Trước
Sự Ra Đi Của Đức Hồng Y
PHANXICÔ
XAVIÊ NGUYỄN VĂN
THUẬN
Từ
Những Cảm Nghĩ Đến
Tin Tưởng Và Cậy Trông
Lm
Phaolô Trần Xuân Tâm
Đức
Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đă ly
trần! Tôi sớm biết được tin đó
nhờ điện thư từ một trong những
cựu học tṛ thân tín của ngài trong Tiểu chủng
viện Hoan Thiện Huế mà
tôi nhận được vào sáng thứ Hai ngày 16 tháng 9.
Cảm
nhận của tôi lúc đó thế nào? Tôi không cảm
thấy bất ngờ cho lắm: hơn nửa năm trước
đó từ một vài nguồn tin đáng tin cậy, tôi
đă biết căn bệnh của ngài không những nan y
mà đă phát triển vào giai đoạn bất trị. Nhưng
có lẽ ngài đă ra đi hơi sớm một chút: theo
dơi tin tức vài ba tuần trước đó, tôi vẫn
cứ tưởng là ngài có thể sống thêm được
vài ba tháng hay nửa năm không chừng. Chưa kể
biết đâu nếu Chúa muốn Người sẽ làm
phép lạ cứu sống tôi tớ Người. Tôi có thương
tiếc ĐHY trước sự ly trần của ngài không?
Không, nhưng chỉ một chút buồn thoáng qua. Ai đọc
xin đừng hiểu lầm, tôi chỉ nói thật
những cảm nhận lúc đó của ḿnh thôi. Đối
với t́nh cảm thương tiếc đau buồn
của hầu hết anh chị em Công Giáo Việt Nam
của tôi trước sự ra đi của ngài tôi hoàn
toàn tôn trọng và thông cảm. C̣n về mối liên
hệ theo đức Tin th́ cả hơn một tháng trước
khi ngài mất hầu như không ngày nào mà tôi không
nhớ cầu nguyện cho sức khoẻ của ngài
mỗi khi dâng thánh lễ. Rồi sau khi ngài qua đời,
tôi lại cầu nguyện cho sự an nghỉ trong Chúa
của ngài liên tục trong suốt mấy tuần.
***
1.
TỪ NHỮNG CẢM NGHĨ
Những
cảm nhận tức thời ở trên đương nhiên
bị chi phối bởi những cảm nghĩ mà tôi
vốn có về ĐHY Phanxicô Nguyễn Văn Thuận
từ nhiều năm nay. Trước sự ra đi
của ngài theo lẽ thường t́nh tôi không thể không
hồi tưởng những ǵ ngài đă làm lúc c̣n
tại thế, dầu dĩ nhiên ở dưới
những khía cạnh mà tôi đặc biệt quan tâm.
Một
sự kiện không ai có thể phủ nhận đó là không
có Giám mục nào được nhiều người Công
Giáo Việt Nam ngưỡng mộ và quư mến cho
bằng ĐHY Thuận, ít nữa từ lúc ngài bị nhà
nước Cộng sản bắt giam vào năm 1975 cho
đến khi ly trần. Rất nhiều anh chị em CG
của tôi sùng mộ ngài v́ xem ngài đạo đức
thánh thiện gần như một vị thánh, nhưng hơn
hết v́ xem ngài như là người đă đem đến
nhiều đóng góp lớn lao nhất cho Giáo Hội Công
Giáo VN đặc biệt nhờ vào những chứng
từ trong tù của ngài. Thế nhưng tôi không có
được tâm t́nh tương tự như thế
đối với ngài. Lư do là v́ cảm nghĩ của tôi
về ĐHY không hoàn toàn giống như phần lớn
anh chị em CG của tôi, nhất là khi nh́n từ
những khía cạnh mà tôi đặc biệt quan tâm.
Đạo
đức của một vị thánh
Lúc
c̣n là cậu học sinh trung học rồi sau đó là
sinh viên đại học ở bên nhà tôi cũng đă
từng ngưỡng mộ và quư mến ĐHY không thua ǵ
phần lớn anh chị em CG của tôi. Cuốn "Đường
Hy Vọng" của ngài in kiểu ronéo ở VN mà tôi may
mắn có được đă một thời là cuốn
sách huấn đức tôi rất thích và thường xuyên
đọc. Tuy nhiên sau đó khi qua Mỹ năm 1990, đi
tu, thành chủng sinh, rồi trong suốt bốn năm
học thần học ở Rôma (1995-1999) với nhiều
lần gặp ngài trong những cuộc nhóm họp của
các linh mục, tu sĩ, và chủng sinh VN , tôi lại không
c̣n giữ được tâm t́nh sùng mộ như trước.
Về sau này tôi mới khám phá ra rằng không phải
chỉ một ḿnh tôi mà trong giới linh mục VN không
phải ai cũng sùng mộ ngài dù lư do hay động
lực có thể khác với tôi. Xem ra tỷ lệ
phần trăm những ai sùng mộ ĐHY Thuận cao hơn
nhiều ở nơi giới giáo dân. Dĩ nhiên tôi
vẫn kính trọng ngài như một vị Giám mục
đạo đức, có đời sống nội tâm thâm
sâu và đức Tin mạnh mẽ, nhất là được
tôi luyện qua những năm tháng dài bị giam cầm
hay quản thúc. Tôi cũng vẫn thán phục ngài như
một vị giám mục có khả năng tổ chức,
lănh đạo, và có tài thu phục nhân tâm. Nhưng
cảm nhận của tôi đối với đời
sống đạo đức của ngài chỉ có thế
thôi mà không nhiều hơn được. Tại sao như
vậy?
Có
lẽ v́ ḿnh càng lớn tuổi th́ tự nhiên càng có óc
phê b́nh và hoài nghi đối với những ai mà ḿnh lúc
c̣n nhỏ dễ cho là gương mẫu. Tôi hoài nghi như
thế chẳng qua cũng v́ nhận thấy rằng cái tôi
ích kỷ của mỗi người chúng ta ăn rễ sâu
trong ḷng chúng ta nhiều hơn là chúng ta nghĩ và không
phải bao giờ cũng dễ nhận ra nó. Nhiều lúc
nó xem ra cũng cao cả và đáng yêu lắm. Chỉ có
một ḿnh Thiên Chúa mới thấy rơ mọi căn
rễ của sự ích kỷ trong chúng ta, cái khuynh hướng
thần tượng hóa chính ḿnh. (Cám dỗ mà Adong và Evà
vấp phạm chính là cám dỗ muôn đời của con
người). Cũng chỉ
một ḿnh Thiên Chúa mới có đầy ḷng kiên
nhẫn, tha thứ, và thương xót để thanh
luyện chúng ta đến mức hoàn toàn, thường là
phải kéo dài qua bên kia nấm mồ, trong lửa
luyện ngục. Chính v́ ngoại trừ Thiên Chúa không ai
thấy rơ được mọi chiều sâu ẩn kín
trong ḷng người, nên cho dù ngay cả sau khi điều
tra nghiên cứu cẩn thận và đầy đủ,
thấy được sự thánh thiện và đức
hạnh của một cá nhân về mặt khách quan, Giáo
Hội cũng chỉ dám công bố người ấy là
tôi tớ Chúa, đấng đáng kính, nhưng vẫn không
dám bảo đảm cách tuyệt đối, bất
khả ngộ. Giáo Hội c̣n phải đợi xem con
dấu xác nhận của Thiên Chúa, nghĩa là phép lạ
từ trời cao ban xuống và là do sự chuyển
cầu của vị tôi tớ đáng kính đó, th́
mới dám tuyên phong người ấy là thánh. Và xem ra
để chắc ăn hơn, Giáo Hội đ̣i hỏi
phép lạ tới hai ṿng. Vượt qua được ṿng
đầu chỉ mới được công nhận là chân
phúc hay á thánh thôi, chỉ được tôn kính trong
mức độ địa phương hạn hẹp thôi,
phải thêm một hai phép lạ nữa th́ mới vượt
qua được ṿng hai để được công
nhận là hiển thánh, được phép tôn kính
khắp thế giới Công Giáo.
Thành
ra tôi rất dè dặt khi thấy người ta phong thánh
cho ai đó trước cả Giáo Hội, thậm chí ngay
cả khi đương sự vẫn c̣n sống. Dĩ
nhiên tôi vẫn chấp nhận một vài luật trừ,
ví dụ tôi không hề có một chút nghi ngờ rằng
mẹ Teresa thành Calcutta quả thật là một vị thánh.
Ai đọc có thể cho rằng luật trừ kiểu
đó th́ cần ǵ phải nói, vậy có phải là tôi
quá khắt khe chăng? Cũng có lẽ vậy, nhưng không
phải đối với bất kỳ ai. Tôi dễ dàng
tin một tín hữu CG là một vị thánh nếu đó
là một con người b́nh thường, đời
sống tuy thánh thiện, nhưng âm thầm, không một
chút tiếng tăm, hơn là nếu đó là một nhân
vật đă quá nổi tiếng ngay từ khi c̣n sống.
Nói ví dụ, đối với một quả phụ Công
Giáo quê mùa thất học gốc Nam Định, hết làm
u già phần lớn cuộc đời cho các cậu d́ và
mẹ tôi, th́ sau đó cuối đời đến lượt
làm bà ngoại nuôi của bọn nhỏ chị em tụi
tôi (bà đă ly trần mười mấy hai chục năm
rồi), th́ nay thành một linh mục rồi càng hồi tưởng
lại những năm tháng lúc bà c̣n sống với
chị em tụi tôi th́ tôi càng khám phá ra là chúng tôi đă
được diễm phúc sống dưới sự chăm
sóc của một vị thánh âm thầm vô danh, thế mà
lúc đó chẳng đứa nào để ư hay trân
trọng.
Cái
óc phê b́nh hoài nghi của tôi tựu trung cũng chỉ
xuất phát từ sự dè dặt nói chung thôi, chứ không
phải v́ những tiếp xúc hay quen biết gần gũi
ǵ với ĐHY cả. Nhiều lần gặp mặt ngài
ở Rôma như đă nói trên, nhưng không phải v́ thân
phận là một chủng sinh vô danh tiểu tốt vào lúc
đó cho bằng v́ cá tinh của ḿnh mà tôi luôn giữ thái
độ "kính nhi viễn chi" đối với ngài.
Suốt bốn năm ở Rôma tôi chưa một lần nói
chuyện riêng với ngài cũng như chưa một
lần đến thăm ngài tại tư gia, đi
một ḿnh hay với ai khác, dầu biết rằng tinh ngài
cũng b́nh dân, nếu có thời giờ vẫn sẵn sàng
tiếp xúc mọi giới, và nếu cha, thầy, nữ tu
nào, dù không phải là con cái thiêng liêng của ngài, nhưng
nếu cần giúp đỡ th́ bao giờ ngài cũng
rộng lượng, thậm chí giúp đến nơi
đến chốn. Chẳng biết thái độ của
tôi có phải là tự ái cá nhân không? Nhưng dù sao tôi
vốn vẫn khẳng định là Thiên Chúa không thiên
vị ai cả, không phải trọng trách hay chức
vụ làm cho người này đáng được Người
đối xử cách đặc biệt hơn là kẻ khác.
Thánh Phaolô đă từng nói thế về những vị
Tông đồ đứng đầu trong cộng đoàn
Kitô hữu ở Giêrusalem, bao gồm luôn cả thánh Phêrô
(cf. Thư gửi các tín hữu Galata 2, 6).
Ngôn
sứ hay chứng nhân cho phẩm giá con người và công
lư xă hội ở Việt Nam
Nhưng
khi nh́n vào những việc làm của ĐHY Thuận,
những khía cạnh mà tôi đặc biệt quan tâm đó
là chúng có mang những tính cách ngôn sứ hay chứng nhân
cho phẩm giá con người và công lư xă hội ở
Việt Nam hay không. Thành thật mà nói, những hành động
của ĐHY đă không hoàn toàn phù hợp với cái nh́n,
quan niệm mà tôi vốn có từ mười mấy năm
nay về sứ mạng ngôn sứ hay vai tṛ chứng nhân
của một Giám mục đă từng sống hay c̣n
đang sống dưới chế độ cộng
sản độc tài toàn trị nên có đối với
phẩm giá con người và công lư xă hội. Từ khi
ra ngoại quốc, không biết bao nhiêu lần ngài nói
đến những ngày tháng ngài ở tù nhà nước
CS, nói về sự tha thứ mà ngài học được
đối với những kẻ bắt giam và hành hạ
ngài. Nhưng nếu tôi không lầm, chưa bao giờ ngài
lên tiếng chống lại những hành vi chà đạp
của nhà nước CSVN đối với tự do tôn giáo
và những phẩm giá khác của con người cũng
như những tương quan công lư và đạo đức
trong xă hội. Lại càng không thấy ngài lên án cái
thể chế độc tài toàn trị cộng sản
Việt Nam như là cái gốc rễ xă hội và chính
trị của những hành vi phi nhân và bất công đó.
Nhưng để tránh kiểu suy nghĩ vơ đoán tôi không
thể không xét đến một vài lư do sau mà một
số anh chị em CGVN của tôi thường trưng
dẫn để giải thích hay biện hộ cho sự
im lặng của ngài.
Bị
cản trở do phận vụ Ṭa Thánh?
Không
bao lâu sau khi ngài được Ṭa Thánh đặt làm Phó
chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công Lư và
Ḥa B́nh và bắt đầu đi công cán ở quốc
gia này quốc gia nọ, một linh mục Việt Nam
dạy tại một Đại học Giáo hoàng ở Rôma
có thắc mắc tại sao không thấy đức
Tổng Thuận (bấy giờ chưa làm HY) lên tiếng
về những vi phạm nhân quyền và những bất công
xă hội ở VN. Vị linh mục thư kư và thân
cận của ngài từ khi ngài qua Rôma cho biết khi đi
công cán đây đó ngài không có quyền nói những ǵ
mà Văn pḥng Ngoại giao của Ṭa Thánh đă không phê
chuẩn hay chấp nhận trước.
Tôi
không biết lời giải thích như thế có căn
cứ tới đâu, nhưng cho dù đúng th́ tự nó
vẫn không thể giải thích được sự im
lặng của ngài nếu như ngài thực bụng
muốn lên tiếng. Thật thế, dù là Phó chủ
tịch và sau này thành Chủ tịch của Hội Đồng,
th́ không phải v́ thế mà ngài mất đi tư cách cá
nhân riêng của ngài. Nếu sợ ảnh hưởng
đến những đường lối mà Văn pḥng
Ngoại giao chủ trương th́ ngài vẫn có thể lên
tiếng với tư cách lương tâm cá nhân ngài và
đính chính trước khi lên tiếng là ḿnh chỉ nói
theo tư cách ấy mà thôi, chứ không nói như là
một viên chức hay đại diện ǵ của Ṭa Thánh
cả. Tôi chắc chắn là lên tiếng như thế Văn
pḥng Ngoại giao của Ṭa Thánh chẳng những không
thể cấm mà c̣n hoàn toàn tôn trọng. Trên thế
giới này chỉ ngoại trừ cơ chế độc
tài toàn trị của đảng cộng sản chứ không
có nhà nước nào lại đi cấm đoán và
trừng trị công dân của nó nếu họ nói bất
kỳ điều ǵ không phù hợp với nó cho dù là nhân
danh lương tâm cá nhân của họ. Phương chi
ở đây lại là cơ cấu tổ chức của
Quốc gia Vatican. Dù với tính cách phức tạp đến
đâu về mặt chính trị và ngoại giao, th́
quốc gia Vatican vẫn không có lư do hiện hữu và
hoạt động nào khác hơn là lư do thần học:
để và chỉ để phục vụ cho sứ
mạng phổ quát của vị Giám mục Rôma, đấng
kế vị thánh Phêrô, một sứ mạng không
phải chỉ mang tính cách tư tế và cai quản mà c̣n
ngôn sứ nữa, nghĩa là lên tiếng cho những
sự thật của Kitô giáo về Thiên Chúa và về con
người.
Ngược
lại với đường lối "đối
thoại"?
Một
giải thích xem ra khá hơn đó là ư kiến cho rằng
ĐHY không lên tiếng chống lại những hành vi phi
nhân và bất công của nhà nước CSVN là v́ ngài
chủ trương đường lối "đối
thoại" với nó.
Cho dù
ư kiến này có giải thích được sự im
lặng của ngài th́ về mặt khách quan nó không
thể biện minh cho thái độ đó được.
Nếu như v́ đường lối "đối
thoại" và những ích lợi khả dĩ của nó,
cho dù về mặt mục vụ, mà một vị Giám
mục không lên tiếng chống lại những hành vi phi
nhân và bất công của nhà nước CSVN, th́ khách quan
mà nói ngài đă không chu toàn sứ mạng ngôn sứ
của ḿnh. Xin miễn
giải thích tại sao tôi khẳng định như
thế.
Nhưng
đâu có phải lên tiếng chống lại và ngồi
xuống nói chuyện với nhau là hai hành động
nhất thiết loại trừ nhau như thể để
có cái này th́ không thể có cái kia và ngược lại.
Không cần hiểu hai việc làm này theo ư nghĩa Kitô giáo,
hăy xét ư nghĩa nhân bản tích cực của chúng:
một bên là v́ điều tốt, v́ lẽ phải mà lên
tiếng chống lại điều xấu, sự sai trái
thấy ở nơi nhau chứ không phải để lên
án loại trừ phẩm giá của nhau. C̣n bên kia là
ngồi xuống ôn ḥa nói chuyện với nhau để
giúp nhau nhận ra lẽ phải, từ bỏ sự sai trái,
làm điều tốt, tránh điều xấu. Hay ít
nữa cho dù sau đó không có được sự đồng
ư hay đồng thuận với nhau như vậy, th́ nói
chuyện với nhau vẫn có thể giúp hiểu nhau hơn
và giúp tiếp tục tôn trọng phẩm giá của nhau
trong lúc vẫn tiếp tục phản đối những
ǵ xấu xa, sai trái thấy ở nơi nhau. Hiểu như
thế th́ việc lên tiếng chống lại và việc
ngồi xuống nói chuyện hay đối thoại
với nhau tự chúng có thể bổ túc cho nhau, hay ít
nữa không thể loại trừ nhau mà cùng tồn
tại song song với nhau, nếu không cùng lúc, th́ ít cũng
có thể kế tiếp nhau.
Ngay
cả khi hai hành động này không được
hiểu theo nghĩa nhân bản nói trên mà theo nghĩa chính
trị và ngoại giao, th́ những ai chuyên môn trong
những lĩnh vực này cũng có thể làm chứng là
chúng không nhất thiết phải loại trừ nhau, trái
lại có thể thực hiện song song hay kế tiếp
nhau để mà hỗ trợ cho nhau. Nhưng không thể
không lưu ư sự kiện này đó là "nói
chuyện, đối thoại với nhau" và "lên
tiếng phản đối nhau"
không c̣n giống như ư nghĩa nhân bản của
chúng mà thực sự thay đổi tính chất ở
trong bối cảnh chính trị và ngoại giao. Trong
bối cảnh ấy th́ "đối thoại" thực
chất chỉ là thương thuyết, điều đ́nh,
đổi chác, thỏa hiệp, nhượng bộ, vv…
Rồi cả "nói chuyện, đối thoại với
nhau" lẫn "lên tiếng phản đối nhau"
đều không nhằm sự thật, điều tốt,
cho bằng những ích lợi thực tiễn, không
dựa trên sự tôn trọng phẩm giá ngang hàng của
nhau cho bằng sự đánh giá hơn thua về thế
mạnh yếu, về lực lượng của nhau.
Không
cần phải phân tích cũng đủ thấy "đối
thoại" giữa Vatican và nhà nước CSVN trong căn
bản không ra ngoài những giới hạn chính trị và
ngoại giao vừa nói trên. Vậy xin đừng để
mỹ từ "đối thoại" đánh lừa mà
lẫn lộn những ǵ mà Hiến chế Vui Mừng và
Hy Vọng của Công đồng Vatican II nói về đối
thoại theo những nguyên tắc thần học và nhân
bản với những thương thuyết, điều
đ́nh, vv … từ nhiều năm nay giữa Vatican và nhà
nước VN hiện nay. Đường lối hiện
nay của Văn pḥng Ngoại giao của Ṭa Thánh đối
với VN là "đối thoại" mà vẫn không
phải là đối thoại. Cũng không phải khó khăn
lắm để thấy trong "đối thoại"
như thế hiện nay Vatican hay là nhà nước VN ai
phải hạ ḿnh nhiều hơn, ai phải nhượng
bộ nhiều hơn, phía nào tỏ ra cần phía kia hơn.
Hăy so sánh như sau. Vatican lên tiếng phản đối
một số chính sách của chính quyền Mỹ dưới
thời tổng thống Bill Clinton về vấn đề
phá thai và thí nghiệm phôi sinh người. Nhưng so
với những luật lệ và chính sách của nhà nước
CSVN, những luật lệ ủng hộ phá thai hay thí
nghiệm phôi sinh người của chính quyền Mỹ
vẫn không tàn ác bằng một góc nhỏ. Nhưng
Vatican không bao giờ lên tiếng phản đối nhà nước
CSVN về chuyện này, lại càng không lên tiếng
chống lại việc nó chà đạp phẩm giá con người
nói chung, mà trong đó phá thai chỉ là một khía
cạnh. Lư do không khó thấy: chính quyền Mỹ kính
trọng Vatican, chứ nhà nước CSVN th́ không. Vatican
cần có quan hệ với nó, chứ nó thực chất
không cần quan hệ với Vatican. Và nhất là chính
quyền Mỹ không những trước sau vẫn tôn
trọng tự do tôn giáo thực sự của Giáo Hội
Công Giáo Mỹ mà c̣n kiêng nể ảnh hưởng
lớn lao của Giáo Hội trên đời sống giáo
dục, xă hội, và chính trị của nước
Mỹ. C̣n nhà nước CSVN th́ chẳng những không
muốn cho Giáo Hội Công Giáo VN có ảnh hưởng ǵ
đối với nhân dân và đất nước mà c̣n
thực sự đang đàn áp chính tự do tôn giáo
của Giáo Hội.
Nhưng
dầu sao đối với Vatican th́ nhà nước CS c̣n
xem là có tư cách, có khả năng điều đ́nh và
thỏa hiệp đối với nó, dù ở vào thế
yếu. Chứ c̣n đối với Hội Đồng Giám
Mục VN th́ nhà nước vẫn đối xử như
là một tổ chức chỉ có quyền xin phép, rồi
chờ đợi nó cho phép hay không. Thậm chí việc phàn
nàn về chính sách tôn giáo của nó cũng bị nó ngăn
chận không cho xảy ra. Cái khả năng, cái tư cách
mặc cả điều đ́nh của Giáo Hội CGVN qua
HĐGM từ năm 1975 đến nay chưa bao giờ có
trong mắt nhà nước CS. Như vậy trừ khi hàng
Giám mục VN công khai lên tiếng phản đối
việc nhà nước CS đàn áp tự do tôn giáo
của Giáo Hội, nghĩa là khẳng định công khai
và dứt khoát trước mặt nó cái thế độc
lập và tự trị cần phải có của Giáo
Hội, th́ hàng Giám mục khó mà tạo ra được
một thế mạnh nào có thể làm cho cái nhà nước
ấy phải chấp nhận cái thực quyền "đối
thoại" của Giáo Hội, dù ở đây chỉ
hạn chế vào ư nghĩa chính trị ngoại giao đang
nói, tức là khả năng điều đ́nh, mặc
cả, và thỏa hiệp. C̣n để có đối
thoại theo nghĩa nhân bản và Kitô giáo của Công
đồng Vatican II th́ không cần phải giải thích ai
cũng thấy là điều kiện cần trước
hết là thể chế độc tài toàn trị phải
chấm dứt.
Ngược
lại với đức yêu thương tha thứ của
Kitô giáo?
Cuối
cùng là ư kiến cho rằng ĐHY Thuận không lên án
những xúc phạm chà đạp của nhà nước
CSVN đối với nhân phẩm và công lư xă hội chính
là v́ ngài chủ trương yêu thương và tha thứ
đối với kẻ thù như Tin Mừng đă
dạy.
Thoạt
nghe có vẻ thuyết phục nhưng thực ra cũng
giống như ư kiến đầu tiên, ư kiến trên
tự nó không thể giải thích được sự im
lặng của ĐHY nếu giả như ngài thực
bụng muốn lên tiếng phản đối. Thật
vậy nếu như ngài thực sự muốn th́ theo lương
tâm và xác tín Kitô giáo ngài sẽ dễ dàng nhận
thấy việc lên tiếng phản đối chẳng
những không nhất thiết đối nghịch với
việc yêu thương tha thứ của Tin Mừng mà
thậm chí nhiều lúc c̣n bị nó đ̣i hỏi
phải có. Thành ra ư kiến trên khách quan không thể
biện minh cho sự im lặng của ĐHY.
Xin
miễn lư giải dông dài ở đây v́ người Công
Giáo nào đọc cũng dễ dàng t́m ra vô số ví
dụ trong Tin Mừng, trong các sách khác của Thánh Kinh,
trong truyền thống luân lư của Giáo Hội, trong đời
sống của các thánh, có thể giải thích và bảo
vệ khẳng định nói trên của tôi. Ở đây
tôi chỉ xin lưu ư hay đúng hơn nhắc lại
sự phân biệt sau. Lên án những hành động xúc
phạm chà đạp phẩm giá con người và công lư
xă hội là một chuyện; yêu thương tha thứ
đối với những kẻ làm những hành động
ấy lại là một chuyện khác. Lên án và đ̣i
hỏi phải chấm dứt hiện hữu một cơ
cấu thể chế độc tài toàn trị, căn
rễ chính trị và xă hội của sự xúc phạm
phẩm giá con người và công lư xă hội là một
chuyện, nhưng yêu thương tha thứ đối
với những cá nhân có trách nhiệm ít hay nhiều trong
việc tạo ra, duy tŕ, và bành trướng cái cơ
cấu thể chế ấy là một chuyện khác. Phân
biệt như thế th́ việc yêu thương tha
thứ không thể đối lập với việc lên
tiếng chống lại và hơn nữa c̣n đ̣i
hỏi nó ít nữa là nếu như làm vậy bề lâu
bề dài giúp làm cho những điều ác, điều
xấu giảm thiểu hay chấm dứt. Việc tôi yêu
thương tha thứ cho tha nhân không thể không bao
gồm việc tôi giúp tha nhân bớt hay hết làm điều
xấu, kể cả bằng cách lên án điều xấu
mà tha nhân làm, cho dù về phía tha nhân, đặc biệt
khi không hề muốn từ bỏ điều xấu,
họ có thể hiểu lầm mà cho là tôi thù ghét họ
khi tôi làm vậy.
Với
những hạn chế
Tuy
cố gắng căn cứ trên những lư lẽ chính
đáng, những cảm nghĩ của tôi thật ra
vẫn mắc nhiều hạn chế. Trước hết
tuy hợp lư chúng cũng chỉ là những cảm nghĩ
của tôi về những việc làm của ĐHY Phanxicô
Xaviê Nguyễn Văn Thuận ở dưới một vài
khía cạnh khách quan thôi chứ không phải là tất
cả. Tôi không có khả năng cũng như không có
quyền bàn đến sự thánh thiện của cá nhân
ngài dù nh́n cách khách quan. Nên ở trên tôi chỉ nêu lên
cảm nghĩ dè dặt nói chung thôi có thể áp dụng
cho bất kỳ một ai khác kể cả chính tôi. Tôi
chỉ nói về sứ mạng ngôn sứ của ĐHY
chứ không đụng đến những sứ mạng
chủ chăn khác của ngài. Nhưng xét như là Linh
mục rồi Giám mục ngài không phải được
gọi chỉ làm ngôn sứ thôi nhưng c̣n làm tư
tế và người cai quản
nữa. Rồi ngay cả khi nói về sứ mạng
ngôn sứ tôi cũng chỉ hạn chế trong phạm vi
phẩm giá con người và công lư xă hội xét ở dưới
thể chế độc tài toàn trị. Nhưng sứ
mạng ngôn sứ cũng làm chứng cho nhiều lĩnh
vực khác. Một điều không thể phủ nhận
được đó là Thiên Chúa đă và đang làm phát
sinh ra nhiều ích lợi thiêng liêng ở nơi những
ai nghe hay đọc những ǵ mà ĐHY từng nói về
ḷng tha thứ đối với kẻ thù và về
niềm tín thác cậy trông trong cảnh khó khăn bế
tắc.
Rồi
những lư lẽ của tôi chống lại những ư
kiến biện minh cho sự im lặng của ngài cũng
chỉ nhắm đến khía cạnh khách quan của
sứ mạng ngôn sứ đối với phẩm giá con
người và công lư xă hội, nghĩa là việc lên
tiếng cho những giá trị này xét trong chính bản
chất của nó. Nhưng tôi không thể biết
những hoàn cảnh khách quan và chủ quan liên quan đến
sự im lặng của ngài. Tôi lại càng không biết
những ư định, những chọn lựa cá nhân
của ngài liên quan đến sự im lặng đó. Tôi
làm sao biết được ngài có đau khổ trong ḷng
hay không đứng trước những ư định và
chọn lựa ấy, và nếu có đó là những đau
khổ nào? Tôi làm sao biết được bên cạnh
những đau khổ ấy ngài có c̣n nuôi những hoài
bảo, dự án mà ngài hy vọng những ư định,
chọn lựa ấy một cách nào đó có thể giúp
ngài thực hiện nhằm phục vụ Giáo Hội CGVN
về một số mặt nào đó, và nếu có th́
đó là những hoài băo, dự án nào?
Với
đủ thứ hạn chế đă nêu trên, những
cảm nghĩ của tôi dù hợp lư tới đâu cũng
chỉ nhắm đến những việc làm của ĐHY
nh́n dưới một ít khía cạnh khách quan bên ngoài.
Nếu đem so sánh với một bức tranh mô tả
việc làm và con người ngài một cách toàn diện
dù chỉ dưới cái nh́n khách quan, th́ những cảm
nhận của tôi chỉ là một mảnh rất
nhỏ. Một mảnh nhỏ như thế lại càng không
nói được chút ǵ về chính bản thân cá nhân
hay con người bên trong của ĐHY cũng như
về những hoàn cảnh trực tiếp ảnh hưởng
đến bản thân ngài. Điều trước th́ tôi
không có khả năng để biết và càng không có
quyền xét đoán, c̣n những điều sau th́ tôi
đơn giản chỉ là không biết và nếu có
biết th́ khó mà biết đích xác.
2.
ĐẾN TIN TƯỞNG CẬY TRÔNG
Tuy
nhiên một vài giây phút thinh lặng suy tư về chính cái
chết của ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
cũng đủ để mở rộng ḷng tôi vượt
qua những cảm nghĩ vốn có của ḿnh về
những ǵ ngài đă làm trong quá khứ. Cái chết
của một con người không chỉ gợi lại
trong ta những hoài niệm quá khứ về người
ấy. Nó cũng khiến ta đặt câu hỏi về
sự hiện hữu của người ấy sau khi ly
trần. Người ấy nay đi về đâu? Chưa
hết, cái chết của người khác cũng nhắc
nhở ta về cái chết của chính ḿnh. Chính ta sẽ
đi về đâu sau khi chết? Đối với
một tín hữu Công Giáo, những điều này giúp vén
màn để nh́n qua một khung cửa sổ mới,
cửa sổ của niềm tin tưởng, của ḷng
cậy trông vào Thiên Chúa. Khung cửa sổ ấy hướng
cái nh́n của chúng ta đến với Đấng duy
nhất có quyền trên kẻ chết, Đấng duy
nhất thấu suốt mọi điều ẩn kín trong ḷng
chúng ta, nhưng đồng thời cũng là Đấng
giàu ḷng thương xót và tha thứ đối với
những yếu hèn và tội lỗi của chúng ta,
thừa khả năng giải thoát và đưa chúng ta vượt
lên trên những bế tắc, ngơ cụt của sự
dữ.
Nh́n
qua cửa sổ của tin tưởng và cậy trông không
nhất thiết phải khiến tôi quay lưng lại mà
phủ định những cảm nghĩ vốn có
của tôi ở trên về những việc làm của
ĐHY, nhưng mạnh mẽ nhắc nhở tôi về
những hạn chế bất toàn của chúng. Dù có đúng,
những cảm nghĩ đó cũng chỉ đúng ở
dưới một số khía cạnh hạn hẹp, cũng
chỉ đúng trong một chừng mực nào đó thôi,
bởi lẽ chúng vẫn là nh́n từ phía con người
hữu hạn. Do đó nh́n qua cửa sổ của tin tưởng
và cậy trông khiến tôi không bị giam cầm đóng
kín trong những cảm nghĩ của ḿnh nhưng mở ḷng
ra đối với những ǵ ḿnh không nh́n thấy hay không
có thể nh́n thấy.
Nh́n
từ phía con người những cảm nghĩ của tôi
về những việc làm của ĐHY mang những
giới hạn không chỉ của riêng tôi mà c̣n là
những giới hạn thuộc về khả năng
hiểu biết của bất kỳ con người nào:
những giới hạn thuộc về mẫu số chung là
người. Chỉ không c̣n giới hạn khi nào con người
và việc làm của ĐHY được nh́n từ phía
Thiên Chúa. Và đối với một tín hữu Công Giáo
th́ được nh́n từ phía Thiên Chúa mới là điều
đáng kể nhất, mới là cái nh́n măi măi c̣n đó,
kể cả sau khi mọi cái khác qua đi. Con người
và việc làm của ĐHY Thuận có nh́n từ phía Thiên
Chúa th́ mới nh́n hết được và mới
thực sự là nh́n một lần sau cùng cho măi măi.
Dù tôi
biết rơ tôi hơn người nào khác biết tôi, th́
con người và việc làm của tôi được nh́n
như thế nào từ phía Thiên Chúa cũng vẫn là
một mầu nhiệm đối với chính tôi. Nếu
thế th́ con người và việc làm của một con
người khác như ĐHY Thuận được nh́n
như thế nào từ phía Thiên Chúa càng là một
mầu nhiệm cho tôi. Đă là một mầu nhiệm th́
hiểu biết không c̣n có chỗ thích hợp và quan
trọng cho bằng tin tưởng và cậy trông. Hơn
nữa ngay cả những cảm nghĩ của tôi về
những việc làm của ngài mà tôi cho là phù hợp
với những xác tín và lư lẽ khách quan của Tin
Mừng cũng phải nhường chỗ ưu tiên cho
một niềm tin tưởng và ḷng cậy trông thuần
túy vào cái nh́n mà Thiên Chúa có đối với đứa
con này của Người.
Cho nên
con người và việc làm của ĐHY Thuận nh́n
từ phía Thiên Chúa tôi không hiểu được, không
biết được, cũng không cảm nhận
được. Tôi chỉ tin tưởng và cậy trông vào
ḷng thương xót và quyền năng của Thiên Chúa
đối với con người và việc làm của ngài.
Cũng giống như tôi tin tưởng và cậy vào ḷng
thương xót và quyền năng ấy đối
với chính tôi hay một ai khác. Sự khiêm hạ Kitô giáo
giúp mỗi người chúng ta tin tưởng rằng cho dù
nh́n từ phía con người những yếu hèn hay
hậu quả của tội lỗi, những bế
tắc, những thế kẹt, những ngơ cụt xem ra không
có thể gỡ ra hay tách khỏi con người và
việc làm của chúng ta, th́ những cái xấu này
vẫn không thể gây khó khăn cho khả năng
giải thoát và siêu thăng của ḷng thương xót tha
thứ mà Thiên Chúa có đối với chúng ta. Ngay cả
khi chính chúng ta ít nhiều chịu trách nhiệm cho
những cái xấu đó, th́ không phải v́ thế mà chúng
có thể bắt chẹt được quyền năng
của ḷng thương xót Người.
Tin tưởng
như thế không giải thoát chúng ta khỏi những
cảm nhận đau khổ mà những cái xấu đó
cách này cách khác gây ra nơi chúng ta nhưng đưa
đến sự cậy trông an b́nh ngay ở giữa
những đau khổ ấy. ĐHY Thuận ít nữa là
hai lần đă đau khổ rất nhiều về
những bế tắc, đường cùng trong cuộc
đời ngài. Vừa mới được đặt làm
phó Tổng giám mục Sài G̣n với biết bao hy vọng
và dự án có sẵn th́ bị bắt giam, quản thúc
suốt 13 năm. Vừa mới được tấn phong
Hồng Y với biết bao khả năng và công việc
sắp sửa có điều kiện rất tốt để
thực hiện và hoàn thành th́ phải đối diện
với căn bệnh nan y phát triển vào giai đoạn
bất trị. Hơn nữa những năm tháng cuối
đời này có lẽ đau khổ của ngài không
phải chỉ có thế! Nhưng tôi có thể khẳng
định rằng ở giữa những đau khổ trước
kia hay sau này, ĐHY vẫn luôn tin tưởng vào quyền
năng của ḷng thương xót mà Thiên Chúa dành cho con
người và việc làm của ngài. Ngài vẫn luôn
cậy trông vào quyền năng của ḷng thương xót
đó như là câu trả lời sau cùng và ư nghĩa
nhất cho cuộc sống và những việc làm của ḿnh.
***
Sau
ngày 16 tháng 9 năm 2002 ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn
Thuận không c̣n đau khổ như trước nữa v́
ngài bắt đầu thấy rơ ràng từ phía cái nh́n
của Thiên Chúa những hoa quả mà ḷng thương xót
quyền năng của Người đă và đang
thực hiện trên con người và công việc của
ngài. V́ lúc này ĐHY đang thấy được rơ ràng
như thế, nên cái nh́n của chính ngài trước
đây về con người và việc làm của ḿnh, hay
những cảm nghĩ nói ở trước của tôi,
tất cả đều đă để lộ ra hoàn toàn
bộ mặt thiếu sót, bất toàn, và tạm thời
của chúng. Những cái nh́n hay cảm nghĩ đó qua
đi mà không c̣n để lại ngay cả một chút ư
nghĩa đối với ngài lúc này đây cũng như
măi măi về sau. ·
Lễ
Kỷ niệm cung hiến hai Đền thờ Thánh Phêrô
và Thánh Phaolô 18/11/2002
Tổng Giáo phận Hoa Thịnh Đốn