Lễ
Giáng Sinh
của
đời sống người Kitô-hữu
Đ.Ô.
Trần văn Hoài
Là
người tín-hữu giáo dân muốn làm tông đồ
nghĩa là muốn chu toàn bổn phận kitô hữu
của ḿnh giữa trần thế,theo tinh thần Phúc âm,
chúng ta không thể không t́m hiểu nguồn gốc ư nghĩa
nhập thế của Giáo hội.
Bổn
phận nhập thế của Giáo hội là một
bổn phận căn bản phát xuất từ mầu
nhiệm Nhập-thể của Ngôi Lời Con Thiên Chúa.
Và
Ngôi Hai đă xuống thế làm người,
Và
ở cùng chúng ta.
Và
thánh Gioan giải thích tiếp theo :
Ngài
ở trong thế gian,
Và
thế gian do Ngài dựng nên,
Và
thế gian không nhận ra ngài
Ngài
đến nhà Ngài,
Nhưng
bà con Ngài không đón tiếp Ngài. (Gio.1,10-11)
Đó
là tâm trạng của con người, của xă hội loài
người khi Ngôi Hai đến để ở với
họ.
Nhưng
Ngôi Hai Thiên Chúa vẫn tiếp tục chương tŕnh
cứu chuộc của Chúa Cha đă tiền định là
quy tụ mọi loài mọi vật trên trời dưới
đất dưới quyền một vị thủ lănh
độc nhất là đức Kitô v́ chúng ta đă
được ơn cứu rỗi và ơn tha tội
nhờ máu Ngài đổ ra. (Eph.1,1-11).
Sau
đây là chương tŕnh nhập-thế của đức
Kitô được thánh Luca ghi lại, khi đức Kitô
bắt đầu công việc rao giảng Tin Mầng :
Thánh
Linh Chúa ngự xuống trên tôi,
V́
Ngài đă xức dầu thánh hiến tôi,
Để
tôi đem tin mầng cho người nghèo khó,
Ngài
đă sai tôi loan báo sự giải thoát cho những ai
bị bắt cầm tù,
Và
cho kẻ đui mù được thấy ánh sáng,
Trả
tự do cho kẻ bị áp bức,
Công
bố năm hồng ân của Chúa tể.
(Lc.4,18-20)
Đây
là chương tŕnh Nhập-thế nhằm cải tạo
xă hội con người đầy tội lỗi và
bất công. Biết rằng mục đích của đức
Kitô trong chương tŕnh cứu chuộc là đổi
mới con người. Nhưng đổi mới con người,th́
phải đổi mới xẵ hội nó đang sống
như tục ngữ chúng ta thường nói: Gần
mực th́ đen,gần đèn th́ sáng hay là: Ở
ống th́ tṛn ở bầu th́ dài. Cũng như người
gieo giống. Nếu họ không làm đất cho sạch
gai gốc đá sỏi th́ hạt giống gieo xuống
sẽ bị chết nghẹt không thể mọc lên
được. Một xă hội thối nát đầy
bất công,đầy tệ đoan,đầy mọi
thứ tội lỗi,làm sao con người mọc lên
được nghĩa là trở nên tốt được?
Đức
Giêsu vừa rao truyền tin mầng là hạt giống,
vừa cải tổ xă hội là đám đất để
hạt giống tin mầng có thể mọc lên được.
Theo
bài Phúc âm của thánh Luca, chúng ta thấy xă hội
thời Chúa Giêsu có những tệ đoan,những gai
gốc sỏi đá sau đây: Đó là các người
nghèo khổ không ai nghĩ tới để giúp đỡ
như chúng ta thấy trong dụ ngôn người giàu có
với người ăn mày Lazarô (Lc.16,19-30). Hạng người
thứ hai những kẻ bị tù đày. Hạng người
thứ ba là những kẻ đui mù, bệnh tật, và
sau hết là hạng người bị áp bức.
Có
lẽ đây là h́nh ảnh của mọi xă hội con người
qua mọi thời đại nhất là xă hội Việt
nam hôm nay. Chúng ta thử đọc lại đoạn
đầu của dụ ngôn người giàu có trong Phúc
âm của thánh Luca sẽ thấy: Có một người giàu
có ăn mặc sang trọng lụa là và mỗi ngày ăn
uống toàn nem công chả phụng. Và một người
nghèo khổ, tên là Lazarô, nằm trước cữa dinh ông
nhà giàu ḿnh đầy ung nhọt. Việt Nam hôm nay là
một trong những nước nghèo đói nhất
thế giới và cũng là một nước có nhiều
người giàu có mà sống vô nhân đạo. Việt
Nam cũng là một nước có nhiều người
bệnh tật mà không được nhà nước
chiếu cố cấp dưởng. Việt Nam cũng là nước
có nhiều người bị áp bức, bị cầm tù
một cách rất bất công.
Trong
chương tŕnh cứu chuộc của đức Kitô, th́
tất cả những hạng người trên đều
có phúc. Chúng ta hăy nghe Ngài tuyên bố:
Phúc
cho kẻ nghèo khó,v́ nước trời là của họ.
Phúc
cho kẻ phải ưu sầu phiền muộn,v́ họ
sẻ được an ủi.
Phúc
cho ai khao khát sự công chính,v́ họ sẻ được
no thỏa.
Phúc
cho ai t́m cách kiến tạo nền ḥa b́nh,v́ họ
sẻ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc
cho những kẻ bị bắt bớ v́ lẽ công chính,v́
nước trời thuộc về họ.
Phúc
cho các con khi bị người ta nhục mạ,bắt
bớ và bị cáo gian về mọi điều bỉ
ổi v́ danh thầy. Chúng con hăy vui mầng hân hoan v́
phần thưởng của chúng con ở trên trời
sẽ được bội hậu.
(Mt.5,3-12)
Tại
sao những hạng người nầy lại có phúc ?
V́
những người nghèo khổ,những kẻ bị áp
bức tù đày-- là những nạn nhân của tội
lỗi,của các tổ chức bất công trong một xă
hội thối nát. Đức Giêsu là con chiên gánh tội
trần gian, nên ngài nhập thế để gánh hết
mọi hậu quả của tội lỗi,là yêu thương
những nạn nhân của tội lỗi đến
nỗi Ngài đồng hóa chính ḿnh ngài với những
kẻ nghèo khó bệnh tật tù đày. Chính Ngài tuyên
bố rằng Ngài với những kẻ đói khát
bệnh tật tù-đày - là một. Đọc lại ư
nghĩa bài Phúc âm nói về ngày Phán xét chung, chúng ta
sẽ thấy.
Khi
Con người ngự đến trong vinh quang,các thiên
thần Chúa phân biệt người lành kẻ dữ
đứng bên hữu và bên tả Ngài, th́ Ngài phán
với các kẻ lành như sau:
Hỡi
những người được Cha ta chúc phúc hăy đến
nhận phần gia nghiệp Nước trời đă
dọn sẵn cho các con từ ngày tạo dựng thế
gian. Bởi v́ khi ta đói các con đă cho ta ăn,k hi ta khát
các con đă cho ta uống,khi ta lưu vong các con đă
đón tiếp, khi ta nghèo khổ trần truồng các con
đă cho áo mặc, khi ta bệnh hoạn chúng con đă thăm
viếng, khi ta bị tù tội các con đă đến
gặp gỡ ủi an. Khi ấy các người lành
trả lời: Có khi nào chúng con thấy Chúa đói mà cho
ăn, Chúa khát mà cho uống, Chúa lưu vong mà đón
tiếp, Chúa trần truồng mà cho áo mặc, Chúa
bệnh hoạn và bị tù mà thăm viếng đâu? Và
Chúa trả lời: Ta nói thật với các con, khi các con làm
những điều nầy cho một trong những anh em hèn
mọn nhất của ta, đó là chúng con làm cho chính ḿnh
ta.
Rồi
Chúa hướng về phía người dữ và lên án
phải vào lửa hỏa ngục đời đời v́
khi ở đời đă không cho kẻ nghèo đói ăn,không
cho kẻ khát uống,không thăm viếng người
tật bệnh tù tội... (Mt.25,31-46)
Như
vậy đức Giêsu Kitô đă đưa ra cho chúng ta
một tiêu chuẩn rơ ràng để phân biệt đâu là
đời sống kitô-hữu thật sự và đâu là
đời sống kitô-hữu sai lầm: Đời
sống kitô-hữu thực sự không chủ tại siêng
năng xem lễ đọc kinh,giữ ngày Chúa nhật,
hoạt động tông đồ trong nhiều hội
đoàn… Đây chỉ là phương thế. Và chúng ta
đừng hiểu lầm phương thế thành mục
đích. Đời sống kitô-hữu thực sự cũng
không chủ tại đời sống tu tŕ hay chức thánh
của các linh mục giám mục. Đây là chức vụ
Chúa Giao phó để điều hành và thánh hóa Dân Chúa.
Nếu không sống đời sống kitô-hữu thực
sự th́ các vị ấy cũng không thể chu toàn
chức vụ cao cả Chúa đă trao phó.
Vậy
bản chất của đời sống kitô-hữu
thực sự là sống như đức Kitô đă
sống nghĩa là Đồng hóa ḿnh với các nạn nhân
của tội lỗi. Ngày nào chúng ta nói được như
thánh Phaolô: Tôi sống mà không phải tôi sống mà chính
đức Kitô sống trong tôi. Nghĩa là chúng ta đau cái
đau của kẻ đau, khổ cái khổ của
kẻ khổ.
Khi
Chúa Kitô nói: Tất cả các lề luật, các lời tiên
tri, các điều răn-- chỉ tóm lại trong hai điều
là mến Chúa hết ḷng và yêu thương anh em như chính
ḿnh th́ chúng ta phải hiểu chính đức Kitô đă
sống đức ái nầy trước hết để
làm gương cho chúng ta hiểu điều nầy là:
Đức ái của đời sống kitô-hữu không
phải là một hành động trong một hoàn cảnh
nào đó. Không! Đức
ái của Chúa Kitô là một trạng thái của tâm
hồn: Người kitô hữu phải nh́n tất cả
những kẻ nghèo đói,bệnh tật,tù tội,áp
bức-- nạn nhân của tội lỗi, như chính
bản thân ḿnh và ḿnh có bổn phận phải làm
mọi cách để cứu vớt họ.
Chương
tŕnh cứu chuộc của đức Kitô, Ngài đă trao
lại cho Giáo hội của Ngài tiếp tục, v́ Giáo
Hội là thân thể của Ngài.
V́
thế chúng ta có thể nói: Giáo Hội của Chúa Kitô là
Giáo hội của người nghèo, là Giáo hội của
kẻ bị bắt bớ áp bức. Bởi Giáo hội
đă nhận lănh sứ mệnh nhập thế của
đức Kitô.
Qua công
đồng Vatican II, Giáo hội đă ư thức một cách
rơ ràng sứ mệnh nhập thế nầy. Trong hiến
chế Vui Mầng và Hy vọng công đồng tuyên
bố:
Vui
mầng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con
người ngày nay,nhất là của người nghèo và
của những ai đau khổ, cũng là vui mầng và hy
vọng, ưu-sầu và lo lắng của các môn đệ
Chúa Kitô. Và không có ǵ thực sự là của con người
mà lại không gieo âm hưởng
trong ḷng họ. Thực vậy cộng đoàn
của họ được cấu tạo bằng
những con người đă được quy tụ
trong Chúa Kitô,được Chúa Thánh thần hướng
dẫn trong cuộc lữ hành về nước Cha và
đă đón nhận tin mầng cứu rỗi đem đến
cho mọi người. V́ thế cộng đoàn ấy
mới nhận thấy ḿnh thực sự liên hệ
mật thiết với loài người và lịch sử
nhân loại... (số 1.)
Một khi đă ư thức được sứ-
mệnh của ḿnh là tiếp tục cuộc sống
nhập-thế của đức Kitô và ư thức
được t́nh liên đới với nhân loại, Giáo
hội phải làm ǵ ?
Giáo
hội phải thi hành mệnh lệnh truyền giáo
của đức Kitô đă trao phó trước khi Ngài lên
trời. Ngài nói với 11 vị môn đệ như sau :
Mọi
quyền phép trên trời dưới đất đă ban
cho Thầy.Vậy chúng con hăy đi rao giảng và tuyển
chọn các đồ đệ trong mọi dân mọi nước,rửa
tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần và
dạy cho họ giữ các điều Thầy đă
truyền dạy cho các con. Và đây Thầy ở với
các con mọi ngày cho đến tận thế. ( Mt.28,18-20 )
Trong
hiến chế Truyền giáo Ad Gentes của công đồng
Vatican II, Giáo hội giải thích sứ mệnh truyền
giáo của ḿnh như sau:
Tự
bản tính,Giáo hội lữ hành phải truyền giáo v́
chính Giáo hội bắt nguồn từ sứ mạng
của Chúa Con và Chúa Thánh thần theo ư định
của Chúa Cha… Ư định của Thiên Chúa nhằm
cứu rỗi toàn thể nhân loại không phải chỉ
được thực hiện một cách có thể nói là
kín đáo, trong tâm trí con người… Nhưng để
cũng cố sự giao ḥa hay là mối hiệp thông cùng
Thiên Chúa, và để xây dựng một xă hội huynh
đệ giữa con người, những con người
tội lỗi, Ngài đă quyết định đi vào
lịch sử loài người một cách mới mẻ và
dứt khoát bằng cách sai Chúa Con mặc lấy xác phàm
chúng ta để nhờ Chúa Con Ngài giải thoát nhân
loại khỏi quyền lực tối tăm và Satan và
để trong Chúa Con Ngài ḥa giải thế gian với chính
Ngài. Thật vậy nhờ Chúa Con Ngài đă sáng tạo vũ
trụ nên Ngài cũng đạt Chúa Con thừa hưởng
vũ trụ để trong Chúa Con mọi sự được
tái lập (số 3.)
Bản
văn nầy phân tích cho chúng ta thấy ư định
cứu rỗi của Thiên Chúa gồm hai phần: Trước
tiên là t́m cách giao ḥa con người lại với Thiên
Chúa. Tiếp đến là xây dựng một xă hội
huynh đệ giữa con người. Để thực
hiện hai mục đích nầy, Ngài sai Con Ngài là Ngôi
Lời nhập thể làm người để sống
với con người một cuộc sống nhập
thế.
Giáo
hội đang thực hiện hai mục đích nầy
trong việc truyền giáo của ḿnh. Và Giáo hội
thực hiện qua các con cái của ḿnh,nhất là qua các
giáo xứ, các xứ đạo. V́ Giáo xứ là chính Giáo
hội sống giữa con cái nam nữ của ḿnh.
Nếu
nh́n vào sự sống của các giáo xứ Việt Nam chúng
ta trong cũng như ngoài nước, chúng ta phải thú
nhận rằng chúng ta chưa sống đúng theo tinh
thần truyền giáo Phúc âm của Giáo hội. Bởi
lẽ chúng ta chỉ chú trọng một trong hai mục
đích của Ư định của Thiên Chúa là t́m cách
giao ḥa con người lại với Thiên Chúa. C̣n mục
đích thứ hai là xây dựng một xă hội huynh
đệ giữa con người th́ chúng ta lại cố
ư bỏ quên.
Chúng
ta hăy đọc lại đoạn 4 của Phúc âm thánh
Luca chúng ta sẽ thấy đức Giêsu Kitô hành động
ngược hẳn lại với hoạt động
của các cha xứ trong các xứ đạo Việt Nam:
Sau khi thánh Luca kể lại việc đức Giêsu Kitô
đưa ra chương tŕnh hành động nhập
thế và bị bà con láng giềng định xô xuống
vực thẳm,Ngài liền bỏ thành Nazarét quê quán
của Ngài đi qua thành Capharnaum.Ở đây ngài rao
giảng Phúc âm và chửa lành các bệnh tật :chữa
người bị quỷ ám,chữa cho bà nhạc gia
của thánh Phêrô khỏi sốt rét, và tất cả
những người bị đủ các thứ bệnh…
(Lc.4,18-41). Đối với đức Kitô rao truyền tin
mầng không chỉ chủ tại lời nói, nhưng
chủ tại làm sao cho con người đang sống
lầm than khổ năo căm nghiệm được Tin
Mầng thể hiện trong cuộc sống của họ.
V́ thế ngài bị tố cáo sống thân thiện
với người tội lỗi, với hạng người
bần cùng trong xă hội. Nhưng ai là người
cần tin mầng hơn những người tội
lỗi,những nạn nhân của tội lỗi? V́ người
thánh thiện, người giàu có họ đă được
tin mầng do lời ca tụng tôn vinh của dân chúng
rồi!
Một
cách cụ thể chúng ta hăy nh́n vào chương tŕnh sinh
hoạt của một cộng đoàn giáo xứ Việt
nam ở hải ngoại: Trước tiên là các việc
đạo đức như xưng tội rước
lễ, đi lễ ngày Chúa-nhựt, siêng năng kinh
nguyện hôm mai… nghĩa là các sinh hoạt của mục
vụ bí-tích.
Tiếp
đến là sinh hoạt các hội đoàn công giáo
tiến hành như hội Đạo binh đức Mẹ,
Cursillos, tông đồ Fatima, hội các bà mẹ công giáo,nghĩa
binh thánh thể. Có người gia nhập đến 3, 4
hội đoàn đến nỗi không c̣n th́ giờ lo các
bổn phận khác.
Các
hội đoàn được Giáo hội khuyến khích
để làm phương tiện giúp chúng ta sống đạo
và làm việc tông đồ. Nhưng chúng ta lại
giới hạn việc tông đồ của chúng ta trong
ranh giới một giáo xứ không nghĩ đến người
anh em ngoài công giáo đang ở kế cận giáo xứ
của ḿnh, và cũng giới hạn việc tông đồ
trong chiều kích duy nhất đạo đức không nghĩ
đến hoàn cảnh cụ thể xă hội mà chúng ta có
bổn phận phải thánh hóa. Một trong những ư nghĩa
chính của mầu nhiệm nhập thể là cải
tạo xă hội loài người.
Đức
Giêsu nhập thế, Giáo hội nhập thế, nhưng
cộng đoàn giáo xứ th́ xuất thế sống như
một ḥn đảo thiêng liêng lơ lửng trên không
trung trong thế giới riêng của ḿnh.
Để
biện minh cho cuộc sống xuất thế của ḿnh có
người đă tuyên bố: người công giáo không làm
chính trị .
Chính
đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II,trong tông huấn gởi người
t́n hữu giáo dân đă bác bỏ luận điệu
ngụy biện nầy: Ngài viết:
Để
đem đời sống Kitô-hữu vào trật tự
trần thế, nghĩa là đem đạo vào đời,
theo ư nghĩa là phục vụ con người và xă
hội, các tín hữu giáo dân tuyệt đối không
thể từ chối tham gia vào việc chính trị, nghĩa
là tham gia vào các hoạt động mang nhiều sắc thái
như hoạt động kinh tế, xă hội, lập pháp,
hành chánh, văn hóa có mục đích cổ vơ công ích
một cách có cơ chế. (số 42)
Tiếp
đến đức giáo hoàng c̣n nhắc lại lời
của các nghị phụ công đồng Vatican II tuyên
bố: Mọi người tín hữu và mổi người
có quyền lợi và bổn phận phải tham gia vào chính
trị dưới nhiều h́nh thức khác nhau.
Theo
định nghĩa của đức Giáo hoàng Gioan Phaolô
II th́: Chính trị là việc tổ chức một xă
hội trong mọi cơ cấu của nó,từ lập pháp,
hành pháp đến kinh tế văn hóa.
Có
lẽ người tuyên bố: chúng tôi không làm chính
trị, người công giáo không làm chính trị… v́
hiểu rằng chính trị là một hoạt động
đầy mưu mô xảo quyệt để đạt
tới quyền thế danh vọng tiền tài. Nhưng cũng
chính đức Giáo hoàng nầy trả lời cho các
vị ấy như sau :
Chúng
ta thường nghe nói những nhà cầm quyền, các
quốc hội,các giai cấp lănh đạo và các đảng
phái chính trị bị tố cáo là những kẻ lợi
dụng thời cơ,tôn thờ quyền bính,ích kỷ và
tham nhủng. Chúng ta cũng nghe dư luận quần chúng
đó đây bảo rằng chính trị là nơi đầy
dẫy hành động vô luân lư. Tất cả những
lời khinh khi nầy không cách nào bào chữa được
cho người công giáo trốn tránh chính trị hay nghi
ngờ công việc chung. (id.42.)
Công
đồng Vatican II lên án nặng nề những ai tuyên
bố phân tách các hoạt động trần thế như
hoạt động chính trị ra khỏi đời
sống kitô-hữu, v́ làm như vậy là hiểu sai
lạc Mầu nhiệm Nhập thể của đức
Kitô.
Chính
công đồng đă ra một hiến chế rất quan
trọng để khẳng định lập trường
và đức tin của Giáo hội đối với
Mầu nhiệm Nhập thể. Đó là Hiến chế
Vui Mầng và Hy vọng nói về Giáo hội trong thế
giới ngày hôm nay. Lời lên án nặng nề nói trên
được ghi rơ như sau :
Công
đồng khuyến khích các Kitô-hữu, công dân của
hai thành tŕ (hai nước) hăy nổ lực và trung thành
chu toàn những bổn phận trần thế của
họ dưới sự hướng dẫn của tinh
thần Phúc âm.
Thực
sai lầm cho những ai biết rằng chúng ta không có
một quê hương trường tồn ở trần
thế mà phải kiếm t́m một quê hương
hậu lai,mà lại tưởng rằng ḿnh có thể xao
lăng các bổn phận trần thế; làm như thế là
không hiểu rằng chính đức tin buộc phải chu
toàn các bổn phận đó hoàn hảo hơn, mỗi người
tùy theo ơn gọi của ḿnh.
Ngược
lại cũng sai lầm không kém đối với
những ai nghĩ rằng có thể dấn thân hoàn toàn vào
các sinh hoạt trần thế như thể các sinh
hoạt ấy hoàn xa cách với đời sống đạo
đức của đức tin,v́ cho rằng đời
sống đạo đức chỉ chủ tại
những hành vi phụng tự và một vài bổn
phận luân lư phải chu toàn mà thôi. Sự phân tách giữa đức tin mà
họ tuyên xưng với cuộc sống thường
nhật mà nhiều người chủ trương,đó
là một trong những sai lầm trầm trọng nhất
của thời đại chúng ta. Và gương mù nầy
trong Cựu ước các tiên tri đă mạnh mẽ
tố cáo (Is.58,1-12) và trong Tân ước chính Chúa Giêsu c̣n
đe dọa nặng nề hơn nữa bằng những
h́nh phạt rất nghiêm giặt. (Mt.23,3-33) .
Đối
với người kitô hữu,xao lăng bổn phận
trần thế tức là xao lăng bổn phận đối
với tha nhân và hơn nữa đối với chính Thiên
Chúa,khiến phần rỗi đời đời của ḿnh
bị đe doạ. (số 43.)
Nếu
phân tích lời tuyên bố của Công đồng chúng ta
thấy Công đồng nhấn mạnh những điểm
sau đây:
Công
đồng kêu gọi và khuyến khích tất cả
mọi kitô hữu không phân biệt là giáo dân tu sĩ hay
linh mục giám mục phải chu toàn bổn phận
trần thế.
Mỗi
người tùy theo ơn gọi của ḿnh phải chu toàn
các bổn phận ấy theo sự hướng dẫn
của tinh thần phúc âm.
Đức
tin không phải là một trở ngại cho các hoạt
động trần thế. Ngược lại đức
tin buộc phải chu toàn các bổn phận ấy hoàn
hảo hơn.
Phân
tách đức tin ra khỏi đời sống thường
nhật của con người đó là một sai lầm
trầm trọng nhất trong thời đại chúng ta.
Theo
sự hướng dẩn của Công đồng chúng ta
thấy: mỗi người theo ơn gọi của ḿnh
phải chu toàn các bổn phận trần thế, Giám
mục theo ơn gọi của giám mục, linh mục theo
ơn gọi của linh mục và giáo dân theo ơn gọi
của giáo dân.
Nhưng
trong lănh vực các hoạt động trần thế,người
tín hữu giáo dân đóng vai tṛ chính giữa sân khấu
cuộc đời v́ Tính cách trần thế của
họ. C̣n các vị lănh đạo tinh thần có trách
nhiệm đào tạo hướng dẫn họ để
họ thi hành đúng theo tinh thần Phúc âm. (Về
vấn đề nầy chúng ta sẽ bàn tới trong bài:
Ơn gọi và sứ mệnh của tín hữu giáo dân
ở giữa trần thế.)
Đức
Giáo hoàng nầy khi mới lên ngôi, trong bài giảng khai
mạc triều đại mục vụ của ngài, ngài kêu
gọi :
Các
con đừng sợ, các con hăy mở cửa, hăy mở
rộng cửa cho đức Kitô. Hăy mở rộng cho Ngài
các biên giới quốc gia,các hệ thống kinh tế chính
trị, các lănh vực mênh mông của văn hóa, của các
nền văn minh, của phát triển.
Một
số cộng đoàn giáo xứ Âu Mỹ đă đáp
lời mời gọi nầy.
Muốn
đáp lại lời mời gọi nầy,các giáo xứ
Việt Nam trước tiên Hăy mở cửa các nhà
thờ, nhà xứ cho Chúa Kitô đi ra với trần
thế, với các tôn giáo bạn,với những người
nghèo khó tàn tật. Đừng giam lỏng Ngài trong xứ
đạo của ḿnh và cấm Ngài Không được làm
chính trị!