ĐÔI MẮT DƠI THEO

 

Nguyễn Đức Tuyên

 

    Ở đời có những chuyện đến với ta trong một thời gian khá lâu nhưng rồi ta quên bẵng mà không nhớ lại trong kư ức. Trái lại, có những việc chợt đến trong khoảnh khắc mà lại ghi trong tâm khảm ta lâu dài. Vào năm 1999, khi về thăm Việt Nam, có một câu chuyện đến với tôi một cách vô t́nh, vậy mà bây giờ, lâu lâu những h́nh ảnh, những tiếng nói đó lại ẩn hiện trong tâm trí tôi, làm cho lương tâm tôi cảm thấy có một cái ǵ thiếu sót và xin kể lại cho bạn nghe.

 

    Tôi nhớ hôm đó là cuối tháng 2 năm 1999, chúng tôi từ Nam Định dự định đi Phát Diệm. Nhưng khi tới cầu Lạc Quần, lúc đó c̣n là cầu phao, th́ xe chúng tôi bị trục trặc, sàn xe đụng phải mặt cầu gây nên một tiếng động mạnh, xe chao đảo và đi chậm lại. Kiểm soát xe, tài xế cho hay cản ống nhún xe bị cong, anh ta cố sửa để đi đỡ và đề nghị trở về Hà Nội thay v́ đi Phát Diệm. Tôi nghĩ, nếu về Hà Nội phải mất thêm một ngày nữa và hỏi anh nếu đi chậm có thể tới Phát Diệm được không, anh trả lời đi được và chúng tôi phải đi chậm. Khi tới đầu tỉnh Ninh B́nh th́ trời đă tối mịt nên chúng tôi phải nghỉ lại ở khách sạn ngay ngă ba quốc lộ 1 và đường vào Phát Diệm c̣n 20 km nữa.

 

    Sáng hôm sau, tôi thức sớm khi trời c̣n tinh sương, trời rét căm căm, cái lạnh rất là miền Bắc, chỉ những ai đă ở Bắc trong buổi thiếu thời mới cảm nghiệm trọn vẹn cái lạnh đó. Tôi nhớ tới chiếc ổ rơm ở nhà tôi 50 năm về trước. Trời sương mù dầy đặc, che phủ cả một vùng rừng núi xanh thẳm bao quanh. Cảnh vật cô quạnh, phố xá thưa thớt, lề đường có một đặc điểm là cao thập tùy theo từng nhà, làm cho người bộ hành phải cẩn thận.

 

    Tôi rời khách sạn bên đường, đi chừng 50 mét, đến một trạm bưu điện để điện thoại về Hoa Kỳ. Trạm bưu điện là một căn nhà mỗi chiều chừng 4 mét, chỉ có một cái bàn xiêu vẹo với một đường dây điện thoại, ít bao thơ và tem. Bên trong là một phụ nữ khoảng trên 40 tuổi, ăn mặc sơ sài, áo chemi mầu xanh xám, quần đen, khuôn mặt xanh xao, đôi mắt lờ đờ, tóc rối, dáng vẻ mỏi mệt. Thật t́nh, khó mà đoán được tuổi của chị cũng như các phụ nữ ở Việt Nam hiện nay. Sự khổ hạnh và sự chịu đựng làm cho phụ nữ già trước tuổi là sự b́nh thường ở một nước nghèo nàn khốn khổ như Việt Nam. Người ta kể lại, có một ông nọ, ở một làng quê, năm 1954 ra đi bỏ lại người t́nh lúc đó mới 15 tuổi. Trong ḷng ông vẫn nhớ tới cái “thuở ban đầu lưu luyến ấy” và vẫn canh cánh bên ḷng t́m lại người xưa ít nhất một lần. Khoảng năm 1985, ông về làng, tâm tư c̣n thổn thức. Về tới làng, cố gắng nhớ lại từng ngơ ngách dẫn tới “mái nhà xưa.” Ông găp một cụ già, tóc bạc, da nhăn nheo, đi khom khom, lưng c̣ng, trong bộ quần áo nâu bạc mầu. Sau khi chào hỏi, ông lên tiếng hỏi thăm tên người con gái trong xóm cũ. Cụ già nh́n ông rồi chậm răi trả lời: “cô đó chính là tôi đây.”

 

    Sau khi hỏi thể thức điện thoại về Hoa Kỳ, người phụ nữ uể oải trao điện thoại cho tôi, mắt lơ là mệt mỏi. Tôi cố gắng liên lạc nhiều lần, mất tới gần nửa tiếng đồng hồ nhưng không sao gọi được hoặc là v́ đường dây viễn liên mắc bận hoặc là v́ hệ thống điện thoại quá lạc hậu.

 

    Tôi đang định rời trạm bưu điện th́ từ phía xa, trong khu nhà xiêu vẹo bên trong xóm, một em bé chừng 5 tuổi thất thểu đi tới. Em mặc một bộ quần áo “cháo ḷng”, nhưng dường như bộ quần áo đă quá nhỏ so với thân h́nh của em, nên cúc áo không c̣n cài được nữa, để trơ cái bụng tong teo. Em đi chân đất, quần ống thấp ống cao. Em đang khóc với khuôn mặt xanh xao thật đáng thương. Em bước vào trạm bưu điện và khóc thảm thiết: “Mẹ ơi, con đói, Mẹ ơi, con đói quá!” Người phụ nữ coi trạm bưu điện, mẹ của em bé đáng thương, với dáng vẻ nhẫn nhục, chỉ dỗ con bằng cách ôm con, mà không nói lời nào. Mắt chị xa xôi trống vắng. Tôi chắc cái cảnh buồn này chị đă gặp hàng ngày, nó đă trở thành cơn ác mộng thường xuyên, không có con đường sáng sủa trước mặt, không có lối thoát. Em bé tiếp tục khóc, không lấy ǵ làm thảm thiết, nhưng như đang chịu đựng một cơn đói kinh niên, ngày nào, giờ nào cũng sảy ra, nó cào cấu, bào nạo gan ruột, mà chỉ có miếng ǵ bỏ vào bụng mới nguôi đi. Tôi nghĩ em khổ lắm và người mẹ cũng khổ lắm. Nhưng đâu có phương thế nào, ngoài những tiếng thở dài và sự nhẫn nhục chịu đựng. Tôi chợt nhớ tới giáo sư Choan Seng Song, một thần học gia nổi tiếng, trong cuốn sách Theology from the Womb of Asia, có đề cập đến hoàn cảnh Á Châu mà ông gọi là nền “văn hóa khổ đau” (culture of suffering), nơi đó, ông “đă đọc cho ra tính chất bí tích của một bát cơm...”.

 

    Tôi rời trạm bưu điện với h́nh ảnh bi thương của đứa bé ốm tong teo, nét mặt phảng phất dễ thương nhưng rất tội nghiệp, miệng vẫn c̣n kêu:”Mẹ ơi, con đói. Mẹ ơi, con đói quá!” Tôi đă không làm ǵ cả, cho dù chỉ đưa cho mẹ em bé đó lấy một đô la.

Trong chuyến về Việt Nam năm 1999, tôi đă làm được một số việc bác ái. Nhưng cho đến nay, tôi vẫn bị ám ảnh bởi cái h́nh ảnh đứa nhỏ kêu đói mà sao tôi nỡ làm ngơ. Chuyến về Việt Nam năm 2002, tôi nguyện ước, khi đi Phát Diệm, tôi phải ghé qua cái trạm bưu điện ba năm trước, t́m cho ra em bé, trao cho em một chút quà. Nhưng rồi tôi không đi Phát Diệm được.

 

    Cho đến hôm nay, lâu lâu, cứ vào buổi sáng tinh sương, khi tôi vừa thức dậy, th́ khuôn mặt em bé tội nghiệp lại hiện lên với lời nói c̣n văng vẳng bên tai tôi: “Mẹ ơi, con đói. Mẹ ơi, con đói quá!” và rồi đôi mắt thật buồn thật tội nghiệp của em lại dơi theo tôi cùng với h́nh ảnh người phụ nữ nhẫn nhục ôm con vào ḷng.

 

    Tôi nhớ tới cảnh thức ăn dư thừa mà các học sinh trong trường tôi dạy học trước đây đổ vào thùng rác mỗi ngày. Có những em, sau khi lấy xong cả một đĩa thịt cá, rau cải, rồi lặng lẽ đổ xuống thùng rác. Tôi nhớ, mỗi buổi trưa, một bà Teacher Aide, đi một ṿng trên bàn ăn, cũng lượm được mấy chục trái chuối các học sinh vất bỏ trên bàn ăn. Tôi nhớ tới mỗi ngày, một em bé ở đây cũng liệng đi năm ba tờ giấy trắng. Cũng là con người, sống trong một trái đất, được gọi là căn nhà của nhân loại, mà sao dân ta khổ cực như vậy. Ấy vậy mà những kẻ có quyền ở Việt Nam c̣n gia công làm khổ dân!

 

    Cho đến hôm nay, khu phố ngoại ô Ninh B́nh vẫn c̣n ẩn hiện trước mắt tôi cùng với cái trạm bưu điện xơ xác và hai mẹ con đứa nhỏ khốn khó, trong cơn gió lạnh thấu xương cùng dáng vẻ run rẩy của đứa bé chừng 5 tuổi miệng kêu đói. Tôi vẫn c̣n bị ám ảnh bởi đôi mắt của em bé năm xưa, đôi mắt vừa ngây thơ vừa tội nghiệp. Cho đến bây giờ đôi mắt đó đă trở thành Đôi Mắt Dơi Theo tôi không biết cho đến bao giờ.

    Bạn thân mến, có bao giờ bạn thấy con cái bạn, cháu chắt bạn quá dư thừa ở xă hội này hay không. Chỉ những tờ giấy chúng vất đi trong một ngày, chỉ những đồng 25 cents chúng bỏ ra chơi game cũng đủ nuôi một đứa bé khốn khổ ở Việt Nam trong một ngày. Bạn ơi, có bao giờ bạn rơi vào hoàn cảnh hối hận v́ đă bỏ lỡ một cơ hội giúp người - dù chỉ là giúp được một lần -  như tôi không. Cho đến bao giờ, Đôi Mắt Dơi Theo sẽ rời xa tôi.

Trở lại Trang Nhà: