Lễ  Giáng Sinh Và ư nghĩa nhập thế

của đời sống người Kitô-hữu

Đ.Ô. Trần văn Hoài

Là người tín-hữu giáo dân muốn làm tông đồ nghĩa là muốn chu toàn bổn phận kitô hữu của ḿnh giữa trần thế,theo tinh thần Phúc âm, chúng ta không thể không t́m hiểu nguồn gốc ư nghĩa nhập thế của Giáo hội.

Bổn phận nhập thế của Giáo hội là một bổn phận căn bản phát xuất từ mầu nhiệm Nhập-thể của Ngôi Lời Con Thiên Chúa.

Và Ngôi Hai đă xuống thế làm người,

Và ở cùng chúng ta. 

Và thánh Gioan giải thích tiếp theo :

Ngài ở trong thế gian,

Và thế gian do Ngài dựng nên,

Và thế gian không nhận ra ngài

Ngài đến nhà Ngài,

Nhưng bà con Ngài không đón tiếp Ngài. (Gio.1,10-11)

Đó là tâm trạng của con người, của xă hội loài người khi Ngôi Hai đến để ở với họ.

Nhưng Ngôi Hai Thiên Chúa vẫn tiếp tục chương tŕnh cứu chuộc của Chúa Cha đă tiền định là quy tụ mọi loài mọi vật trên trời dưới đất dưới quyền một vị thủ lănh độc nhất là đức Kitô v́ chúng ta đă được ơn cứu rỗi và ơn tha tội nhờ máu Ngài đổ ra. (Eph.1,1-11).

Sau đây là chương tŕnh nhập-thế của đức Kitô được thánh Luca ghi lại, khi đức Kitô bắt đầu công việc rao giảng Tin Mầng :

Thánh Linh Chúa ngự xuống trên tôi,

V́ Ngài đă xức dầu thánh hiến tôi,

Để tôi đem tin mầng cho người nghèo khó,

Ngài đă sai tôi loan báo sự giải thoát cho những ai bị bắt cầm tù,

Và cho kẻ đui mù được thấy ánh sáng,

Trả tự do cho kẻ bị áp bức,

Công bố năm hồng ân của Chúa tể.

 (Lc.4,18-20)

Đây là chương tŕnh Nhập-thế nhằm cải tạo xă hội con người đầy tội lỗi và bất công. Biết rằng mục đích của đức Kitô trong chương tŕnh cứu chuộc là đổi mới con người. Nhưng đổi mới con người,th́ phải đổi mới xẵ hội nó đang sống như tục ngữ chúng ta thường nói: Gần mực th́ đen,gần đèn th́ sáng hay là: Ở ống th́ tṛn ở bầu th́ dài. Cũng như người gieo giống. Nếu họ không làm đất cho sạch gai gốc đá sỏi th́ hạt giống gieo xuống sẽ bị chết nghẹt không thể mọc lên được. Một xă hội thối nát đầy bất công,đầy tệ đoan,đầy mọi thứ tội lỗi,làm sao con người mọc lên được nghĩa là trở nên tốt được?

Đức Giêsu vừa rao truyền tin mầng là hạt giống, vừa cải tổ xă hội là đám đất để hạt giống tin mầng có thể mọc lên được.

Theo bài Phúc âm của thánh Luca, chúng ta thấy xă hội thời Chúa Giêsu có những tệ đoan,những gai gốc sỏi đá sau đây: Đó là các người nghèo khổ không ai nghĩ tới để giúp đỡ như chúng ta thấy trong dụ ngôn người giàu có với người ăn mày Lazarô (Lc.16,19-30). Hạng người thứ hai những kẻ bị tù đày. Hạng người thứ ba là những kẻ đui mù, bệnh tật, và sau hết là hạng người bị áp bức.

Có lẽ đây là h́nh ảnh của mọi xă hội con người qua mọi thời đại nhất là xă hội Việt nam hôm nay. Chúng ta thử đọc lại đoạn đầu của dụ ngôn người giàu có trong Phúc âm của thánh Luca sẽ thấy: Có một người giàu có ăn mặc sang trọng lụa là và mỗi ngày ăn uống toàn nem công chả phụng. Và một người nghèo khổ, tên là Lazarô, nằm trước cữa dinh ông nhà giàu ḿnh đầy ung nhọt. Việt Nam hôm nay là một trong những nước nghèo đói nhất thế giới và cũng là một nước có nhiều người giàu có mà sống vô nhân đạo. Việt Nam cũng là một nước có nhiều người bệnh tật mà không được nhà nước chiếu cố cấp dưởng. Việt Nam cũng là nước có nhiều người bị áp bức, bị cầm tù một cách rất bất công.

Trong chương tŕnh cứu chuộc của đức Kitô, th́ tất cả những hạng người trên đều có phúc. Chúng ta hăy nghe Ngài tuyên bố:

Phúc cho kẻ nghèo khó,v́ nước trời là của họ.

Phúc cho kẻ phải ưu sầu phiền muộn,v́ họ sẻ được an ủi.

Phúc cho ai khao khát sự công chính,v́ họ sẻ được no thỏa.

Phúc cho ai t́m cách kiến tạo nền ḥa b́nh,v́ họ sẻ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc cho những kẻ bị bắt bớ v́ lẽ công chính,v́ nước trời thuộc về họ.

Phúc cho các con khi bị người ta nhục mạ,bắt bớ và bị cáo gian về mọi điều bỉ ổi v́ danh thầy. Chúng con hăy vui mầng hân hoan v́ phần thưởng của chúng con ở trên trời sẽ được bội hậu.  (Mt.5,3-12)

Tại sao những hạng người nầy lại có phúc ?

V́ những người nghèo khổ,những kẻ bị áp bức tù đày-- là những nạn nhân của tội lỗi,của các tổ chức bất công trong một xă hội thối nát. Đức Giêsu là con chiên gánh tội trần gian, nên ngài nhập thế để gánh hết mọi hậu quả của tội lỗi,là yêu thương những nạn nhân của tội lỗi đến nỗi Ngài đồng hóa chính ḿnh ngài với những kẻ nghèo khó bệnh tật tù đày. Chính Ngài tuyên bố rằng Ngài với những kẻ đói khát bệnh tật tù-đày - là một. Đọc lại ư nghĩa bài Phúc âm nói về ngày Phán xét chung, chúng ta sẽ thấy.

Khi Con người ngự đến trong vinh quang,các thiên thần Chúa phân biệt người lành kẻ dữ đứng bên hữu và bên tả Ngài, th́ Ngài phán với các kẻ lành như sau:

Hỡi những người được Cha ta chúc phúc hăy đến nhận phần gia nghiệp Nước trời đă dọn sẵn cho các con từ ngày tạo dựng thế gian. Bởi v́ khi ta đói các con đă cho ta ăn,k hi ta khát các con đă cho ta uống,khi ta lưu vong các con đă đón tiếp, khi ta nghèo khổ trần truồng các con đă cho áo mặc, khi ta bệnh hoạn chúng con đă thăm viếng, khi ta bị tù tội các con đă đến gặp gỡ ủi an. Khi ấy các người lành trả lời: Có khi nào chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, Chúa khát mà cho uống, Chúa lưu vong mà đón tiếp, Chúa trần truồng mà cho áo mặc, Chúa bệnh hoạn và bị tù mà thăm viếng đâu? Và Chúa trả lời: Ta nói thật với các con, khi các con làm những điều nầy cho một trong những anh em hèn mọn nhất của ta, đó là chúng con làm cho chính ḿnh ta.

Rồi Chúa hướng về phía người dữ và lên án phải vào lửa hỏa ngục đời đời v́ khi ở đời đă không cho kẻ nghèo đói ăn,không cho kẻ khát uống,không thăm viếng người tật bệnh tù tội... (Mt.25,31-46)

Như vậy đức Giêsu Kitô đă đưa ra cho chúng ta một tiêu chuẩn rơ ràng để phân biệt đâu là đời sống kitô-hữu thật sự và đâu là đời sống kitô-hữu sai lầm: Đời sống kitô-hữu thực sự không chủ tại siêng năng xem lễ đọc kinh,giữ ngày Chúa nhật, hoạt động tông đồ trong nhiều hội đoàn… Đây chỉ là phương thế. Và chúng ta đừng hiểu lầm phương thế thành mục đích. Đời sống kitô-hữu thực sự cũng không chủ tại đời sống tu tŕ hay chức thánh của các linh mục giám mục. Đây là chức vụ Chúa Giao phó để điều hành và thánh hóa Dân Chúa. Nếu không sống đời sống kitô-hữu thực sự th́ các vị ấy cũng không thể chu toàn chức vụ cao cả Chúa đă trao phó.

Vậy bản chất của đời sống kitô-hữu thực sự là sống như đức Kitô đă sống nghĩa là Đồng hóa ḿnh với các nạn nhân của tội lỗi. Ngày nào chúng ta nói được như thánh Phaolô: Tôi sống mà không phải tôi sống mà chính đức Kitô sống trong tôi. Nghĩa là chúng ta đau cái đau của kẻ đau, khổ cái khổ của kẻ khổ.

Khi Chúa Kitô nói: Tất cả các lề luật, các lời tiên tri, các điều răn-- chỉ tóm lại trong hai điều là mến Chúa hết ḷng và yêu thương anh em như chính ḿnh th́ chúng ta phải hiểu chính đức Kitô đă sống đức ái nầy trước hết để làm gương cho chúng ta hiểu điều nầy là: Đức ái của đời sống kitô-hữu không phải là một hành động trong một hoàn cảnh nào đó. Không!  Đức ái của Chúa Kitô là một trạng thái của tâm hồn: Người kitô hữu phải nh́n tất cả những kẻ nghèo đói,bệnh tật,tù tội,áp bức-- nạn nhân của tội lỗi, như chính bản thân ḿnh và ḿnh có bổn phận phải làm mọi cách để cứu vớt họ.

Chương tŕnh cứu chuộc của đức Kitô, Ngài đă trao lại cho Giáo hội của Ngài tiếp tục, v́ Giáo Hội là thân thể của Ngài.       

V́ thế chúng ta có thể nói: Giáo Hội của Chúa Kitô là Giáo hội của người nghèo, là Giáo hội của kẻ bị bắt bớ áp bức. Bởi Giáo hội đă nhận lănh sứ mệnh nhập thế của đức Kitô.

Qua công đồng Vatican II, Giáo hội đă ư thức một cách rơ ràng sứ mệnh nhập thế nầy. Trong hiến chế Vui Mầng và Hy vọng công đồng tuyên bố:

Vui mầng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay,nhất là của người nghèo và của những ai đau khổ, cũng là vui mầng và hy vọng, ưu-sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô. Và không có ǵ thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng  trong ḷng họ. Thực vậy cộng đoàn của họ được cấu tạo bằng những con người đă được quy tụ trong Chúa Kitô,được Chúa Thánh thần hướng dẫn trong cuộc lữ hành về nước Cha và đă đón nhận tin mầng cứu rỗi đem đến cho mọi người. V́ thế cộng đoàn ấy mới nhận thấy ḿnh thực sự liên hệ mật thiết với loài người và lịch sử nhân loại... (số 1.)

   Một khi đă ư thức được sứ- mệnh của ḿnh là tiếp tục cuộc sống nhập-thế của đức Kitô và ư thức được t́nh liên đới với nhân loại, Giáo hội phải làm ǵ ?

Giáo hội phải thi hành mệnh lệnh truyền giáo của đức Kitô đă trao phó trước khi Ngài lên trời. Ngài nói với 11 vị môn đệ như sau :

Mọi quyền phép trên trời dưới đất đă ban cho Thầy.Vậy chúng con hăy đi rao giảng và tuyển chọn các đồ đệ trong mọi dân mọi nước,rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần và dạy cho họ giữ các điều Thầy đă truyền dạy cho các con. Và đây Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế. ( Mt.28,18-20 )

Trong hiến chế Truyền giáo Ad Gentes của công đồng Vatican II, Giáo hội giải thích sứ mệnh truyền giáo của ḿnh như sau:

Tự bản tính,Giáo hội lữ hành phải truyền giáo v́ chính Giáo hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh thần theo ư định của Chúa Cha… Ư định của Thiên Chúa nhằm cứu rỗi toàn thể nhân loại không phải chỉ được thực hiện một cách có thể nói là kín đáo, trong tâm trí con người… Nhưng để cũng cố sự giao ḥa hay là mối hiệp thông cùng Thiên Chúa, và để xây dựng một xă hội huynh đệ giữa con người, những con người tội lỗi, Ngài đă quyết định đi vào lịch sử loài người một cách mới mẻ và dứt khoát bằng cách sai Chúa Con mặc lấy xác phàm chúng ta để nhờ Chúa Con Ngài giải thoát nhân loại khỏi quyền lực tối tăm và Satan và để trong Chúa Con Ngài ḥa giải thế gian với chính Ngài. Thật vậy nhờ Chúa Con Ngài đă sáng tạo vũ trụ nên Ngài cũng đạt Chúa Con thừa hưởng vũ trụ để trong Chúa Con mọi sự được tái lập (số 3.)

Bản văn nầy phân tích cho chúng ta thấy ư định cứu rỗi của Thiên Chúa gồm hai phần: Trước tiên là t́m cách giao ḥa con người lại với Thiên Chúa. Tiếp đến là xây dựng một xă hội huynh đệ giữa con người. Để thực hiện hai mục đích nầy, Ngài sai Con Ngài là Ngôi Lời nhập thể làm người để sống với con người một cuộc sống nhập thế.

Giáo hội đang thực hiện hai mục đích nầy trong việc truyền giáo của ḿnh. Và Giáo hội thực hiện qua các con cái của ḿnh,nhất là qua các giáo xứ, các xứ đạo. V́ Giáo xứ là chính Giáo hội sống giữa con cái nam nữ của ḿnh.

Nếu nh́n vào sự sống của các giáo xứ Việt Nam chúng ta trong cũng như ngoài nước, chúng ta phải thú nhận rằng chúng ta chưa sống đúng theo tinh thần truyền giáo Phúc âm của Giáo hội. Bởi lẽ chúng ta chỉ chú trọng một trong hai mục đích của Ư định của Thiên Chúa là t́m cách giao ḥa con người lại với Thiên Chúa. C̣n mục đích thứ hai là xây dựng một xă hội huynh đệ giữa con người th́ chúng ta lại cố ư bỏ quên.

Chúng ta hăy đọc lại đoạn 4 của Phúc âm thánh Luca chúng ta sẽ thấy đức Giêsu Kitô hành động ngược hẳn lại với hoạt động của các cha xứ trong các xứ đạo Việt Nam: Sau khi thánh Luca kể lại việc đức Giêsu Kitô đưa ra chương tŕnh hành động nhập thế và bị bà con láng giềng định xô xuống vực thẳm,Ngài liền bỏ thành Nazarét quê quán của Ngài đi qua thành Capharnaum.Ở đây ngài rao giảng Phúc âm và chửa lành các bệnh tật :chữa người bị quỷ ám,chữa cho bà nhạc gia của thánh Phêrô khỏi sốt rét, và tất cả những người bị đủ các thứ bệnh… (Lc.4,18-41). Đối với đức Kitô rao truyền tin mầng không chỉ chủ tại lời nói, nhưng chủ tại làm sao cho con người đang sống lầm than khổ năo căm nghiệm được Tin Mầng thể hiện trong cuộc sống của họ. V́ thế ngài bị tố cáo sống thân thiện với người tội lỗi, với hạng người bần cùng trong xă hội. Nhưng ai là người cần tin mầng hơn những người tội lỗi,những nạn nhân của tội lỗi? V́ người thánh thiện, người giàu có họ đă được tin mầng do lời ca tụng tôn vinh của dân chúng rồi!

Một cách cụ thể chúng ta hăy nh́n vào chương tŕnh sinh hoạt của một cộng đoàn giáo xứ Việt nam ở hải ngoại: Trước tiên là các việc đạo đức như xưng tội rước lễ, đi lễ ngày Chúa-nhựt, siêng năng kinh nguyện hôm mai… nghĩa là các sinh hoạt của mục vụ bí-tích.

Tiếp đến là sinh hoạt các hội đoàn công giáo tiến hành như hội Đạo binh đức Mẹ, Cursillos, tông đồ Fatima, hội các bà mẹ công giáo,nghĩa binh thánh thể. Có người gia nhập đến 3, 4 hội đoàn đến nỗi không c̣n th́ giờ lo các bổn phận khác.

Các hội đoàn được Giáo hội khuyến khích để làm phương tiện giúp chúng ta sống đạo và làm việc tông đồ. Nhưng chúng ta lại giới hạn việc tông đồ của chúng ta trong ranh giới một giáo xứ không nghĩ đến người anh em ngoài công giáo đang ở kế cận giáo xứ của ḿnh, và cũng giới hạn việc tông đồ trong chiều kích duy nhất đạo đức không nghĩ đến hoàn cảnh cụ thể xă hội mà chúng ta có bổn phận phải thánh hóa. Một trong những ư nghĩa chính của mầu nhiệm nhập thể là cải tạo xă hội loài người.

Đức Giêsu nhập thế, Giáo hội nhập thế, nhưng cộng đoàn giáo xứ th́ xuất thế sống như một ḥn đảo thiêng liêng lơ lửng trên không trung trong thế giới riêng của ḿnh.

Để biện minh cho cuộc sống xuất thế của ḿnh có người đă tuyên bố: người công giáo không làm chính trị . 

Chính đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II,trong tông huấn gởi người t́n hữu giáo dân đă bác bỏ luận điệu ngụy biện nầy: Ngài viết:

Để đem đời sống Kitô-hữu vào trật tự trần thế, nghĩa là đem đạo vào đời, theo ư nghĩa là phục vụ con người và xă hội, các tín hữu giáo dân tuyệt đối không thể từ chối tham gia vào việc chính trị, nghĩa là tham gia vào các hoạt động mang nhiều sắc thái như hoạt động kinh tế, xă hội, lập pháp, hành chánh, văn hóa có mục đích cổ vơ công ích một cách có cơ chế. (số 42)

Tiếp đến đức giáo hoàng c̣n nhắc lại lời của các nghị phụ công đồng Vatican II tuyên bố: Mọi người tín hữu và mổi người có quyền lợi và bổn phận phải tham gia vào chính trị dưới nhiều h́nh thức khác nhau.

Theo định nghĩa của đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II th́: Chính trị là việc tổ chức một xă hội trong mọi cơ cấu của nó,từ lập pháp, hành pháp đến kinh tế văn hóa.

Có lẽ người tuyên bố: chúng tôi không làm chính trị, người công giáo không làm chính trị… v́ hiểu rằng chính trị là một hoạt động đầy mưu mô xảo quyệt để đạt tới quyền thế danh vọng tiền tài. Nhưng cũng chính đức Giáo hoàng nầy trả lời cho các vị ấy như sau :

Chúng ta thường nghe nói những nhà cầm quyền, các quốc hội,các giai cấp lănh đạo và các đảng phái chính trị bị tố cáo là những kẻ lợi dụng thời cơ,tôn thờ quyền bính,ích kỷ và tham nhủng. Chúng ta cũng nghe dư luận quần chúng đó đây bảo rằng chính trị là nơi đầy dẫy hành động vô luân lư. Tất cả những lời khinh khi nầy không cách nào bào chữa được cho người công giáo trốn tránh chính trị hay nghi ngờ công việc chung. (id.42.)

Công đồng Vatican II lên án nặng nề những ai tuyên bố phân tách các hoạt động trần thế như hoạt động chính trị ra khỏi đời sống kitô-hữu, v́ làm như vậy là hiểu sai lạc Mầu nhiệm Nhập thể của đức Kitô.

Chính công đồng đă ra một hiến chế rất quan trọng để khẳng định lập trường và đức tin của Giáo hội đối với Mầu nhiệm Nhập thể. Đó là Hiến chế Vui Mầng và Hy vọng nói về Giáo hội trong thế giới ngày hôm nay. Lời lên án nặng nề nói trên được ghi rơ như sau :

Công đồng khuyến khích các Kitô-hữu, công dân của hai thành tŕ (hai nước) hăy nổ lực và trung thành chu toàn những bổn phận trần thế của họ dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc âm.

Thực sai lầm cho những ai biết rằng chúng ta không có một quê hương trường tồn ở trần thế mà phải kiếm t́m một quê hương hậu lai,mà lại tưởng rằng ḿnh có thể xao lăng các bổn phận trần thế; làm như thế là không hiểu rằng chính đức tin buộc phải chu toàn các bổn phận đó hoàn hảo hơn, mỗi người tùy theo ơn gọi của ḿnh.

Ngược lại cũng sai lầm không kém đối với những ai nghĩ rằng có thể dấn thân hoàn toàn vào các sinh hoạt trần thế như thể các sinh hoạt ấy hoàn xa cách với đời sống đạo đức của đức tin,v́ cho rằng đời sống đạo đức chỉ chủ tại những hành vi phụng tự và một vài bổn phận luân lư phải chu toàn mà thôi.  Sự phân tách giữa đức tin mà họ tuyên xưng với cuộc sống thường nhật mà nhiều người chủ trương,đó là một trong những sai lầm trầm trọng nhất của thời đại chúng ta. Và gương mù nầy trong Cựu ước các tiên tri đă mạnh mẽ tố cáo (Is.58,1-12) và trong Tân ước chính Chúa Giêsu c̣n đe dọa nặng nề hơn nữa bằng những h́nh phạt rất nghiêm giặt. (Mt.23,3-33) .

Đối với người kitô hữu,xao lăng bổn phận trần thế tức là xao lăng bổn phận đối với tha nhân và hơn nữa đối với chính Thiên Chúa,khiến phần rỗi đời đời của ḿnh bị đe doạ. (số 43.)

Nếu phân tích lời tuyên bố của Công đồng chúng ta thấy Công đồng nhấn mạnh những điểm sau đây:

Công đồng kêu gọi và khuyến khích tất cả mọi kitô hữu không phân biệt là giáo dân tu sĩ hay linh mục giám mục phải chu toàn bổn phận trần thế.

Mỗi người tùy theo ơn gọi của ḿnh phải chu toàn các bổn phận ấy theo sự hướng dẫn của tinh thần phúc âm.

Đức tin không phải là một trở ngại cho các hoạt động trần thế. Ngược lại đức tin buộc phải chu toàn các bổn phận ấy hoàn hảo hơn.

Phân tách đức tin ra khỏi đời sống thường nhật của con người đó là một sai lầm trầm trọng nhất trong thời đại chúng ta.

Theo sự hướng dẩn của Công đồng chúng ta thấy: mỗi người theo ơn gọi của ḿnh phải chu toàn các bổn phận trần thế, Giám mục theo ơn gọi của giám mục, linh mục theo ơn gọi của linh mục và giáo dân theo ơn gọi của giáo dân.

Nhưng trong lănh vực các hoạt động trần thế,người tín hữu giáo dân đóng vai tṛ chính giữa sân khấu cuộc đời v́ Tính cách trần thế của họ. C̣n các vị lănh đạo tinh thần có trách nhiệm đào tạo hướng dẫn họ để họ thi hành đúng theo tinh thần Phúc âm. (Về vấn đề nầy chúng ta sẽ bàn tới trong bài: Ơn gọi và sứ mệnh của tín hữu giáo dân ở giữa trần thế.)

Đức Giáo hoàng nầy khi mới lên ngôi, trong bài giảng khai mạc triều đại mục vụ của ngài, ngài kêu gọi :

Các con đừng sợ, các con hăy mở cửa, hăy mở rộng cửa cho đức Kitô. Hăy mở rộng cho Ngài các biên giới quốc gia,các hệ thống kinh tế chính trị, các lănh vực mênh mông của văn hóa, của các nền văn minh, của phát triển.

Một số cộng đoàn giáo xứ Âu Mỹ đă đáp lời mời gọi nầy.

Muốn đáp lại lời mời gọi nầy,các giáo xứ Việt Nam trước tiên Hăy mở cửa các nhà thờ, nhà xứ cho Chúa Kitô đi ra với trần thế, với các tôn giáo bạn,với những người nghèo khó tàn tật. Đừng giam lỏng Ngài trong xứ đạo của ḿnh và cấm Ngài Không được làm chính trị!