LIỄU SINH TỬ hay HIỂU THẤU  LẼ SỐNG –CHẾT
Lm Cao Phương Kỷ

 (tiếp theo số 22)

 

D/ Đóng Góp của “Tam Giáo: Phật, Khổng, Lăo”

    Ngày nay, các nhà khảo cổ và nghiên cứu văn học Đông Nam Á đă khám phá ra nền văn minh cựu trào của dân Lạc Việt, chuyên sống về nghề Lúa-Nước. Những quan niệm về Âm -Dương Điều Ḥa, về Tương Quan Tam Tài “Thiên-Địa-Nhân ”, đă ăn rễ sâu vào tiềm thức dân chúng, dùng làm qui tắc hướng dẫn đời sống tâm linh, và tổ chức  xă hội. Du nhập từ ngoại bang như  Khổng học, Lăo Học về phía Bắc, Trung Hoa, và  Phật Học từ phía Tây (Tây Trúc, Ấn Độ), dân Việt vốn có tinh thần khai phóng đă đón tiếp những trào lưu tư tưởng ngoại lai đó, nhưng đồng thời cũng t́m cách bản địa hóa, biến đổi  để  dung ḥa với nền Minh Triết cố cựu của ḿnh.

    Do qui luật thích nghi đó, các triết thuyết ngoại lai bắt buộc phải được thanh lọc để hội nhập vào nền văn hóa bản địa. Chẳng hạn, như  tư tưởng “Phật Học Nguyên Thủy” từ An Độ, Tích Lan, đă chia ra  hai ngành chính: Tiểu Thừa, và Đại Thừa. Từ Đại Thừa phân ra môn phái Bắc Tông và Nam Tông hay Không Tông. Do đó, trong phái Không Tông, th́ Thiền học ở Trung hoa, Nhật Bản, đă khác với Thiền Học Việt Nam tức môn phái Thảo Đường đời vua Lư Thánh Tôn (1054-1072), đặc biệt trong vấn đề liên quan đến đề tài này “Liễu Sinh Tử”, thấu hiểu lẽ Sống-Chết. Đây cũng là bằng chứng hùng hồn về tinh thần độc lập và khai phóng của dân Việt. Nhà vua và các thiền sư, nho sĩ, đạo sĩ không hài ḷng về cách giải đáp thắc mắc “Liễu Sinh Tử” của Phật Học thời đó, nên đă t́m cách dung ḥa với nền Minh triết của dân Việt: “Âm-Dương, và Tương Quan Tam Tài ”, tạo thành một tổng hợp mà biểu tượng là Chùa Diên Hựu (quen gọi Chùa Một Cột), và h́nh ảnh Hoa Sen như sẽ tŕnh bày dưới đây:

    Theo văn học sử, nước ta vào thời đại “Lư-Trần”, các vị thiền sư như Cứu Chỉ, Huệ Sinh, và vua Lư Thánh Tôn... rất ưu tư và muốn t́m hiểu thấu đáo những thắc mắc trọng đại của con người và đời người như: bởi đâu mà sinh ra, chết rồi đi về đâu? Các thiền sư  tinh thông về Khổng học và Lăo học, và cũng là những nhà chính trị, nhà quân sự tài ba. Ngoài Nho Học, triều đ́nh đă mở thêm khoa thi “Tam giáo”, tổng hợp triết thuyết của Khổng, Lăo,  Phật  để bổ túc cho nhau, và để dung ḥa với niềm tin chung của dân Việt, đặc biệt  về vấn đề Sống-Chết.  Nếu xét riêng ra, ba triết lư đó có nhiều quan niệm mâu thuẫn, chống đối nhau: Tống nho chủ trương “nhập thế” chuyên lo tổ chức trật tự, kỉ cương trong xă hội, nên chống lại Phật giáo và Lăo giáo chủ trương “xuất thế ”, xa lánh cuộc đời, t́m  nơi thanh tịnh, thiên nhiên, vắng vẻ để tu luyện cho ḿnh. 

    1/ Theo Triết Học Sử Trung Quốc,  Đức Khổng Tử  là  người san định Kinh Thi và Tứ Thư , Ngũ Kinh đă ghi chép:  từ thời thượng cổ, người dân Trung Hoa vẫn tin ở Vị Thiên, hay Thượng Đế..., và  thờ kính Tổ Tiên. Theo học giả Trần Trọng Kim, Khổng Giáo dạy rằng: “‘Sống là gửi vậy, chết là về vậy’ (Sinh kư giă, tử qui giă). Chết là cái tinh thần về Trời ”...“ Trời sinh ra người, người lại cố gắng theo cho được hoàn toàn như Trời vậy…Vui theo đạo Trời và biết Mệnh Trời cho nên không lo (về lẽ sống chết); tuỳ chỗ ở mà an vui và đôn đốc làm điều nhân, cho nên có ḷng ái (Lạc Thiên tri Mệnh, cố bất ưu, an thổ đôn hồ nhân, cố năng ái” (coi Nho Giáo, quyển I, Sự Sinh Tử, trang 91-94).     

    2.Triết Học Sử Ấn Độ chia các môn phái triết lư ra làm hai khuynh hướng chính: một là những trường phái theo các Kinh Vedas (dịch là Về Đà hay Phệ Đà), hai là những môn phái chống lại “Về Đà”. Học thuyết của Đức Thích Ca thuộc môn phái chống lại thẩm quyền của Kinh Vedas. (Bộ Kinh Vedas 1000-500 B.C, ghi chép những tri thức truyền thống, di sản tôn giáo của dân Ấn). Học giả Nguyễn Hiến Lê, trong sách: “Lịch Sử Văn Minh Ấn Độ”, (trang 121-123) b́nh phẩm về quan niệm của Đức Phật liên hệ đến “lẽ Sống –Chết” như sau: “Ngài không đả đảo tục cúng thần trong dân chúng. Nhưng Ngài mỉm cười khi nghĩ rằng người ta sao có thể dâng lời cầu nguyện lên một đấng Bất-Khả-Tri. Ngài không nhận có thiên đường có địa ngục. Ngài cảm thấy rất rơ ràng rằng: con người đau khổ và chết là do những luật sinh hóa tự nhiên, chứ không phải do ư chí của một vị thần linh. Ngài tuyệt nhiên không chấp nhận thuyết linh hồn, ngay đến con người cũng không có linh hồn. Các vị thánh, ngay Phật nữa, chết rồi cũng là hết. .Nhưng nếu vậy th́ làm sao giảng được sự tái sinh? Nếu không có linh hồn th́ cái ǵ đầu thai để trả lại nghiệp trong kiếp trước? …Luôn luôn Ngài cho cái Bánh xe Luân Hồi và luật Karma (Nghiệp báo) là đúng: Ngài chỉ nghĩ tới cách thoát ra khỏi ṿng luân hồi và thực hiện được ở trên kiếp trần này cảnh Niết Bàn, rồi tới sự huỷ diệt hoàn toàn...  

    3.Vào thời đại Lư-Trần ở nước ta, bên Trung Quốc có Tống Nho với phái Lư Học (hay Đạo học) của Chu Hi (1130-1200), và phái Tâm Học   của Lục Cửu Uyên (1139-1192), và Vương Thủ Nhân tức Vương Dương Minh (1472-1528). Phái Nho Học này  ảnh hưởng mạnh trên tư tưởng của giới sĩ phu nước ta. Những ư niệm siêu h́nh về vũ trụ quan, nhân sinh quan, về “lẽ Sống –Chết”, trong Lư học và Tâm Học là những quan niệm trừu tượng, những phạm trù triết lư chỉ dành riêng cho giới nho sĩ đạo sĩ như: Dịch, Khí, Lư, Thái Cực, Vô Cực, Đạo, Vô, Vô Danh, Vô vi...

    Phật giáo du nhập vào Việt Nam bằng hai ngả: do các vị thiền sư từ Trung hoa sang truyền đạo, hoặc đến trực tiếp từ Ấn Độ, theo đường biển. Vào thời Đinh, Lê, Lư, Trần, ngoài Nho giáo và Lăo giáo, th́ Phật giáo cũng thịnh hành trong nước. Đây là Phật giáo Đại Thặng (Đại Thừa), thuộc Nam Tông hay Không Tông do Lục tổ Huệ Năng. Kết hợp với những tư tưởng siêu h́nh của Lư Học, Tâm Học, và đặc biệt Lăo Học, nên Thiền học Không Tông thường thích dùng chung những danh từ trừu tượng trong Lăo-Trang như: “Vô”, “Tính Không”, “Không Hư” (Sunyata), “Vô Danh”, “Vô Vi”, để diễn giảng về Thực tại Tuyệt đối của vũ trụ, về Chân Như Phật tính, về cứu cánh của cuộc đời, về “lẽ Sống-Chết”, về Thượng Đế, về Linh Hồn. Những  ư niệm bí hiểm khó hiểu đó chỉ được tâm truyền “dĩ tâm truyền tâm”, nghĩa là nhờ vị sư phụ chỉ bảo (coi: tên thiền sư Cứu Chỉ , có nghĩa: cứu xét lời chỉ bảo của ông thày)  riêng cho từng đồ đệ, tránh dùng ngôn ngữ, văn tự, không dùng cách lư luận, nhưng bằng một phương pháp tu tập thiền định gọi là “Công án” (koan). Đó là những vấn nạn có vẻ nghịch lư,  không  dùng lư luận thông thường để giải đáp được, nhưng cần trực giác,  kinh nghiệm sống hiện thực trực tiếp với thể tính đồng nhất của vũ trụ, với cái “Duy Nhất Sáng Tạo” (l’Unité Créatrice) của vũ trụ nhân sinh, nên không c̣n phân biệt Ta (Ngă) và vật, không có chủ thể (subject) và đối tượng (object), không chia bên trong, bên ngoài, Luân Hồi cũng là Niết Bàn, không phân biệt Sống với Chết. Vạn sự vạn vật, kể cả nhân loại đều ở trong ṿng Không Hư Tuyệt đối (Absolute Nothingness). Con người không tự tách ḿnh ra khỏi bản tính đồng nhất của vũ trụ, v́ tất cả vũ trụ là bản thân ḿnh. Do đó, theo các thiền sư, muốn không ưu tư về cái chết, cần phải vượt lên trên tất cả những phân chia, mâu thuẫn giữa Sinh, Lăo, Bệnh, Tử trên b́nh diện tương đối, để đạt tới cái Tâm Diệu Giác vô sinh vô tử. Sinh Tử là lẽ tất nhiên, đă tất nhiên th́ c̣n ưu tư lo lắng làm ǵ? Cứ “Tự nhiên nhi nhiên ”.

 B. Môn phái “Thảo Đường”, Chùa Một Cột và Bông Sen.

    Vua Lư Thánh Tôn (1054-72) dựng lên môn Thiền học Việt Nam là phái Thảo Đường, ở Kinh Đô Thăng Long Chùa Khai Quốc. Ta sẽ t́m hiểu khuynh hướng của môn phái mới này là ǵ? Tại sao đặt tên là Thảo Đường ? Môn phái mới này có đáp lại nhu cầu tâm linh của dân Việt, có giải đáp được mối lo lắng về “Liễu Sinh Tử” không? Thời bấy giờ đă có hai môn phái Thiền học là T́ Ni Đa Lưu Chi và Bích Quán Vô Ngôn Thông. Nhưng nhà vua không măn nguyện với các môn phái đó, v́ không giải đáp một cách thỏa đáng về ư nghĩa cuộc đời, về lẽ sống-chết, không ḥa đồng, thích nghi với những tín ngưỡng bản địa cổ truyền như  tục thờ Trời và thờ kính Tổ Tiên, đặt  nền tảng trên Minh Triết Âm-Dương và Tương Quan Tam Tài: Thiên-Nhân-Địa.

 

 1/ Môn Phái Thảo Đường

    Thảo Đường là ai? Theo nhiều nguồn tài liệu lịch sử giá trị cho biết như: “Việt Sử Lược”, “An Nam Chí Lược” của Lê Tắc, sách “Lư Thường Kiệt”của Hoàng Xuân Hăn, “Việt Nam Phật Giáo Sử Lược” của Mật Thể, “Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục”, “Đại Việt Sử Kư Toàn Thư” của Ngô Sĩ Liên . Vua Lư Thánh Tông là vị vua đầy  ḷng nhân ái thương dân như con ruột ḿnh, đối xử nhân đạo với tù nhân. Vua cũng có tài thao lược, đă thắng nhiều trận đánh với quân Chiêm Thành, là lân bang, nhưng hay quấy nhiễu nước ta. Một lần chiến thắng quân Chiêm Thành, nhà vua bắt được một số tù binh và giao một tù nhân cho vị Tăng Lục làm nô bộc. Hôm chủ nhà đi vắng, tên nô bộc đă lấy tập Ngũ Lục của chủ đă viết ra đọc trộm và sửa chữa. Khi về, chủ hết sức ngạc nhiên và tâu việc đó lên vua. Điều tra lư lịch th́ biết: đó là một thiền sư, tên Thảo Đường, từ Trung Hoa đến ngụ cư ở đất Chiêm Thành . Vua ban tặng cho  chức Quốc Sư hay Giáo chủ toàn quốc, v́ biết ông thông thạo các môn phái Thiền Nam Tông (Không Tông), và đă nghiên cứu lâu năm về tôn giáo của dân Chiêm Thành, gồm có Bà La Môn   (Brahmane), Phật Giáo Ấn Độ, Ấn Độ Giáo (Hinduism), và Hồi giáo (Islamism). Từ lâu Vua Lư Thánh Tôn đă không măn nguyện với các môn phái Thiền thời bấy giờ, v́ những tư tưởng trừu tượng, bí hiểm khó hiểu, và v́ cách thức diễn giảng theo lối “tâm truyền”, chỉ dạy riêng cho một số đồ đệ, nên không phổ biến được nơi đại đa số dân  Việt vẫn thực hành những tín ngưỡng cổ truyền như: thờ Trời, Hồn thiêng bất tử, thờ kính Tổ Tiên, và các anh hùng liệt nữ… Bởi vậy, khi thiền sư Thảo Đường được nhà vua tín nhiệm, và đặt làm Quốc Sư, Giáo Chủ, th́ ông đă giáo hóa dân chúng theo Môn Phái mới, tức Thảo Đường của Việt Nam, dung ḥa và tổng hợp được tinh hoa của Tam Giáo (Phật, Lăo, Khổng), Minh Triết Âm-Dương, Tương Quan Tam Tài, và tôn giáo hữu thần của Ấn Độ. Học giả “Nguyễn Đăng Thục, trong sách: “Thiền Học Việt Nam” (Lá Bối, trang 428) đă b́nh luận về môn phái Thảo Đường như sau: “Chẳng biết nhân vật Thảo Đường có thật không, hay chỉ là cái tên đặt cho một môn phái Thiền học sáng lập ở Việt Nam để thỏa măn sự đ̣i hỏi của nhà vua cũng như Sĩ phu và Thứ dân lúc bấy giờ đang phát triển về ư thức dân tộc muốn độc lập tự cường, chống  cả với nhà Tống ở phía Bắc, Nguyên  Đại Lịch ở phía Tây, và Chiêm Thành ở phía Nam?

    Lịch sử dân Chămpa (Chăm, hay Chàm, cũng đọc là Chiêm Thành hay Chiêm), bắt đầu vào khoảng thế kỉ III sau Thiên Chúa Giáo (A.D). Dân Chàm đă Ấn Độ hóa từ lâu đời. Họ theo nhiều đạo như: Phật Giáo, Ba La Môn Giáo (Brahmanism), Ấn Độ Giáo (Hinduism) và Hồi Giáo (Islamism). Nhưng  đạo Ba La Môn đóng vai tṛ quan trọng nhất trong nước Chiêm Thành. Trong đạo Ba La Môn , dựa trên giáo thuyết hữu thần  của Kinh Vedas, th́ tín hữu tin Bộ Ba Thần gọi là Trimurti: gồm có Brahma (dịch là Phạm Thiên)  nguồn gốc sáng tạo nên vũ trụ. Vị thần Vishnu là năng lực bảo tồn thế giới sự vật, tương tự như “Bà Thiện ”.  Vị Thần Shiva năng lực hủy diệt , tượng trưng cho sự tàn phá “Ông Ác”. Đạo Ba La Môn dựa trên Kinh Vedas, và Upanishad đă xuất hiện lâu đời trước khi Đức Thích Ca lập ra Phật Học. Đạo Ba La Môn  cũng chủ trương quan niệm về “Samsara ” (Luân Hồi), “Karma ” (Nghiệp) và “Moksha ” (Giải Thoát). Sau này, Đức Phật cũng theo những quan niệm này, nhưng từ chối sự tồn hữu vĩnh hằng của “Atman” (Hồn).  

    Ngoài ra, Ấn Độ giáo cũng tin có Atman (Tiểu Hồn, hay Tiểu Ngă), là phần tinh anh linh diệu nhất của mỗi người, vẫn  tồn tại sau khi phần xác bị tan ră . Brahman (Đại Hồn hay Đại Ngă) là Thực Thể Tuyệt Đối (Absolute Being) là Hồn  của cả vũ trụ. Brahman-Atman   kết hợp với nhau, là một và không chia ĺa nhau (one and indivisible).

    Theo các nhà khảo cổ như: René Grousset, (sách”Histoire de L’Extrême Orient”, trang 551) vua Chiêm Thành tên Indra Varman II, năm 875 ở Đông Dương, Quảng Nam, xây ngôi chùa Phật thờ Bồ Tát Quan Âm . Ngày nay c̣n di tích của dân Chàm thờ Bà Quốc Mẫu là Po Yan Ina Nưgar ở tháp Bà, Nha Trang. Nhiều tượng thờ thần Shiva (Siva), với biểu tượng “Linga ”, có nghĩa là sinh thực khí nam (Dương tính), và “yoni ”, biểu tượng Âm tính. Cặp Linga-Yoni, (Dương-Âm) là h́nh ảnh tượng trưng của dân nông nghiệp diễn tả nguyện vọng mong được mùa màng phồn thịnh. Đây không phải là tục thờ “dâm vật” .

 

 2. Chùa Một Cột, và Bông Hoa Sen

    Vua Lư Thánh Tôn nhận thấy nhiều điểm tương đồng giữa tôn giáo và văn hóa Chàm và tín ngưỡng cổ truyền , nên muốn thâu nhập vào văn hóa Việt. Do đó, nhà vua đă sáng lập môn phái Thảo Đường và xây chùa Diên Hựu, gọi là Chùa Một Cột , một kiến trúc độc đáo, biểu dương tinh thần ḥa hợp Tam Giáo, Ấn Độ giáo, và Minh Triết Âm-Dương, Tương Quan Tam Tài. Sau đây là gốc tích xây Chùa Một Cột:

    Theo “Việt Sử Lược” và “Sử Kí Toàn Thư”: Năm 1049 dựng chùa Diên Hựu tức chùa Một Cột. Vua Lư Thánh Tôn tuổi đă cao mà chưa có con để nối nghiệp, đêm nằm mộng thấy “Phật Bà Quan Âm”ngồi trên đài hoa sen , dẫn vua lên Đài và ẵm tiên đồng ban cho. Tỉnh mộng vua sai xây chùa để  thờ Quan Âm Bồ Tát , đổi niên hiệu là Diên Hựu (lâu bền). Năm sau sinh hạ hoàng tử.
  
    B́nh luận về ư nghĩa triết lư và nghệ thuật Chúa Một Cột, học giả Nguyễn Đăng Thục, trong “Thiền Học Việt Nam” (trang 467-8): “Nh́n kỹ lại ngôi Chùa Một Cột, chúng ta cũng nhận ra cái Cột đá giữa cái hồ nướ
c vuông, là phỏng theo h́nh ảnh Lingam-Yoni, nhưng ở một h́nh thức kín đáo không lộ liễu nhờ ở cái mái Chùa xinh nhỏ, khiến người ta liên tưởng đến bông hoa sen nở trên mặt  nước hơn là cặp Lingam-Yoni (Âm-Dương)...”  Thật vậy, xây dựng Chùa một Cột, vua Lư Thánh Tông đă tổng hợp được Minh triết Âm-Dương (Nam-Nữ, Kiền–Khôn, Thiên-Địa), và nguyên lư Mẫu của dân Việt với văn hóa Ấn Độ qua cặp Lingam-Yoni, Vishnu-Shiva, và nguyên lư Mẫu Thiên  Y A Na của Chiêm Thành.

    Bông Sen tượng trưng cho Triết lư Tam Tài: Thiên-Nhân-Địa. Cây Trúc “Tiết trực tâm hư” (đốt thẳng, ruột rỗng), chỉ người quân tử có tâm hồn “tiết tháo vô tư”, thẳng thắn không ham danh lợi, trong Nho giáo,và Lăo giáo. Cây Tùng, cây Thông sống giữa thiên nhiên giá lạnh mùa đông mà vẫn xanh tươi, chỉ sức chịu đựng, bền chí. Bông Sen “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, chỉ ư nghĩa  tâm linh hướng thượng lên cơi Siêu Việt, tức Tương Quan Tam Tài: Thiên-Nhân-Địa. Ca Dao có bài Vịnh Hoa Sen:
 

Trong đầm ǵ đẹp bằng Sen
Lá xanh bông trắng lại xen nhụy vàng
Nhụy vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

 

    Để tạm kết luận, chúng ta đều biết: con người và con vật con voi, cái kiến... ai cũng sợ chết cả! Nhưng chỉ con người “Linh ư vạn vật” mới ư thức về chính số phận cao quí của ḿnh và c̣n hy vọng bắt đầu cuộc hành tŕnh tiến về Vĩnh Hằng, sau cuộc đời chóng qua mau hết này. Kẻ vô thần, vô tín ngưỡng mới là kẻ đau khổ,và tuyệt vọng, v́ tự ư hạn định lư tưởng sống: Chết là HẾT!

 

Trở lại Trang Nhà: