Bản Tin Hàng Tháng

của CƠ SỞ HY VỌNG

 

Cao Viết Lợi phụ trách

 

Cơ Sở Hy Vọng ra đời nhằm giới thiệu những văn hóa phẩm lành mạnh, nói riêng những văn hóa phẩm Công Giáo có giá trị cao tới bà con độc giả hải ngoại. Cho đến nay Cơ Sơ đă phát hành được ba tác phẩm. Đó là:

 

1. “Những Lời Giảng Dạy Của Chúa Giêsu” của Tiến sĩ Trần Thái Đỉnh, nguyên Giáo sư Đại Học Văn Khó Sàig̣n. Tác phẩm ấn hành lần đầu tại Hoa Kỳ tháng 11 năm 2000 và tái lần thứ nhất tháng 9 năm 2001.

 

2.“Ngôn Sứ Thời Đại Mới” của Giáo sư Nguyễn Chính Kết, ấn hành lần đầu tại Hoa Kỳ tháng 9 năm 2001.

 

3.“Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím” của Giáo sư Nguyễn Ngọc Lan, ấn hành lần đầu tại Hoa Kỳ tháng 8 năm 2002.

 

Đầu tháng 8 năm 2003, Cơ Sở đă giới thiệu tới bà con độc giả hải ngoại tác phẩm thứ tư. Đó là tác phẩm “Thánh Thần, Hơi Thở Sống Động Của Giáo Hội” do Giáo sư Nguyễn Chính kết và Giáo sư Nguyễn Đăng Trúc chuyển ngữ.  Cuốn sách được sự bảo trợ về tinh thần của Phong trào Canh Tân Đặc Sủng tại nam California và do Đức Cha Mai Thanh Lương, Giám Mục Phụ Tá Giáo Phận Orange viết lời giới thiệu.

 

 ĐỌC “NHỮNG LỜI GIẢNG DẠY CỦA CHÚA GIÊSU”

 Tác giả: Tiến Sĩ Trần Thái Đỉnh

 Người đọc: Tiến Sĩ  Nguyễn Tiến Ích

 (Từ số 21 tháng 7 năm 03)

 

 II-3 - Phần thân bài: sự Công Chính của người môn đệ Chúa Kitô

 Người ta có cảm tưởng rằng sau các phúc thật là một mớ khá hỗn tạp những lời dạy của Chúa, nhưng khi đọc kỹ toàn bản văn từ đầu đến cuối, người ta sẽ nhận ra bài giảng này có một chủ đề, chủ đề đó là sự Công Chính của người môn đệ Chúa Kitô, hay là sự Công Chính đích thực, đối chiếu với sự Công Chính h́nh thức nơi phần lớn những người theo Do Thái Giáo thời bấy giờ, đặc biệt là nhóm Biệt Phái (trang 64).

 

Như vậy người ta có thể quan niệm tám phúc thật như là phần dẫn nhập đến chủ đề chính là sự công chính của người môn đệ Chúa Giêsu. Bài này được tác giả chia làm ba phần:

 

- Đời sống chứng nhân của người môn đệ Chúa Giêsu (trang 65-66)

 

- Tinh thần công chính đích thực trong các việc tốt lành (trang 66-71)

 

- Thái độ công chính đích thực trong đời sống hàng ngày (trang 71-82)

 

1- Đời sống chứng nhân của người môn đệ Chúa Kitô:  các môn đệ của Chúa sẽ là muối trái đất, là ánh sáng thế gian (trang 65-66).

 

Chúa đă không nói với các môn đệ rằng anh em sẽ là hoặc anh em hăy là nhưng đă nói một cách khẳng định rằng: “Chính anh em là muối của trái đất...Chính anh em là ánh sáng thế gian” (Mt5, 13-16) (trang 65). Được Chúa chọn làm tông đồ, Ngài đă tiệm nhiên coi họ là những người công chính đích thực, là những cây đèn được thắp lên và đặt ở nơi cao trong nhà. Giáo Hội, nhất là các vị trong hàng giáo phẩm, vẫn được coi là thành phố xây trên núi. Họ được đề cao và không thể trốn tránh cái nh́n của mọi người: đời sống của họ nhất định có ảnh hưởng tốt hoặc xấu. Nếu tốt th́ “thiên hạ nh́n thấy các việc tốt lành anh em làm và tôn vinh Thiên Chúa”. Nếu xấu th́ Chúa sẽ phải than thở như đă than về dân của Ngài “Chúng đă làm cho danh Ta bị xúc phạm giữa các dân tộc mà chúng đi đến” (trang 66).

 

Tác giả kết thúc đoạn này bằng một câu, nguyên văn là:

 

“Những ǵ nói về các tông đồ trên đây cũng được áp dụng cho các tín hữu của Chúa, các Kitô hữu, theo một mức độ nào đó.” (trang 66)

 

Như vậy người đọc có thể có cảm tưởng tác giả đă phân biệt các tông đồ, các vị trong hàng giáo phẩm, và các Kitô hữu nghĩa là các giáo dân b́nh thường. Điều này khiến cho kẻ viết bài giới thiệu này thắc mắc. Trong Giáo hội của Chúa, chỉ có thể có một tiêu chuẩn. Đă là một Kitô hữu th́ từ  Giáo Hoàng xuống đến giáo dân, mỗi người là một chứng nhân cho Chúa Kitô, một cách triệt để, một trăm phần trăm chứ không thể là chứng nhân  “theo một mức độ nào đó” được.

 

2- Tinh thần công chính đích thực trong các việc đạo đức như ăn chay, cầu nguyện, bố thí (trang 66-71).

 

Vào thời kỳ Chúa Giêsu giảng dạy th́ Do Thái giáo đang đi sâu vào những câu nệ h́nh thức, hoàn toàn bề ngoài, không có chiều sâu của ḷng bác ái. Những chức sắc của Do thái giáo mà ta thấy được gọi là nhóm Biệt phái, các Luật sĩ, người Pharisêu thường theo Chúa đến các nơi Chúa giảng dạy để phê phán, dè bỉu, căn vặn tại sao trước khi ăn không rửa tay, sao lại chữa chạy cho người đau ốm vào ngày Sabát, sao lại ngồi cùng bàn với những người thu thuế... Phúc Âm đă ghi lại những lời Chúa trả lời những người này ra sao. Chúa muốn môn đệ của Chúa phải đạt tới một sự công chính cao hơn sự công chính của những người Biệt Phái và các Luật sĩ Do Thái: “Nếu anh em không sống công chính hơn các luật sĩ và các người Biệt Phái, anh em sẽ không được vào Nước Trời (Mc 5, 20)” (trang 30).

 

Chúa dạy mộn đệ của Chúa đừng có phô trương khi làm các việc đạo đức v́ phô trương là ḿnh làm cho ḿnh để mong được tiếng khen của thiên hạ. Nếu làm việc công chính v́ yêu mến Chúa, v́ yêu mến sự công chính th́ phải âm thầm, kín đáo, thực ḷng khiêm tốn.

 

Khi ăn chay th́ mặt mày phải tươi vui, quần áo phải tươm tất, đừng làm ra vẻ mệt lả, như sắp chết đói. Khi bố thí th́ phải tôn trọng người nhận, đừng có khoe khoang toe toét làm cho người nhận phải tủi ḷng, phải âm thầm kín đáo, “tay trái không biết việc tay phải làm”. Khi cầu nguyện th́ đừng có lải nhải nhiều lời trong các hội đường hoặc tại các nơi đông người để được thiên hạ chiêm ngắm cái vẻ đạo đức của ḿnh mà hăy vào pḥng, đóng cửa lại và cầu nguyện với Chúa Cha là Đấng hiện diện nơi kín đáo và Ngài biết trước những nhu cầu của từng chúng ta.

 

3- Tâm tư của người công chính trong cuộc sống thường nhật.

 

* Đừng lo tích trữ của cải (trang 71-75).

Trong cuộc sống hàng ngày, Chúa dạy môn đệ Ngài phải có tâm tư phó thác. Đừng lo tích trữ tiền tài, cất dấu kho tàng vàng bạc châu báu. Nhưng Chúa lại dạy ta tích trữ kho tàng trên trời. Kho tàng trên trời là tiền tài, phẩm vật ta gửi vào kho trên trời qua tay những người nghèo khó hoặc gặp hoàn cảnh khó khăn (trang 72).

 

“Anh em đừng tích trữ cho ḿnh những kho tàng trên mặt đất này, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ  trộm khoét vách lấy mất. Nhưng hăy tích trữ cho ḿnh những kho tàng trên trời, nơi mối mọt  không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi được. V́ kho tàng của anh em ở đâu th́ ḷng anh em ở đó...” (Mt 6, 19-24)

 

* Đừng phán xét tha nhân (trang 75-77)

Trong cuộc sống hàng ngày, tiếp xúc với tha nhân, tự nhiên chúng ta thường t́m hiểu người đối thoại, không phải để phê phán mà chỉ để rút ra một kết luận cho riêng ḿnh. Sự đánh giá có thể sai hay đúng nhưng điều quan trọng là không phải v́ thế mà ḿnh lại có một cách đối xử phân biệt, xếp loại thành người sang, kẻ hèn như một nhân vật thời Chiến quốc, chỉ những bậc được ông xếp vào loại hiền nhân quân tử mới gọi là lọt vào mắt xanh của ḿnh được. Môn đệ của Chúa th́ phải có tinh thần hiền ḥa, thành thật và tôn trọng mọi người, sang cũng như hèn, đần độn cũng như thánh trí.

 

Chúa cũng dạy chúng ta phải sống một cách bao dung, cởi mở và chấp nhận đối với mọi người, đừng khó khăn xét nét, phê phán người này người khác.

 

“Anh em dừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán...Sao anh em thấy cái rác trong con mắt của anh em ḿnh mà lại không nhận thấy cái xà trong con mắt của ḿnh? (Mt 7, 1-5)” (trang 75)

 

* Đừng trao của thánh cho những kẻ bất xứng (trang 77-78).

 “Đừng trao của thánh cho những con chó, và đừng liệng các viên ngọc của anh em trước những con heo, kẻo chúng chà đạp dưới chân rồi quay lại cắn xé anh em.”  (Mt 7, 6).

 

Của thánh đây là những bí tích và những mầu nhiệm trong đạo mà chúng ta phải biết trân trọng v́ đó là phần cốt lơi của đạo chúng ta. Chẳng hạn trong các thánh lễ có người không Công giáo tham dự, khi đến phần Phụng Vụ Thánh Thể, linh mục chủ tế thường nhắc nhở là phần lễ nghi này chỉ dành cho người Công giáo v́ người không Công giáo thường không hiểu tính cách màu nhiệm và thiêng liêng của miếng bánh và ly rượu sau khi đă biến thành ḿnh và máu Chúa Giêsu.

 

C̣n đối với những người vô thần đem các tín điều Kitô giáo ra làm đề tài châm biếm, ta thường không thể đối thoại được với họ v́ họ không có thành tâm t́m hiểu chân lư, và nên tránh họ đi là hơn: “Đừng trao của thánh cho những con chó”. Tệ hơn nữa, có những kẻ có thành kiến, cố chấp, và nhất là bị chi phối bởi những nhóm chính trị, tôn giáo, th́ có đối thoại cũng là chuyện đầu gối nói với nhau và ta hăy nhớ lời Chúa: “đừng liệng các viên ngọc của anh em trước những con heo, kẻo chúng chà đạp dưới chân rồi quay lại cắn xé anh em.”

 

Trong ba thế kỷ đầu, khi Giáo hội bị cấm cách và bách hại ghê gớm, nhiều tín hữu đă thà chết c̣n hơn trao các quyển Thánh Kinh cho lính La Mă. Thánh Pancratio, một cậu bé 12 tuổi đă được phúc tử đạo, v́ không chịu trao cho lính La Mă Ḿnh Thánh Chúa cậu đang dấu trong áo để mang về cho những người không thể đi dự Thánh Lễ trong các hang toại đạo (trang 78).

 

* Hăy kiên tâm cầu nguyện và tin tưởng (trang 78-80).

 Dù ngày nay khoa học có thể giải thích cho ta một cách hợp lư từ những hiện tượng tự nhiên như mưa, nắng, sấm sét đến sự h́nh thành và sinh tử của các ngôi sao, và của cả vũ trụ... nhưng con người không phải chỉ là một sinh vật hoàn toàn duy lư mà c̣n cả một chiều kích siêu h́nh, một nhu cầu về thiêng liêng không thể t́m thấy được bằng lư trí đơn thuần. Chính cái khoa học nó đă và đang cho ta những giải thích hợp lư và được xác nhận bằng thực nghiệm về sự h́nh thành vũ trụ qua một tiếng nổ đùng kinh thiên động địa (Big Bang) cũng không biết được một chút ǵ về trước khi có tiếng nổ đó, v́ một lẽ đơn giản là trước khi có tiếng nổ đó, không có không gian và cũng không có thời gian làm cho những định luật khoa học không có ǵ để mà ứng dụng.

 

Trong cuộc sống hàng ngày, vẫn có những điều chúng ta cảm thấy vượt quá khả năng suy luận của con người mà ngày nay, dù không phải là người có tôn giáo, người ta vẫn phải gọi là những phép lạ, đặc biệt nhất là trong lănh vực y khoa.  

 

Chúa dạy chúng ta hăy kiên tâm cầu nguyện và hết ḷng tin tưởng. Chúa nói đi nói lại hai lần liền: anh em hăy xin th́ sẽ được, hăy gơ th́ cửa sẽ mở cho anh em v́ Thiên Chúa là Đấng tốt lành và rộng lượng vô cùng.

 

Đă là người Công giáo th́ không thểnào không cầu nguyện được.

 

* Hăy vào cửa hẹp (trang 80 ).

Hàng ngày đọc kinh lạy cha, chúng ta vẫn cầu nguyện “...xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ...” v́ thường thường sự xấu nó rất là quyến rũ, như môt con đường rộng thênh thang, đầy hoa thơm cỏ lạ, như một cái cửa mở rộng đón chờ, c̣n sự tốt th́ sao mà khó khăn vất vả thế, chẳng khác nào vai mang nặng mà lại phải lên dốc giữa một buổi trưa hè, cái cửa cuối đường th́ nhỏ hẹp, một người chưa chắc qua lọt, nh́n lên mà thấy nản.

H́nh như sống là phải lựa chọn, là phải đấu tranh liên tục giữa cái xấu và cái tốt, cái thiện và cái ác. Thiên Chúa đă tôn trọng cái quyền tự do lựa chọn của mỗi con người chúng ta nhưng không bỏ mặc chúng ta giữa ngă ba đường để cho ta có thể sa xuống hố. Chúa căn dặn chúng ta hăy chọn con đường khó khăn, gai góc mà đi, cánh cửa hẹp mà vào, v́ nó tượng trưng cho một cuộc sống kỷ luật, khổ hạnh, đạo đức, và cuối cùng nó sẽ đưa đến cứu rỗi. Hăy tránh xa những con đường thênh thang, cánh cửa rộng mở đón chào v́ nó tượng trưng cho một cuộc buông thả, vô kỷ luật, vô đạo đức để cuối cùng nó sẽ đưa đến sa đọa tâm hồn.

 

“Anh em hăy đi vào cửa hẹp... (Mt 6, 13-14 )”. Bài giảng này thực như một bài thơ và đă là đề tài cho một cuốn tiểu thuyết của nhà văn André Gide có tên là “La Porte Étroite”.

 

* Hăy coi chừng các tiên tri giả (trang 80-82).

 Chúng ta đang sống trong thời đại cách mạng Tin học, số lượng thông tin nhận được hàng ngày thật là to lớn, về tất cả mọi chuyện, chính trị, văn hóa, tôn giáo. Riêng về Kitô giáo, nhiều hệ phái Tin lành mới đẵ được dựng nên căn cứ vào một câu nói, một khía cạnh nào đó của Thánh Kinh. Các tôn giáo khác cũng chẳng kém, đặc biệt là Hồi giáo thuộc hệ phái gọi là căn bản (fundamentalist) đă rất là dũng mănh rao giảng hận thù (đó là sự hiểu biết của riêng cá nhân kẻ viết bài này qua những hành động và thuyết giảng của hệ phái này). Tệ hại hơn là những tổ chức mê tín, tự xưng là đạo như đạo sờ, đạo tắm, đạo nhắm mắt bịt tai... Bây giờ h́nh như là thời của các tiên tri giả. Chúa đă cho chúng ta một cái tiêu chuẩn chắc chắn để thẩm định tiên tri : “Hăy coi chừng các tiên tri giả: họ đội lốt con chiên mà đến với anh em, nhưng bên trong họ là những con sói tham mồi. Cứ nh́n vào hoa trái của họ, anh em sẽ nhận ra họ: có bao giờ người ta hái được những trái nho nơi bụi gai, hoặc những trái vả trên đám cỏ gai? Cây tốt th́ sinh trái tốt, cây xấu th́ sinh trái xấu...”

 

  II-4 - Phần kết luận của bài giảng trên núi: thực hành lời của Chúa (trang 82-84).

 

 Bài giảng của Chúa đă gây nên môt ấn tượng sâu xa nơi các môn đệ và nơi quần chúng. Nhà phê b́nh văn học Sainte-Beuve, nổi tiếng của Pháp và là một người vô thần, về cuối đời khi đọc lại những trang Phúc Âm này đă viết như sau: “Có thể nói cái ngày mà bài giảng này được công bố trên ngọn đồi xứ Galilêa, một cái ǵ mới mẻ và bất ngờ đă diễn ra trong cuộc giảng dạy luân lư của con người. Từ trên núi Sinai xuống, Môsê đă công bố bản Thập Điều, xác định tín điều về Thiên Chúa duy nhất và hằng sống, cũng như đă công bố những giới răn nghiêm khắc về sự tôn thờ Thiên Chúa và về xă hội loài người. Nhưng từ cái ngày mà tại một tỉng xứ Giuđêa, cách xa Giêrusalem, trên một ngọn đồi phủ cỏ xanh ŕ, không xa biển Galileâ là bao, ở giữa đám quần chúng gồm những người nghèo, những ngư phủ, những đàn bà và trẻ nhỏ, người thành Nazarét này, một người thường dân, tuổi chừng 30, không có quyền hành ǵ rơ ràng, cũng chẳng phải là người lăng đạo quốc gia, nhưng chỉ cảm nhận về sứ mạng thần linh của ḿnh và tự coi ḿnh là một người con được Cha ḿnh linh hứng, vâng từ cái ngày mà người này đă lên tiếng như thế, nói một cách đầy hiền từ và mạnh mẽ, đầy dịu dàng và hăng hái, đầy đơn sơ và uy dũng, th́ một kỷ nguyên luân lư mới đă khởi đầu” (trang 84).

    Lời Chúa hẳn đă đánh động nhiều người nhưng nó có sinh hoa kết trái được không hay sẽ như là những hạt giống rơi văi dọc đường, vào chỗ sỏi đá hay đă nảy mầm rồi bị chết ngộp trong gai góc.

 

    Độ cảm nghiệm sâu sắc nhất là quyết tâm thực hành những lời Chúa đă dạy sau khi được đánh động. Đó là “những người nghe Lời với một tâm hồn chân thành và tốt lành, nắm giữ lời Chúa và sinh hoa trái trong kiên tŕ  (Lc 8, 15 )”

 

Trở lại Trang Nhà: