những ư định xấu suốt ngày. Thiên Chúa hối hận v́ đă làm ra con người trên mặt đất, và Người buồn rầu trong ḷng .” Khi con người rời bỏ Địa Đàng, con người đi vào tội lỗi. Tội đâu tiên là tội anh (Ca-in) giết em (A-ben). Tội này xẩy ra v́ ghen tỵ: lễ vật của người em được Thiên Chúa chấp nhận trong khi lễ vật của người anh không được Thiên Chúa chấp nhận. Như vậy thế giới này hay trần gian bao gồm vật chất và tinh thần (các ư tưởng) xấu.

 

Cũng theo Sách Sáng Thế , trần gian là nơi của khổ cực. Khi đuổi A-đam và Ê-và ra khỏi Địa Đàng và vào trần gian, Thiên Chúa nói với Ê-và: “Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con. Ngươi sẽ thèm muốn chồng người, và nó sẽ thống trị ngươi .”[1] Ngài nói với A-đam: “V́ ngươi đă nghe lời vợ và ăn trái mà Ta đă truyền cho ngươi rằng: ‘Ngươi đừng ăn nó’, nên đất đai bị nguyền rủa bởi ngươi, ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra. Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng. Ngươi phải đổ mồ hôi trán mới có bánh mà ăn, cho đến khi trở về với đất, v́ từ đất, ngươi đă được tạo ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất .”

 

Chúa Giê-su sinh ra không mang một tinh thần xấu như vậy. Người sinh ra với tinh thần mà là thánh thần. Để diễn tả thánh thần này, Thiên Chúa và đồng trinh được dùng làm biểu tượng. Thiên Chúa vượt lên trên trần gian. Thiên Chúa biểu tượng cho một thực thể khác trần gian. Và thực thể này là một tinh thần tốt hay thánh. Đồng trinh cũng nói lên tính cách vượt khỏi trần gian của Chúa Giê-su. Người sinh ra mà không mang trong người những bụi trần nhơ bẩn. Thân xác của Người không cưu mang những ư định xấu hay tà thần. Thân xác của Người chứa chấp những ư định tốt hay thánh thần.

 

Chúng ta nên nhớ rằng Thiên Chúa là Đấng Tốt Lành. Đấng Tốt Lành này cũng được gọi là Sự Thiện hay Đạo. Là con người, chúng ta sống trong tương quan với trần gian và với Thiên Chúa hay Đạo. Tương quan với trần gian làm nẩy sinh những ư tưởng xấu và tương quan với Thiên Chúa hay Đạo làm nẩy sinh những ư tưởng tốt.

 

Chúng ta nên nhớ rằng khi A-đam và Ê-và vâng lời Thiên Chúa th́ họ được ở trong Địa Đàng. Và Địa Đàng là nơi của hạnh phúc.

 

(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 26 tháng 12/2003 trang 6)
 

Trở lại Trang Nhà: