ĐỨC ĐẠT-LAI-LẠT-MA NÓI CHUYỆN VỀ CHÚA GIÊSU
Đỗ Tân-Hưng
(Tiếp Theo)
B̀NH ĐẲNG
Phúc Am thánh Mác-Cô (3, 31-35)
“Mẹ và anh em Đức Giêsu đến, đứng ở ngoài, cho gọi Ngài ra. Lúc ấy, đám đông đang ngồi chung quanh Ngài. Có kẻ nói với Ngài rằng: “Thưa Thầy, có mẹ và anh em chị em Thầy ở ngoài kia đang t́m Thầy!” Nhưng Ngài đáp lại: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” Rồi Ngài rảo mắt nh́n những kẻ ngồi chung quanh và nói: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Ai thi hành ư muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.”
Ư nghĩa đoạn Phúc Am theo Kitô giáo
Phúc Am thánh Mác-Cô ngắn nhất. Theo truyền thống, thánh Mác-Cô là môn đệ thánh Phêrô, người đứng đầu mười hai môn đệ của Chúa Giêsu. Đó là Phúc Am được viết đầu tiên vào năm 65 Công nguyên, có lẽ cho các Kitô hữu không phải gốc Do-Thái đang sinh sống ở La-Mă, nơi mà Thánh Phêrô bị tử h́nh.
Thánh Mác-Cô cho rằng giáo huấn của Chúa Giêsu về Nước Trời khai mở một kỷ nguyên mới cho thế giới. Nước đó không bao gồm trong một giáo huấn có tích cách tín lư giản lược, nhưng đó là một bí nhiệm hay một bí mật về thực thể cuối cùng (tức Thiên Chúa) mà Chúa Giêsu đích thân nhập thể và mạc khải cho các môn đệ.
Sứ mệnh của Chúa Giêsu trước hết là để mạc khải căn tính đặc thù, chính xác và thâm sâu của Ngài. Sứ Mệnh đó được thể hiện bằng việc dạy dỗ và nằm trong mối liên hệ nối kết Ngài với các môn đệ. Phúc Am đó thường cho thấy các môn đệ không thể hiểu được những ǵ mà Chúa Giêsu giảng dạy.
Đoạn nầy tiếp theo sau câu chuyện trong đó Chúa Giêsu chọn mười hai môn đệ chính và sai họ đi công bố Nước Trời. Ngài trở về quê hương ḿnh, nơi mà gia đ́nh Ngài tưởng rằng Ngài trở nên điên rồ. Ngay buổi đầu bắt đầu giảng dạy công khai Chúa Giêsu đă khiêu khích sự giận dữ của những người Pha-ri-siêu đang nắm quyền hành tôn giáo, bởi v́ Ngài tố cáo sự giả dối của họ bằng uy quyền lớn lao của cá nhân Ngài. Đối với những người khác, họ tố giác Ngài là bị quỉ ám.
Chúa Giêsu đang giảng dạy khi người ta đến cho Ngài hay là mẹ Ngài và các người liên hệ trong gia đ́nh Ngài đến gặp Ngài. Họ không tới gần Ngài, có lẽ v́ e ngại hay v́ không chấp nhận hành động của Ngài. Chúa Giêsu không khước từ họ trong tư cách là những thành phần trong gia đ́nh, nhưng Ngài lên tiếng phản đối việc họ không thấu hiểu Ngài v́ họ đă biểu lộ điều đó đối với giáo huấn và sứ mệnh của Ngài.
Ngài đă thay thế mối liên hệ huyết thống bằng mối liên hệ nối kết những ai “thi hành thánh ư Thiên Chúa”, như chính Ngài đă làm. Ở đây hiện rơ lên ư tưởng là những “con cái Thiên Chúa” tham dự vào bản tính phổ cập của Thiên Chúa.
“Nưóc Thiên Chúa” đ̣i hỏi chúng ta, trên b́nh diện cá nhân, những thay đổi triệt để. Là “con cái Thiên Chúa” bao gồm việc xem mọi liên hệ nhân sinh của chúng ta tùy thuộc vào tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa. Đối với Kitô hữu tương quan với Thiên Chúa đó có thể hiểu được trong mối liên hệ của chúng ta với Chúa Giêsu. Thiên Chúa th́ vô h́nh và không thể hiểu được, nhưng mối liên hệ nối kết chúng ta với Thiên Chúa được biểu lộ trong cách thức chúng ta kết hợp lại với nhau. Do đó, mối liên hệ của chúng ta với Chúa Giêsu Phục Sinh cũng dẫn đưa chúng ta đến những mối liên hệ hỗ tương nghiêm túc hơn. Đó là nguồn gốc ư niệm về Giáo hội - “thân thể Chúa Kitô” – tức là một h́nh thức ḥa hợp trọn vẹn hết thảy mọi đồ đệ của Ngài và một tổng thể của vũ trụ, trong tầm mức Ngài là Logos (Ngôi Lời) phổ cập.
Đoạn nầy là một trong những đoạn mà Đức Maria, mẹ Chúa Giêsu xuất hiện. Ngài là Đấng được các người Công giáo cách riêng tôn kính đặc biệt. Đức Maria không phải là một vị thần linh mà là một nhân vật lịch sử với một sự thánh thiện và một thụ cảm tính rất đặc biệt đối với Thiên Chúa. Đối với nhiều Kitô hữu Ngài c̣n tiếp tục thi hành mục vụ t́nh thương với một năng lực đặc biệt. Nỗi ưu tư của Ngài đối với nhân loại khổ đau là một cách thế dẫn dắt loài người trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, Con của Ngài.
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma:
“Ư tưởng đầu tiên xảy đến trong trí óc tôi khi đọc xong là đoạn nầy không chỉ tŕnh bày một định nghĩa thế nào là từ bi mà c̣n đề cập đến những diễn tiến phát sinh tâm từ bi. Trong đoạn nầy, Đức Giêsu chấp nhận một thái độ theo đó Ngài không đặt để một tầm mức quan trọng đăc biệt đối với mẹ Ngài hay anh chị em Ngài. Theo tôi, điều đó chứng tỏ tâm từ bi chân chính đích thật th́ khước từ mọi sự gắn bó, khước từ những giới hạn của sự thiên vị cá nhân. Điểm nầy rất gần với ư niệm Phật giáo theo đó tâm từ bi đích thực phải thoát ly những ràng buộc của sự quyến luyến. Như tôi đă nhấn mạnh trong buổi thảo luận trước đây về bản chất tâm từ bi, điều kiện tiên quyết để có tâm từ bi chân thật là phải có một t́nh cảm b́nh đẳng với mọi chúng sinh.
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 18 tháng 4/2003 trang 86)
Chúa Giêsu-Kitô mặc dù là
Con Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa, Ngài đă khởi đầu sứ mạng cứu độ nhân loại
bằng một thời gian chay tịnh 40 ngày đêm theo tinh thần Kinh Thánh và theo
truyền thống của Israel, dân Chúa.
Sự chay tịnh của Chúa Giêsu-Kitô khác với chay tịnh của các tổ phụ trong Cựu Ước, như Môisê trên núi Sinai lúc lănh nhận thập giới (Xuất Hành 34,28); và như tiên tri Êlya trên đường đến núi thánh Horeb (1 Vua 19,3-8). Các tổ phụ Israel trong Kinh Thánh chay tịnh là để chuẩn bị tâm hồn đón nhận Thánh Linh, đón nhận Thần Khí Thiên Chúa phù trợ để thi hành sứ mạng lớn lao Gia-vê Thiên Chúa giao phó, mà sức người phàm không thể làm nổi! C̣n Chúa Giêsu-Kitô là Con Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa hóa thân làm người nên trong nội tại bản thân của Ngài đă có sẵn và dư đầy Thần Khí: “Đức Giêsu, tràn đầy Thánh Thần, đă bỏ bờ sông Yordan và được Thần Khí dẫn vào sa mạc mà chịu ma quỷ cám dỗ bốn mươi ngày. Trong Các ngày ấy, Ngài không ăn ǵ cả; và măn thời gian đó, th́ Ngài đói” (Luca 4,1-2).
Thần Khí Thiên Chúa đă thúc đẫy Đức Giêsu vào hoang địa chay tịnh, nhưng chay tịnh không nhằm đón nhận Thánh Linh, mà là để cẩn trọng chuẩn bị thi hành sứ mệnh của Đấng Thiên Sai bằng một hành vi phó thác tuyệt đối vào Thiên-Chúa-Cha là Đấng đă sai Ngài xuống thế hoàn thành sứ mạng cứu độ.
Ư nghĩa của Mùa Chay, của sự chay tịnh trong dân Israel thời Cựu Ước, trong Giáo Hội ngày nay, và trong cuộc hành tŕnh đức tin trần thế về quê trời của mỗi người Kitô-hữu chúng ta thể hiện rơ nét trong Phúc Âm, trong Kinh Thánh, và trong Giáo Huấn của Giáo Hội. Người Kitô-hữu chay tịnh để hướng tâm hồn về Chúa với một thái độ hoàn toàn phó thác trước khi khởi sự một nhiệm vụ khó khăn hay xin tha thứ một lỗi phạm, khi được lành bệnh hay lúc tang chế, khi gặp quốc nạn, thiên tai, dịch tễ, mất mùa, hoạn nạn hoặc khi nhận được một ân huệ to lớn Chúa Ban. Đó là việc chay tịnh, kiêng cữ, giảm thiểu ăn uống, kể cả liên hệ tính dục chính đáng vợ chồng trong một hay nhiều ngày (Matthêu 19,10-12). Thánh kinh luôn đề cao ư nghĩa và sự thực hành chay tịnh song hành với kinh nguyện khẩn cầu và làm việc thiện để bày tỏ ḷng khiêm Tốn, Hy Vọng, và T́nh Yêu của con người đối với Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa.
Theo sách Sáng Thế, Thiên Chúa đă lấy bụi đất nặn thành thể xác con người nguyên tổ Ađam. Ađam nghĩa là đất! Và Thiên Chúa đă hà hơi sống của Thiên Chúa (phần tinh thần, linh hồn) vào lỗ mũi của Ađam, và Ađam (tượng đất) đă thành con người sống động giống h́nh ảnh Thiên Chúa!
Con người có hồn có xác. Con người không thuần túy là Thần và cũng chẳng thuần túy là Vật! V́ thế chủ nghĩa duy vật làm sa đọa và băng hoại con người, nhưng một tôn giáo thuần túy thiêng liêng, thuần túy lư tưởng cũng sẽ làm cho con người vong thân, hụt hẫng, không thể có khả năng, sức bật vươn tới! Con người được làm chủ muôn loài và quản lư công tŕnh sáng tạo của Thiên Chúa tại thế. Con người đầu đội trời chân đạp đất, linh hồn hướng thượng nhưng đôi mắt vẫn phải hướng hạ để thấy chính lộ mà đi, để chân không vấp phải đá, và không sa xuống vực thẳm cuộc đời! Lời cảnh báo của các Thiên Thần trong ngày Chúa thăng thiên, lúc các môn đệ đang ngây ngất chiêm ngắm những sự trên trời mà quên mất bổn phận thực tại trần thế là một bài học trân quư cho mỗi người Kitô-hữu chúng ta trong cuộc sống: “Nói thế rồi, Chúa Giêsu cất ḿnh lên trước mắt họ, và một đám mây đă quyện lấy Ngài đi khuất mắt họ. Và đang lúc họ đăm đăm nh́n Ngài lên trời, th́ có hai người y phục trắng ngời đă đứng bên họ, và nói: ‘Hỡi các người xứ Galilêa, sao c̣n đứng nh́n trời làm chi?! Các ông đă thấy Chúa Giêsu lên trời thế nào, th́ Ngài cũng sẽ trở lại như vậy’” (Tông Đồ Công Vụ 1,9-11).
Sau khi nghe cảnh tỉnh: “Họ đă trở lại Giêrusalem, vui mừng khôn xiết, và hàng ngày ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa” (Luca 24, 52-53) để chuẩn bị tâm hồn đón nhận Thánh Linh trong ngày lễ Ngũ Tuần. Và ngay khi tràn đầy Thánh Thần trong Ngày Hiện Xuống, họ đă can đảm dấn thân, đem đạo vào đời, bất kể sống chết để cố công loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Chúa cho đồng loại.
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 18 tháng 4/2003 trang 84)