Phải Chăng ĐỜI SỐNG ĐAN TU
LÀ MỘT MÔ H̀NH XĂ HỘI CHỦ NGHĨA?
Lm. Đan Minh Trần Minh Công –Thuỵ Sĩ
Đă có một thời cả nước hồ hởi vui mừng v́ thấy một nhà nước hứa hẹn khỏa lấp hố sâu bất công trong xă hội, và quyết tâm san bằng sự cách biệt giữa những người giàu và người nghèo. Nhiều người mơ ước một xă hội trong đó không c̣n giai cấp, không c̣n chủ thợ, nhưng tất cả mọi người công dân là anh em b́nh đẳng hưởng lợi tức do sức lao động của ḿnh. Xă hội đáng mơ ước đó là một xă hội công bằng, có trật tự và không có chuyện người bóc lột người. Trước viễn tượng hứa hẹn đó, bấy giờ có một số trí thức công giáo và một ít linh mục và tu sĩ đă hết lời ca tụng cái xă hội mới lư tưởng đó. Bởi v́ họ nh́n thấy trong xă hội hứa hẹn ấy cái h́nh ảnh của Hội Thánh tiên khởi được thuật lại trong sách Công Vụ Tông Đồ. Ngày nay xă hội đó như thế nào và đă đi về đâu? Ở đây chúng ta không cần bàn đến xă hội đó nữa, v́ mọi người đă nh́n thấy hậu quả không như ước mơ, đă có kinh nghiệm về nó và đă đo lường được cái giá trị của nó rồi. Thực tế trái ngược với lư tưởng!!
Trong những trang sau đây, nếu chúng ta so sánh chủ nghĩa cộng sản với đời sống đan tu, chúng ta chỉ mong muốn có một sự hiểu biết đầy đủ hơn của đời sống đan sĩ, để rồi từ đó chúng ta sống một cách ư nghĩa hơn cái đời sống ḿnh đă chọn lựa, chấp nhận và dấn thân.
Trước khi đối chiếu đời sống đan tu với XHCN, thiết tưởng chúng ta cũng nên xác định vị trí của đời sống đan tu trong xă hội hôm nay. Để khỏi phải lặp lại những ǵ đă nói về đời sống tu tŕ và đan tu, chúng ta hảy đọc lại lời tuyên bố của Công Đồng chung Vaticanô II nói về ư nghĩa và tầm quan trọng của đời sống tu tŕ: "Dân Chúa không đặt thành tŕ vĩnh viễn ở đời nầy, nhưng đi t́m một thành tŕ mai sau, nên bậc tu tŕ giải thoát người tu sĩ bớt những lo lắng trần tục, và biểu lộ cách hoàn hảo hơn cho mọi tín hữu thấy của cải trên trời đă có ngay dưới trần gian nầy và làm chứng rằng ơn cứu chuộc của Chúa Kitô đă đem một đời sống mới và vĩnh cửu, đồng thời tiên báo sự phục sinh tương lai và vinh quang Nước Trời. Hơn nữa, bậc sống tu tŕ bắt chước cách chính xác hơn và thực hiện trong Hội Thánh nếp sống của Con Thiên Chúa đă nhận khi Người xuống thế để thi hành thánh ư Chúa Cha và cũng là nếp sống Người đă đề ra cho các môn đệ theo Người. Sau cùng bậc sống tu tŕ đặc biệt cho chúng ta thấy Nước Thiên Chúa vượt trên mọi sự trần thế và những đ̣i hỏi của Nước ấy cao cả dường nào. Đời sống tu tŕ cũng cho mọi người thấy quyền lực cao trọng tuyệt vời của Chúa Kitô Vua và quyền năng vô cùng của Chúa Thánh Thần đang hoạt động một cách kỳ diệu ở trong Hội Thánh" (LG.44).
Như thế đời sống đan tu (tu tŕ) không phải là một tổ chức kinh doanh. Đan viện không phải là một xí nghiệp hoặc cơ sở làm ăn. Các đan sĩ không phải là những nhân công lao động phục vụ một tập thể nào đó [1]. Họ là những người có cùng một lư tưởng và cùng theo đuổi một mục đích: "Bắt chước chính xác hơn nếp sống của Chúa Kitô và thực hiện trong Hội Thánh ư Cha trên trời". Đó là điểm khác biệt căn bản giữa đời sống đan tu và chủ nghĩa xă hội. Theo gương Chúa Giêsu t́nh nguyện sống khó nghèo v́ Nước Trời. Đan sĩ thực sự yêu mến và chọn nếp sống khó nghèo nầy. Không ai bắt ép, kể cả Chúa Giêsu. Người chỉ mời gọi mà thôi. Người cũng không lừa đảo và quyến dũ ai chọn cưộc sống chung và khước từ của riêng nầy cả. Đó là sự khác biệt căn bản thứ hai: Sự tự do chọn lựa, sự tự do quyết định và tự do hành động. Đan sĩ tự do chấp nhận sống khó nghèo để được tự do thanh thoát đối với của cải trần gian và an tâm t́m kiếm của cải bất diệt trên trời theo gương Chúa Giêsu.
Sự khác biệt căn bản thứ ba đă được công đồng chung Vaticanô II nhắc tới trong Hiến Chế Giáo Hội: "Con người là tác gỉa, là tâm điểm và mục đích của tất cả đời sống kinh tế xă hội" (LG. 63). Để chung của cải với mục đích phục vụ cá nhân mỗi người chứ không phải để phục vụ một tập thể hữu danh vô thực. Nếu mỗi cá nhân đă khước từ sở hữu, th́ mỗi người cũng có quyền hưởng dùng theo nhu cầu của ḿnh. V́ thế việc để chung của cải chỉ là một phương tiện để phục vụ lợi ích thiêng liêng của mỗi cá nhân, chứ không phải là mục đích tối hậu (GLCG 1887).
Trong thực tế của đời sống đan sĩ, chính t́nh yêu và bác ái huynh đệ là động lực, là nguyên tắc chỉ đạo mọi hành động. Việc dâng hiến của mỗi người thúc bách bởi t́nh yêu Thiên Chúa và t́nh yêu tha nhân. Nếu mỗi cá nhân đă yêu mến t́nh nguyện khưóc từ của cải riêng - mà mọi người đều có quyền sở hữu - th́ Bề-trên và anh em khác cũng phải thể hiện một t́nh yêu tương xứng đối với cá nhân đan sĩ. Trao dâng và đón nhận là những tác động được thể hiện trong đan viện theo luật công bằng và nguyên tắc t́nh yêu. Đó là điểm khác biệt căn bản thứ tư. Tất cả do t́nh yêu thúc bách và quyết định.
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 26 tháng 12/2003 trang 85)