Để Hiểu Rơ Thực Chất SẮC LỆNH VỀ TÔN GIÁO của HỒ CHÍ MINH năm 1955

đọc lại VIỆT NAM GIÁO SỬ của LM PHAN PHÁT HUỒN

 

LTS. Trước chủ trương đánh bóng lại cái gọi là Sắc Lệnh về Tôn Giáo của Hồ Chí Minh ban hành từ năm 1955 cùng với chiến dịch tung hứng để tạo điều kiện thuận lợi cho chế độ độc tài toàn trị CSVN đưa nội dung sắc lệnh này vào văn kiện mới mệnh danh Pháp Lệnh về Tôn Giáo để lừa bịp dư luận, bà con trong nước đang chuyền tay nhau đọc lại đoạn nói về Sắc Lệnh kể trên trong tác phẩm biên khảo Việt Nam Giáo Sử của linh mục Phan Phát Huồn ḍng Chúa Cứu Thế. Để bà con độc giả dễ theo dơi vụ này, Diễn Đàn xin trích đăng lại tài liệu vừa nói.

 

Sắc Lệnh Tôn Giáo

 (tiếp theo số 22)

 

4- TRƯỜNG TƯ THỤC CÔNG GIÁO Ở BẮC VIỆT

 Trong Sắc lệnh tôn giáo, chương II bàn về trường học. Điều khoản 9 viết: “Các tôn giáo được mở trường tư, các trường tư thục phải dạy theo chương tŕnh của chính phủ, có thể dạy thêm giáo lư cho những học sinh nào muốn học”. Nhưng tuyên bố là một chuyện và áp dụng là một chuyện khác. Vấn đề trường Dũng Lạc đă làm cho dư luận Công giáo Hà thành sôi sục.

 

Trường Dũng Lạc là một trường tư thục Công giáo ở sát cạnh Nhà Thờ lớn do cha chính Nguyễn Văn Vinh làm hiệu trưởng.

 

Đầu niên khóa 55-56, học sinh xin vào học rất đông, học sinh Công giáo chỉ chiếm một phần mười tổng số. Nhiều người khấp khởi mừng. Có ngờ đâu Việt cộng mưu mô đưa nhiều học sinh ngoài đạo vào để một ngày kia họ có thể tuyên bố trắng trợn rằng: Tuy trường này là trường tư thục, nhưng bây giờ đă thành trường công v́ lư do số học sinh bên lương nhiều hơn. Cái ngày họ tuyên bố như vậy là ngày họ truất ảnh Chuộc tội ở lớp học xuống đem đi chỗ khác và đem ảnh Hồ Chí Minh vào chính chỗ treo ảnh Chuộc tội.

 

Cha hiệu trưởng đă hết sức phản đối. Và để cho có tiếng vang, một kháng thư đă được đọc trong tất cả các nhà thờ của thành phố Hà Nội.  Việc này đă gây nhiều phản ứng của giới Công giáo. Cán bộ liền đi phổ biến khắp nơi: “Ông cha Vinh là người do đế quốc gài lại để xuyên tạc, làm cho nhân dân hiểu lầm rằng Chính phủ cấm đạo”.

 

Sau khi công bố bức thư phản đối, cha hiệu trưởng cương quyết không sang nhà trường và một số học sinh cả lương lẫn giáo nhất định không đi học cho đến khi bộ Giáo dục giải quyết xong. Nhưng bộ trả lời: “Đây là việc cá nhân của trường Dũng Lạc, các người trực tiếp có trách nhiệm hăy giải quyết lấy”, đồng thời bộ mật báo các trường khác, cấm không cho trường nào nhận cựu học sinh của trường Dũng Lạc.

 

Phải chăng các trường tư thục đă đến ngày cáo chung? Giữa thanh thiên bạch nhật của chốn thủ đô, họ đă nắm được trường Dũng Lạc..., c̣n phải nói ǵ đến những trường ngắc ngoải bên sau lũy tre xanh của các làng mạc xa xôi.

 

5- QUỲNH LƯU ĐẪM MÁU (chúng tôi xin lược bỏ đoạn này, thiết nghĩ v́ ít liên hệ ).

 

6- T̀NH H̀NH TỔNG QUÁT GIÁO HỘI MIỀN BẮC 1954-1960

 

(Đầu năm 1960, ở Bắc Việt chỉ c̣n một thiểu số linh mục ngoại quốc, lối 20 vị. Họ ở trong những xứ đạo hẻo lánh nơi đồng ruộng hay nơi rừng núi hiểm trở, và các ngài đă muốn như vậy, đang lúc chính quyền Cộng sản củng cố chính thể. Tản mác trong một khu vực rộng lớn, luôn luôn bị theo dơi, ḍm xét và chỉ được hưởng một chút tự do có hạn định trong khuôn khổ nhà xứ, các linh mục ấy có thể làm ǵ nguy hại cho chính thể “dân chủ cộng ḥa”? Vui ḷng lănh nhận hết mọi giới hạn và mọi thiếu thốn về vật chất, chỉ ước mong có một mức độ tối thiểu để sinh sống, các thừa sai ấy tiếp tục hành đạo ở những xứ đạo trung tín đă bước vào giai đoạn trưởng thành. Họ chỉ ước ao sống trong yên lặng và kín đáo, mong cho người khác quên họ, đừng một ai lưu ư đến họ.

 

Nhưng đảng lại không quên họ. Đảng mong chờ cơ hội thuận tiện để đào thải họ. Trục xuất liền ngay từ năm 1954 những vị thừa sai c̣n lưu lại đất Bắc là một hành động “không khôn khéo”. Cuộc di cư vĩ đại của gần một triệu người từ Bắc vào Nam vừa mới kết thúc, nay lại trục xuất các vị thừa sai th́ có thể gây nên nhiều tiếng vang trong giới Công giáo trong nước và nơi dư luận quốc tế. Đảng đă t́m được mưu kế như sau: mùa thu năm 1958, không một tiếng vang quá đáng, chính quyền Cộng sản bắt đầu trục xuất lần hồi các vị thừa sai, vị này kế tiếp vị kia. Trong khoảng thời gian 18 tháng, Việt cộng thải hồi rất khéo những công dân ngoại quốc “bất hảo” cuối cùng.

 

Tháng 10-1958, một vị thừa sai Gia nă đại, cha Denis Paquette (Quư), DCCT, được lệnh đến tŕnh diện ở sở công an Hà Nội, rồi sau đó được đưa lên biên giới Việt-Hoa. Mệnh lệnh trục xuất linh mục Quư được tống đạt là do việc thi hành nghị định ngày 23-10-1958 của bộ trưởng bộ Nội vụ chính phủ Cộng sản Hồ Chí Minh. Theo nghị định này th́ lư do trục xuất linh mục Quư được ghi rơ như sau: “V́ đă can tội có nhiều hành động phương hại đến an ninh trật tự ở miền Bắc Việt Nam”. Lệnh tống xuất được sở công an Hà Nội chuyển cho linh mục Quư kư nhận ngày  26-10-1958 có ghi rơ rằng: “Đương sự phải rời khỏi miền Bắc Việt Nam vào chuyến tàu sớm nhất”.

 

Theo một nguồn tin rất đáng tín nhiệm th́ “những hành động phương hại đến an ninh trật tự” ở miền Bắc Việt Nam mà chính phủ Hồ Chí Minh đă gán cho linh mục Quư dường như là nhà tu hành Gia nă đại đă chuyển giúp những đơn khiếu nại của các tầng lớp dân chúng Việt Nam miền Bắc đến phái đoàn Gia nă đại trong Ủy hội Quốc tế Kiểm soát đ́nh chiến, nói về những vi phạm hiệp định Genève của chính phủ HCM trên mặt đối xử với dân sự. Ngoài ra người ta c̣n được biết rằng linh mục Quư giao thiệp rộng răi ở Hà nội, quen biết rất nhiều gia đ́nh công nhân hoặc trí thức, nhất là thanh niên Công giáo cũng như Phật giáo. V́ vậy người ta cũng rất lo ngại cho số phận những gia đ́nh Việt Nam ở Hà Nội từng giao thiệp với nhà tu hành này, không biết rồi đây họ có thoát khỏi bàn tay khủng bố của đảng và chính phủ HCM chăng.

 

Giám mục phụ tá Lạng Sơn, Đức cha Jacq, th́ bị bắt lúc 2 giờ khuya và được đưa lên máy bay sang Ai lao. Hai linh mục ḍng Đaminh người Pháp, cha Nerdet và Guibert cũng đồng một số phận như Đức cha Jacq.

 

Tiếp đến một thời gian đ́nh chỉ hoạt động. Đúng một năm sau, tháng 10-1959, lại có một loạt trục xuất. Bề trên địa phận Hưng Hóa, cha Gauthier (đă ở trong địa hạt 50 năm), được lệnh rời bỏ đất Bắc trong 48 tiếng đồng hồ. Gần 3 tuần sau, một thừa sai Gia nă đại, cha Thomas Coté, DCCT, cũng bị trục xuất. Rồi đến lượt cha Caillon, hội Thừa sai Ba lê và Giám mục Hưng Hóa, Đức Cha Gioan-Maria Mazé.

 

Đang lúc ấy, Khâm sứ Ṭa thánh, Đức Cha Gioan Dooley, một vị giáo sĩ nhân đức và tận tụy được hàng đạc đức và giáo dân kính chuộng yêu quư, vẫn c̣n lưu lại miền Bắc. Đă nhiều lần trong những phiên họp công cộng, có nhiều người đứng lên yêu cầu trục xuất ngài; nhưng để tránh những phản ứng có thể xảy ra về phía Công giáo, người ta không dám áp dụng một biện pháp tàn bạo như vậy. Vào khoảng mùa xuân năm 1959, ngài lâm bệnh nặng. Trung thành với nhiệm vụ, mặc dù đau ốm, ngài vẫn ẩn trú tại ṭa Khâm sứ Hà nội cho đến khi bệnh t́nh của ngài biến chuyển sang một t́nh trạng rất đáng lo ngại. Cuối tháng 7, nằm trên một cáng bệnh nhân, Đức Cha Dooley được chở bằng phi cơ về Nam Vang, ủy thác công việc của ṭa Khâm sứ cho một vị giáo sĩ người Ái Nhĩ Lan, cha O’Driscoll. Đây là cơ hội mà đảng mong mỏi bấy lâu: hai tuần sau, cha O’Driscoll cũng bị trục xuất luôn. Như vậy, ṭa Khâm sứ buộc ḷng phải đóng cửa.

 

Sau đó được vài tháng tạm yên, rồi vào khoảng đầu năm 1960, những vụ trục xuất lại tiếp diễn với một nhịp điệu dồn dập: ngày 5 tháng 2, hai cha ḍng Đa minh Haag và Lory đều bị đuổi ra khỏi đất Bắc; ngày 19 tháng 2, hai cha Pierchon và Fleury, rồi hai cha Carat và Garra, bốn vị này thuộc hội Thừa sai Ba lê; ngày 12 tháng 3, cha Giraud người Pháp và một bà nữ tu ḍng thành Phaolô thành Chartres người Ái nhĩ lan cũng bị bắt buộc ra đi...

 

(Từ năm 1954, hàng giáo sĩ ở Bắc đă giảm bớt đi nhiều, việc trục xuất những vị giáo sĩ ngoại quốc đó làm cho con số hàng linh mục lại càng thêm hiếm hoi.

 

Tính đến năm 1960, ở Bắc Việt chỉ có 300 linh mục, nhưng các vị phải săn sóc đến 750.000 giáo hữu. Mỗi cha xứ phải đảm đương trung b́nh 1.200 giáo hữu tại địa phận Vinh, 7.000 tại địa phận Hải pḥng, 6.000 tại địa phận Bùi chu và 10.000 tại địa phận Thái b́nh. Vả lại những giáo hữu này không tập trung vào một xứ, một họ đạo, nhưng ở rải rác; và hơn bao giờ hết, họ khao khát nghe lời Chúa, khao khát chịu các phép bí tích trong đạo, mà số các linh mục lại quá hiếm hoi nên không thể nào làm thỏa măn những đ̣i hỏi thiêng liêng của họ. Đó là chưa nói đến việc dạy giáo lư cho các trẻ em, việc giáo dục các thanh niên và việc nâng đỡ các gia đ́nh Công giáo. Đến đây chúng ta phải chú ư điều này: giả dụ Việt cộng không áp dụng chế độ bắt đạo khắt khe, nhưng sự hiếm hoi của hàng linh mục cũng đủ làm cho Giáo hội phải tê liệt.

 

Nhưng c̣n hai trở ngại khác đẩy Giáo hội vào một t́nh trạng đen tối hơn nữa: kiểm soát sự di chuyển của các linh mục và tuyên truyền lư thuyết vô thần của Cộng sản.

 

+ Một linh mục muốn đi thăm con chiên bổn đạo là cả một việc khó khăn. Muốn đi đâu, linh mục phải có giấy thông hành, nhưng giấy thông hành lại hạn chế th́ giờ và nơi đến một cách hết sức khắt khe, thành thử các linh mục không sao thăm viếng được các con chiên ở những họ đạo xa xôi hẻo lánh. Cũng v́ lư do ấy, từ năm 1955 đến nay [1], 40.000 giáo hữu ở Quảng Yên, Ḥn Gay, Cẩm Phả chưa được gặp một vị linh mục nào, ngoại trừ những linh mục “ái quốc”. Các Giám mục không làm sao thuyên chuyển các linh mục; đặc biệt những linh mục quản hạt hay những linh mục có ảnh hưởng lớn, chỉ được ở trong một họ một xứ nào đó và không bao giờ được đi ra khỏi xứ ấy.

 

Những sự hạn chế di chuyển như thế có mục đích làm cho người giáo hữu không được chịu các phép bí tích, đồng thời vị linh mục sẽ không c̣n cách để liên lạc với con chiên bổn đạo ḿnh nữa.

 

Ngoài ra những kỳ cấm pḥng tại ṭa Giám mục không bao giờ hội được toàn bộ các linh mục trong địa phận. Các linh mục thường khó gặp nhau và cũng khó gặp Đức Giám mục, bởi lẽ Việt cộng không cho giấy thông hành v́ những lư do ấy. Đàng khác, các linh mục không có một phương tiện nào khác để tin tức liên lạc, họ cảm thấy lẻ loi và cảnh lẻ loi ấy cũng đáng sợ như tù đày vậy. Đứng trước những vấn đề khó xử như vấn đề liên quan giữa đạo và đời, vấn đề lao động, vấn đề hợp tác xă, vấn đề đả đảo “chính sách đế quốc Mỹ”, các linh mục cần phải soi sáng chỉ dẫn cho kẻ làm cha mẹ khỏi phải đớp vào mồi ngon ngọt của lư thuyết Cộng sản. Trong những trường hợp như thế, các linh mục cần phải hội họp để t́m cách đối phó và để cùng nhau vạch một đường lối chung cho con chiên bổn đạo phải theo, nhưng họ không sao gặp nhau được để bàn thảo những vấn đề trên.

 

+ Sau lúc đă cô lập được các linh mục, Cộng sản c̣n t́m cách tuyên truyền và giáo huấn các linh mục theo phương pháp Cộng sản. Nếu cơ quan hữu trách mời các ngài đi họp, các ngài sẽ không bao giờ đi, v́ thế Cộng sản phải nhờ công an đến bắt các ngài đi họp. Cuộc hội họp thường kéo dài trong một hai ngày. Nơi cư trú cũng như pḥng họp đều có đủ tiện nghi. Nhưng người đến họp chỉ gặp ở nơi đây công an cảnh sát và cán bộ chính trị. Ngoài những buổi diễn thuyết mà đề tài là tội ác của đế quốc đối với Giáo hội, hoặc những bảo đảm về đức tin trong chế độ xă hội Cộng sản, c̣n có những cuộc hội họp từ ba hoặc bốn người, trong đó các linh mục phải đối phó với những cán bộ chính trị hoặc với những người Công giáo ái quốc.

 

Thông thường các linh mục tránh những cuộc trao đổi ư kiến với Cộng sản, v́ các ngài biết là việc vô ích, nên trong buổi họp có cha cầm chuỗi mà đọc kinh. Nhưng Cộng sản thừa dịp các linh mục đang mệt nhọc và nóng ḷng trở lại với con chiên bổn đạo, để ép các ngài kư vào một bản tuyên bố chung, trong đó có nhiều khoản ra mặt ủng hộ lư thuyết Cộng sản và chủ trương của chính phủ. Nếu cuộc hội họp không đưa đến kết quả nào, các nhà tổ chức sẽ để cho các cha về xứ, nhưng lập tức họ lại chuẩn bị mở một cuộc hội họp khác. Chỉ khi nào thành công họ mới chịu buông tha các ngài.

 

Nhưng quá khứ có thể cho chúng ta biết rằng các linh mục ở Bắc Việt sẽ trung thành với Đức tin, với Giáo hội cho đến cùng qua bất cứ một thử thách nào. Gương anh hùng của 100.000 vị Tử đạo trên đất Việt Nam cho chúng ta hy vọng con cháu của các ngài sẽ bước vào đường nẻo vinh quang mà các ngài đă vạch ra bằng chính máu của ḿnh.

 

Gặp gian khổ mới nhận thấy đức tin của người Công giáo Việt Nam rất vững vàng, không có một sức mạnh nào lay chuyển được ḷng trung nghĩa của họ. Và gặp dịp là họ sẵn sàng hy sinh tất cả, noi gương các Thánh Tử đạo tiền bối của họ. Tuy nhiên cũng có một số người v́ ngoan cố phản bội, hoàn toàn nhuộm đỏ, bị Giám mục đau ḷng dứt phép thông công. Nhưng nhiều con chiên ghẻ đă t́m đường quay về ràn... Người ta cũng ghi nhận một số lớn dân ngoại đă trở về với Công giáo và hiện nay đang học giáo lư để chịu phép rửa tội, hết đợt này đến đợt khác.

 

Kinh nghiệm cho thấy các “mâu thuẫn” của chế độ Mác-xít đang làm hại Cộng sản... Chính quyền Cộng sản đă dùng mọi phương cách để ngăn cản làn sóng di cư vào miền Nam. Họ tuyên truyền, hăm dọa bằng vơ lực hay mánh khóe quỷ quyệt, ban bố các sắc lệnh, hứa sửa chữa sai lầm bất công do cán bộ cấp dưới đă phạm. Tức nước vỡ bờ! Làn sóng đang tràn mạnh bị chận đứng, đă phá vỡ bờ đê Cộng sản. Người Công giáo phải ở lại miền Bắc đă nắm lấy cơ hội, đ̣i chính quyền Cộng sản thi hành đúng các lời đă hứa. Dầu họ đoán các lời hứa hẹn ấy chỉ là trá ngụy, nhưng người ta đă chơi chính trị, th́ ḿnh cũng phải biết lợi dụng chính trị. Họ vẫn trịnh trọng tin tưởng và yêu cầu chính quyền thực hiện lời đă hứa. Người ta thầm nghĩ không biết bên nào đă tính sai bài toán: Công giáo hay Cộng sản.

 

Chẳng những chính phủ đă đè nén người Công giáo, chính phủ c̣n bóc lột nhân dân không phân biệt tôn giáo, nên nhân dân c̣n hát rỉ tai với nhau rằng:

 

“Chanh chua chẳng kém khế chua,

Thằng Tây bóc lột c̣n thua già Hồ ”

 
Lm. Phan Phát Huồn, DCCT
Việt Nam Giáo Sử,
tập 2. Sài g̣n,
Cứu Thế tùng thư, 1962, trang 66-84.

Trở lại Trang Nhà: