Đọc Hồi Kư CÂY ĐẠI THỤ TRẦN HỮU THANH
Nguyễn Đức Tuyên
Linh mục Trần Hữu Thanh sinh ngày 8 tháng 8 năm 1915 tại Phúc Lộc, một làng có một phần ba công giáo từ thời các thừa sai Ḍng Tên, gần La Vang hiện nay. Vào năm Ất Dậu 1885 cả vùng Quảng Trị đă bị Phong Trào Văn Thân khủng bố. Riêng họ đạo Phúc Lộc, lúc đầu tưởng chừng có 100 giáo dân bị giết hại, nhưng sau thống kê lại th́ có tới 250 người bị giết; cả giáo họ chỉ c̣n lại 50 người trong đó có bố mẹ cha Thanh và một số bà con nhờ sự che chở phần nào của bà con bên lương gồm hai phần ba số dân trong làng.
Cha Thanh kể truyện ngày xưa, mô tả nét sinh hoạt đạo đức ở quê ḿnh:
“Trong làng không ai văng tục bừa băi. Tôi c̣n nhớ một ông trong làng khi thấy mất một cụm măng ở gốc tre nhà ḿnh, ông đă xuất khẩu một tiếng “ĐM” cho hả giận. Lũ trẻ con chúng tôi cả lương cũng như giáo ngơ ngác nh́n nhau v́ lần đầu tiên được nghe tiếng lạ này”
Gia đ́nh linh mục Trần Hưũ Thanh có tới 3 người làm linh mục. Ngoài ngài ra c̣n 2 anh là linh mục Trần Hữu Quư và Trần Hữu Tôn.
Phúc Lộc là họ lẻ, mỗi năm được cha xứ tới dâng lễ vài lần, c̣n các ngày lễ khác đều phải về nhà thờ xứ. Cha Thanh kể lại kỷ niệm chị em đi lễ:
“Chị em tôi lên đường từ chiều hôm trước, đem theo một lon gạo và hai qủa trứng vịt. Đến nhà xứ, sau khi đă xưng tội, chầu Ḿnh Thánh Chúa th́ được ông bơ cho mượn một chiếc chiếu, chỉ định một góc trong nhà tăng, hai chị em thổi cơm ăn bữa tối, ngủ qua đêm đợi ngày hôm sau dự lễ rồi về.”
Lên bẩy tuổi ngài bắt đầu đi học tư gia vừa chữ nho vừa chữ quốc ngữ. Lên 10 tuổi đi tu thử, 15 tuổi mới chính thức nhập ḍng. Sau thời gian 6 năm ở Đệ Tử viện Huế, ngài vào Nhà Tập ở Hà Nội, sau 3 năm khấn tạm, bị hoăn hơn 2 năm không được khấn trọn với anh em. Năm 1942 chịu chức linh mục, trở lại Huế dạy Việt văn ở Đệ Tử viện. Việc đầu tiện ngài làm, như ngài kể lại, là “mở cửa luyện ngục” cho các đệ tử được đọc các sách văn chương, tiểu thuyết, từ trước được tập trung trong một pḥng cửa khóa. Những người cựu đệ tử thông minh và xuất sắc mà ngài c̣n nhớ là Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Quang Cẩn và Huỳnh Chấn Thinh.
Biến cố 1945 đem đến nhiều đổi thay cho đất nước và Giáo hội. Nhiều vấn đề chính trị, kinh tế, xă hội và triết học được đặt ra và là dịp để linh mục Thanh nghiên cứu, học hỏi và chính thời điểm này là lúc định hướng cho cả cuộc đời ngài.
Ngài kể lại lịch sử Liên đoàn Công Giáo Việt Nam trong đó có sự tham dự của ngài như sau:
“Trong dịp lễ tấn phong Giám Mục cho Đức Cha Lê Hữu Từ, Liên đoàn Công Giáo được thành lập mà người chủ xướng là ông Nguyễn Mạnh Ha. Liên đoàn có một bản điều lệ được đem vào Huế để xin Đức Khâm Mạng Drapier phê chuẩn. Đức Khâm Mạng không đồng ư phê duyệt. Ngài cho là bản điều lệ này không khác ǵ Công Giáo Cứu Quốc. Như vậy Liên đoàn Công Giáo chẳng lẽ là thành phần của phong trào Việt Minh sao. Ngài yêu cầu phải viết lại một bản điều lệ khác. Các đại biểu Liên đoàn Công giáo Bắc Trung Nam họp nhau ở Huế và làm việc trong một tuần. Khi xong bản điều lệ, ngài kư duyệt và tạm thời cho thi hành. Liên đoàn cử hai người ra Hà Nội xin Bộ Nội Vụ chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa chấp thuận. Hai đại biểu của Liên đoàn là ông kỹ sư Lê Văn Vịnh và cha Nguyễn Văn Thính DCCT. Cả hai vốn quen biết ông Bộ Trưởng Huỳnh Thúc Kháng. Trước đây cụ Huỳnh ở Huế, làm tờ “Tiếng Dân” cư ngụ gần nhà ông Vịnh. Đến Hà Nội vào lúc ông Bộ Trưởng đi vắng, người ta đề nghị với hai vị cứ quay về, cụ Huỳnh sẽ phê duyệt và gứi vào sau. Hai tuần sau, ở Huế, Liên đoàn nhận được bản của Bộ Nội Vụ có chữ kư của ông Bộ Trưởng Huỳnh Thúc Kháng, nhưng nội dung lại trở về gần giống Công Giáo Cứu Quốc chứ không phải như bản điều lệ đă được các đại biểu Liên đoàn Công Giáo soạn thảo ở Huế. Đức Khâm Mạng lại yêu cầu hai phái đoàn Huế và Hà Nội nghiên cứu lại.....”
“Việc tiếp theo phải làm là tổ chức một Trại trường huấn luyện các cán bộ ṇng cốt của Liên đoàn Công Giáo, ban soạn thảo điều lệ yêu cầu tôi đảm trách trại này. Trại sẽ dùng nhà nghỉ mát của các sư huynh La Salle ở Lăng Cô. Họ hứa là sẽ gửi các giảng viên đến, cá nhân tôi chỉ cần sẵn sàng thuyết tŕnh khoảng bốn đề tài là cùng. Trại gồm 70 trại sinh, phần nhiều là ở Huế bởi chưa liên lạc được với anh em ở Thanh Hóa và Vinh. Ở Vinh chỉ có anh Bùi Quang Nga ra vào liên lạc với Huế, nhưng không có mặt thường xuyên. Khóa huấn luyện được đặt tên là Trại trường Huấn luyện Liên đoàn Công Giáo Trung ương. Đa số các trại sinh đều đă theo học trường huấn luyện thanh niên ở Phan Thiết. Họ đă có kỹ thuật điều hành đoàn thể thanh niên, ḿnh chỉ cần cung ứng cho họ một lư tưởng, một tinh thần mới. Trong số các trại sinh có cả thầy cũ của tôi, thầy Nguyễn Thế Thoại, có lẽ là người cao tuổi nhất, bốn mươi mấy, c̣n tất cả khoảng ngoài ba mươi. Tôi dốc hết hầu bao với bốn bài thuyết tŕnh đầu tiên: Chính trị là ǵ. Xă hội học là ǵ. Mục đích của Xă hội học Công giáo....Buổi chiều lại ra ngóng phía nhà ga xem có giảng viên xuống chi viện không. Khi không thấy ai, lại về pḥng bật đèn soạn bốn bài mới cho ngày hôm sau đến ba bốn giờ sáng. Vắt óc ra chứ không có một trang tài liệu nào. Đến ngày thứ mười, phái đoàn Huế mới xuống Lăng Cô, có cha Nguyễn Văn Thính, ông Ngô Tử Hạ... th́ đă là lúc bế mạc trại. Đây là trại huấn luyện duy nhất của Liên đoàn Công Giáo với một giảng viên duy nhất. Bẩy mươi trại viên sau đó, một số bị bắt đưa ra Vinh, một số bị chết...”
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 26 tháng 12/2003 trang 72)