Vài Cảm Nghĩ Về Cha GILDO DOMINICI
ĐỖ MINH TRÍ
Lm. Cosma Hoàng Văn Đạt, SJ.
Tôi gặp cha Gildo Dominici lần đầu năm 1968, tại Trung Tâm Đắc Lộ ở Saigon. Đó là một buổi chiều, cha đang đi dạo trong sân. Thấy một cha lạ, tôi chưa biết là ai, nhưng cha đă chào tôi trước, bằng tiếng Việt. Tôi hỏi: “Cha người nước nào?” Cha vừa cười vừa trả lời bằng thứ tiếng Việt của người Châu Âu mới học: “Tôi là người Việt Nam!” Tôi rất ngạc nhiên, muốn nói chuyện thêm, nhưng cha chỉ biết nói bấy nhiêu thôi!
Từ năm 1970, cha làm giáo sư ở Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X Đàlạt, nơi tôi học. Từ năm 1972, cha làm quản lư cộng đoàn học viện Ḍng Tên [đường Cô Giang, Đàlạt], nơi tôi ở. Làm giáo sư th́ xa xa, không sao, nhưng làm quản lư th́ rất gần. Cha là người Ư, chắc không khó tính. Nhưng ai đó cho tôi biết cha đậu tiến sĩ giáo luật. Một tiến sĩ luật đi làm quản lư! Tôi nghĩ ngay đến các tiến sĩ luật trong Tin Mừng, thời Chúa Giêsu, và… không mấy có cảm t́nh. Tôi tự nhủ: “Phải dè dặt thôi!”
Tiếng Việt của cha lúc này đă khá, có thể giao tiếp với mọi người, có thể dâng lễ và giảng được. Mỗi ngày sau bữa ăn trưa và bữa ăn tối, chúng tôi thường đi bộ một chút ở sân và nói chuyện với nhau. Dần dần tôi khám phá ra một cha Đỗ Minh Trí khác hẳn với những điều tôi nghĩ lúc đầu. Ước nguyện nóng bỏng nhất của cha là được chia sẻ với những người b́nh thường nhất, nghèo khổ nhất. Việt Nam chẳng những nghèo mà lúc ấy đang có chiến tranh, chính v́ thế cha muốn đến Việt Nam. Cha hạnh phúc khi được ở giữa những người nghèo khổ để học với họ cuộc sống làm người, làm tín hữu, giữa muôn vàn sóng gió và thử thách. Cha luôn băn khoăn về nếp sống của các linh mục và tu sĩ h́nh như gần với những thành phần khá giả và trở nên ít nhiều quan liêu. Tôi nghĩ thầm là cha hơi lư tưởng, phần nào ảo tưởng và cả đến không tưởng.
Nhưng cha không phải là một người chỉ mơ với mộng. Rất thực tế: hằng ngày cha phục vụ cộng đoàn từ việc ăn uống đến mọi nhu cầu vật chất rất chu đáo. Chắc chắn cha không phải là một người có đầu óc tổ chức của một nhà quản trị. Vả lại tiếng Việt của cha chỉ vừa đủ chứ không thể nói là “như gió” được. Nhưng cha thích nghi rất giỏi: bằng cách… cười! Cha không thông thạo lắm về cách ăn uống của người Việt Nam. Cha thường nói nửa đùa nửa thật về việc uống rượu: “Chúa ban rượu ngon cho phấn khởi ḷng người”, vậy mà người Việt Nam không uống rượu, đời sống làm sao vui được? Ở học viện, hầu như chúng tôi không uống rượu bao giờ. Rồi ăn cơm kiểu hoàn toàn Việt Nam, chắc chắn khác hẳn ở Ư. Nhưng không bao giờ nghe cha than phiền hay đ̣i hỏi chi hết.
Chẳng những vậy, cha c̣n rất thích đi Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng: hễ có dịp là cha đến ở với giáo dân miền quê. Có lần tôi nói đùa: “Cha sửa lại giấy khai sinh đi, nơi sinh là Bảo Lộc chứ không phải Assisi!” Cha đáp: “Assisi là quê của thánh Phanxicô, Bảo Lộc là quê của tôi!” Rồi cha nói với tôi về ư định mạo hiểm với Chúa Giêsu, đặc biệt trong mầu nhiệm Nhập Thể. Cụ thể hơn, cha cảm thấy hạnh phúc đặc biệt với những người miền quê, quây quần bên mâm cơm gia đ́nh trên manh chiếu trải ngay giữa nền nhà, vắt áo dài trên vai đi lễ, nói thứ tiếng Việt không có trong từ điển như “nạy cha” hay “cây rừa”, khiến cha nhiều phen lúng túng v́ không hiểu! Không biết ai đă chuyển tên cha từ tiếng Ư là Dominici sang tiếng Việt là Đỗ Minh Trí, h́nh như người nào đó ở Bảo Lộc, chỉ biết là cha rất hănh diện về tên của ḿnh, tự coi như ḿnh thực sự là người Việt Nam, v́ tên chính là người.
Tôi chỉ theo học với cha một giảng khóa về “Các nhân đức ”. Tôi vốn có ít nhiều thành kiến về “luân lư”, nên coi thần học luân lư như điều cực chẳng đă phải học th́ học thôi, chứ không hứng thú chi. Chẳng những vậy, phải thú thật là cha giảng không hấp dẫn mấy. Tuy nhiên, những điều tôi học được trong giảng khóa ấy, nhất là trong giáo tŕnh cha soạn, đă mở cho tôi một nhăn quan mới với những chân trời mới, từ các các ngôn sứ đến Chúa Giêsu trong Tin Mừng, từ các giáo phụ đến Công đồng Vaticanô II, cả nền luân lư Nho Giáo và quan niệm về đức hạnh của người Việt Nam nữa. Luân lư không chỉ là những chuyện của các cụ già lẩm cẩm mà là cuộc sống cao đẹp, vừa rất nhân bản vừa rất thánh thiêng của con cái Chúa. Trước kia tôi nghĩ các nhân đức chỉ là những ràng buộc con người trong những cái rọ chặt chội và g̣ bó. Lúc này tôi hiểu làm người, sống như con cái Thiên Chúa, nên thánh… tất cả đều mời gọi tôi vươn tới. Tôi thấy Chúa Giêsu sống như con Thiên Chúa và anh em của con người. Tôi thấy chính ḿnh phải thoát ra khỏi những cái khuôn không óc không tim. Bên ngoài cha sống rất b́nh dị, lại ăn nói không hấp dẫn lắm, nên thật tôi không ngờ trái tim cha có một chiều sâu nhân bản và thiêng liêng đáng cảm phục như vậy.
Tiếng Việt nhiều khi trở thành một trung gian để cha tạo niềm vui. Một hôm đi đường, chúng tôi gặp hai người đang căi nhau gay gắt: họ nói thứ tiếng Việt phi văn phạm và phi từ điển. Dĩ nhiên cha không hiểu được, nên hỏi tôi: “Họ nói ǵ?” Tôi đề nghị: “Cha đến bảo họ nói chậm thôi, nói nhanh quá không hiểu được!” Cha nói ngay: “Làm ơn nói chậm chậm…” May mà họ nhận ra cha là một người nước ngoài, không th́ hôm ấy tôi lănh đủ! Một hôm khác, ở bờ biển Nha Trang, cha đến làm quen mấy em bé. Các em ngạc nhiên: “Ông Mỹ!” Cha tỉnh bơ: “Tôi là người Việt Nam!” Một phụ nữ bán hàng rong đứng gần đó phản đối: “Mặt mũi thế kia mà xưng là người Việt Nam!” Cha trả lời: “Tôi là người Việt Nam, gốc Hà Nội.” Đến đây th́ bầu khí trở nên vui vẻ. Một số người bán hàng rong khác quên cả việc buôn bán đến nói chuyện với cha. Người ta đố cha cái này gọi là ǵ, cái kia gọi là ǵ… cha trả lời được hết. Cuối cùng, một phụ nữ đưa cái đ̣n gánh lên hỏi: “Cái này kêu bằng ǵ?” Cha trả lời bằng một câu có lẽ ít ai ngờ được: “Cái đó ở Hà Nội không có, tôi không biết!” Mọi người được một trận cười vỡ bụng.
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 18 tháng 4/2003 trang 30)