I.- Chứng từ của
người trong cuộc
Trong những ngày đầu
tháng 11-2007, chúng tôi đọc được trên NET bài viết của Ái Sản,, sinh viên “Đại
Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh”[1]
nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường này. Bài viết có nhan đề: “Tuổi
Trẻ Bách Khoa: Vững chính trị - Giỏi chuyên môn…”
Mở đầu, tác giả viết:
“Mấy hôm trước, tôi ghé vào Đại học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh. Không khí kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường rất sôi nổi. Cờ, hoa, biểu ngữ, các cuộc thi, đêm ca nhạc... tất cả đều rộn ràng. Tôi dừng lại trước cổng trường phía đường Lý Thường Kiệt, một loạt băng rôn được treo lên thân cây từ cổng vào trong sân trung tâm khiến tôi chú ý. Đọc kỹ một vài băng rôn, bất chợt lòng tôi không khỏi thắc mắc. Băng rôn viết rằng:
"Tuổi trẻ Bách
Khoa:
* Vững chính trị
* Giỏi chuyên môn * Sáng tâm hồn *
Khỏe thể chất"
Anh viết tiếp:
“Thì có lẽ cũng sẽ chẳng có gì mà nghĩ nếu ta chỉ để ý đến văn phạm hay chỉ đọc lướt qua. Bởi vì những khẩu hiệu ấy đã quá quen thuộc, đã quá rõ ràng, đã trở thành một điều rất đỗi bình thường từ bao nhiêu năm qua, nhất là từ khi "đất nước ta có Đảng". Nhưng cái kết cấu của khẩu hiệu khiến tôi không khỏi băn khoăn cho sứ mệnh của một ngôi trường đầu đàn trong lãnh vực khoa học kỹ thuật tại Việt Nam”.
Sau khi nêu lên câu hỏi: Cái trình tự trong khẩu hiệu kia nói lên điều gì?, tác giả tìm được câu trả lời sau đây:
“Trình tự ấy đã đặt
"vững chính trị" lên hàng đầu. Tự hỏi điều đó có gì là sai nhỉ? Ừ, chẳng có gì
là sai cả nếu như chính trị thực sự ‘là an bang tế thế bằng danh
chính ngôn thuận, bằng con đường chính nghĩa, lấy "đạo người" làm gốc... là một
nghề nghiệp phục vụ xã hội, có nghĩa rằng Chính Trị là việc quản trị đất nước
nhằm đem lại lợi ích cho nhân dân’"
Vấn đề trở nên phức tạp và mọi chuyện tuồng như bị đảo lộn vì hai chữ “NẾU NHƯ” được người viết tô đậm và gạch dưới trong văn mạch của người sinh viên Đại Học Bách Khoa bút danh Ái Sản. Vì điều giả dụ “NẾU NHƯ” không hoặc chưa lúc nào trở thành hiện thực trong môi trường đang sống cho nên tác giả vẫn chưa hết băn khoăn, thao thức. Hồi tưởng lại quá trình mài đũng quần trên ghế nhà trường Xã Hội Chủ Nghĩa, tác giả viết tiếp:
“…bắt đầu bất cứ một năm học ở đại học nào, chúng tôi cũng đều phải đi học mấy ngày chính trị mà nội dung của nó chưa bao giờ đổi mới, mặc dù đất nước đã bước vào thời kỳ đổi mới. Vẫn là những diễn biến hòa bình, vẫn chỉ là những luận điệu của các thế lực thù địch, vẫn là... và vẫn là... vũ như cẫn! (…) Tôi, với cái nhìn thiển cận của mình chỉ nghĩ được rằng: chính trị gì đi nữa thì cái mục tiêu tối thượng của nó vẫn phải là phục vụ nhân dân, phục vụ lợi ích của quốc gia, của dân tộc. Nếu cái được gọi là chính trị không nhắm đến mục đích ấy, không làm được chuyện ấy, thì chính trị đó chỉ là giả hiệu, chỉ là ngụy biện, và chỉ là công cụ của một nhóm người. Chính trị kiểu đó chỉ có thể gọi là lạm dụng quyền lực, hay đúng hơn là lũng đọan quyền lực (xin đọc trong Tạp chí Phía Trước số 7)”
Sau khi nêu lên
hàng chục câu hỏi “tại sao” kèm theo những thực chứng về những điều bất cập của
một nền chính trị độc tôn, độc quyền, bế tắc, không giúp ích gì cho giáo dục,
không có hướng mở vào tương lai cho đất nước, cho dân tộc, người sinh viên “Đại
Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh” tự xác định cho mình một cách nhìn riêng:
“Có lẽ cần phải nhắc lại với nhau một quan điểm rằng: "Giáo dục phải tạo ra những con người biết sống có nhân bản và biết làm việc có hiệu quả". Tôi vẫn cho rằng: đó là một chân lý! Bởi thế, theo thiển ý của tôi, dù là học đại học hay mẫu giáo, thì chân lý đó phải được áp dụng triệt để, và phải thực sự là kim chỉ nam cho mọi chính sách giáo dục. Hơn nữa, đã bao lần chính các vị lãnh đạo đã nói: phải lấy truyền thống, các tiêu chuẩn đạo đức truyền thống để áp dụng vào trong giáo dục. Vậy mà chúng tôi đang phải, trước tiên là "vững chính trị", sau đó mới đến "giỏi chuyên môn", sau nữa là "sáng tâm hồn", cuối cùng là "khỏe thể chất".
Trong bốn khẩu hiệu trên, tôi tự hỏi, điều nào là cần thiết nhất đối với sinh viên? Nếu dựa vào tiêu chuẩn "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín", tôi cho rằng: "sáng tâm hồn" phải được đặt lên hàng đầu. Bởi lẽ tâm hồn của một con người sẽ quy định cách hành xử của họ đối với xã hội và tha nhân. Và tâm hồn của họ có trở nên phong phú hay không là phụ thuộc vào các quy chuẩn đạo đức của xã hội. Nếu "vững chính trị" được đặt lên đầu tiên, theo thiển ý của tôi, thì đó phải thực sự là một nền chính trị hướng về lợi ích của công dân. Nhưng cho đến nay, theo sự hiểu biết của tôi, vẫn chưa có một nhận định tường minh, chính thức về nền chính trị Việt Nam”
Tác giả bỏ lửng
những suy tư, trăn trở của anh qua mấy giòng kết luận:
“Và còn nhiều điều nữa, tôi chưa biết phải nói thế
nào! Bởi lẽ hiện nay, chính cái nền giáo dục mà tôi đã được thụ hưởng vẫn
chưa thể làm cho tôi thông suốt những khẩu hiệu tràn lan của nó”.[2]
(Người viết tô đậm và gạch dưới một số câu).
II.- Thư Chung 2007 của Hội Đồng Giám Mục Việt
Nam
Cho dẫu chỉ là cái
ngọn (cái ngọn này tốt hay xấu hoàn toàn tùy thuộc vào đường lối, chính sách của
chế độ), giáo dục lúc nào và ở đâu, tự nó, cũng nắm giữ một vai trò hết sức quan
trọng và thiết yếu[3].
Chính vì thế, nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Đại Học Bách Khoa ở Sàigòn,
người sinh viên có bút danh Ái Sản không khỏi âu lo khi nghĩ về tương lai nền
giáo dục trong nước khi đọc tấm “băng rôn” đặt tiêu chuẩn “vững chính trị” lên
hàng đầu những tiêu chuẩn khác trong khuôn viên nhà trường. Tiêu chuẩn này vượt
trên cả “chuyên môn” (hồng hơn chuyên) và vượt xa những giá trị làm “sáng Tâm
hồn” và “khoẻ thể chất”.
Nó cũng chứng tỏ
qua sự kiện Thư Chung kết thúc Hội Nghị Thường Niên của HĐGMVN năm 2007 đã chọn
giáo dục làm chủ đề.
Ngoài Lời Mở và
Lời Kết, bố cục Thư Chung chia làm ba phần: a/ Nền tảng Giáo dục Kitô giáo; b/
Hiện tình Giáo dục Kitô giáo tại Việt Nam; c/ Định hướng Giáo dục Kitô giáo. Để
giúp người đọc dễ theo dõi và tra cứu, Thư Chung được ghi số từ 1 đến 39 (đoạn).
Trong phần thứ
nhất , “Nền Tảng Giáo dục Kitô giáo”, đoạn 7, Thư Chung xác định:
“Trước
khi về trời, Chúa Giêsu đã trao cho Giáo Hội sứ mạng lên đường dạy dỗ muôn dân.
Từ đó, giáo dục trở thành sứ mạng gắn liền với sự hiện diện của Giáo Hội giữa
lòng thế giới. Giáo Hội chính là người Mẹ "săn sóc toàn diện đời sống con
người, kể cả đời sống trần thế, trong mức độ liên hệ với lời mời gọi
của Thiên Chúa. Vì thế Giáo Hội thông phần vào việc mở mang và phát huy nền
giáo dục" (TN/GD, lời mở đầu). Sứ mạng của Giáo Hội là tạo điều kiện để
mọi người đều được hưởng một nền giáo dục Kitô giáo (x. TN/GD 2). Sứ mạng
đó được thể hiện thế nào trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, đó là vấn nạn cần
phải đặt ra, nếu chúng ta muốn có những định hướng cụ thể cho sứ mạng giáo
dục Kitô giáo của Giáo Hội Việt Nam”.
Qua phần hai nói về
“Hiện tình Giáo dục Kitô giáo tại VN”. Trước hết, Thư Chung đề cập những dấu
hiệu lạc quan: đã có những chuyển biến tích cực như nỗ lực lành mạnh hóa môi
trường giáo dục, bài trừ bệnh thành tích, sự hi sinh của phụ huynh trong việc
chăm sóc việc học của con em, những trung tâm luyện thi, lớp ngoại khóa “mọc
lên như nấm” khắp nơi. Về phía người Công giáo: giới trẻ không còn bị kỳ thị
trong lãnh vực giáo dục, các lớp giáo lý dự tòng và hôn nhân gia tăng… Trong
phần này, Thư Chung cũng chỉ ra những mối quan ngại như những lệch lạc trong
quan niệm giáo dục, sự thiên trọng về những tiêu chuẩn kinh tế trong giáo dục
hơn là phẩm cách con người. Trong lãnh vực đức tin, giới phụ huynh Công giáo,
bao gồm cả giáo sĩ, vẫn còn lơ là và thiếu trách nhiệm trong việc thông truyền
đức tin cho các thế hệ trẻ. Việc dạy và học giáo lý chỉ nhằm mục đích lãnh nhận
bí tích…
Phần thứ ba “Định
hướng Giáo dục Kitô giáo” , đoạn 18 Thư Chung
ghi nhận:
“Trước khi truyền đạt đức tin, Giáo Hội có sứ mạng "phục vụ lợi ích của xã hội trần thế và xây dựng một thế giới nhân đạo hơn" (TN/GD 3). Muốn vậy, Giáo Hội cần phải có chỗ đứng trong nền giáo dục của bất kỳ thể chế xã hội nào. Tại Việt Nam, điều đáng lạc quan là giáo dục, từ trước vẫn được coi là lãnh vực độc quyền của Nhà Nước, nay đã được "xã hội hóa". Theo định hướng đó, tư nhân, thậm chí người nước ngoài, có quyền mở trường tư thục”.
Điều các GM nói là
“đáng lạc quan” trên đây thực chất ra sao, xin đọc tiếp đoạn 19:
“Nhưng cũng đáng tiếc là đối với các tổ chức tôn giáo tại Việt nam, cánh cửa giáo dục vẫn còn khép chặt: tôn giáo chỉ có quyền mở trường tư thục cấp mẫu giáo. (…) Giáo Hội công giáo, với tư cách là tổ chức tôn giáo, đành phải đứng bên lề sự nghiệp giáo dục của xã hội Việt nam và, vì không có quyền nhập cuộc, đành đóng vai một quan sát viên bất đắc dĩ”.
Đề cập các đối tượng
ưu tiên của GHCG trong lãnh vực giáo dục, đoạn 22 Thư Chung viết:
“…Kitô hữu không được loại trừ bất kỳ đối tượng nào. Muốn thế, Kitô hữu cần quan tâm hơn đến những thành phần thường bị xã hội ruồng rẫy, khinh miệt, lãng quên: người thất học, trẻ em không có điều kiện đến trường, thành phần cô lập do mặc cảm hay bị kỳ thị. Chúa Giêsu khẳng định rằng sứ mệnh hàng đầu của Ngài là loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó, lao tù, mù lòa, bị áp bức (Lc 4, 18ss).
Về môi trường
giáo dục, Thư Chung nhấn mạnh tới vai trò các nhà giáo, các chủng viện, học viện
kể cả gia đình theo ý nghĩa “Gia
đình là Giáo hội tại gia, là trường học tự nhiên và căn bản trong
nền giáo dục Kitô giáo” và các giáo xứ các đoàn thể…(các đoạn từ 26 đến
31).
Nói về tính toàn
diện của Giáo dục Kitô giáo, đoạn 32 các GM lập lại ý niệm “Giáo Hội là Mẹ và
là Thày, có bổn phận thông truyền cho mọi người, nhất là các Kitô hữu một nền
giáo dục trọn vẹn… Mục tiêu hàng đầu của giáo dục Kitô giáo là đức tin. Giáo
dục đức tin không chỉ là truyền lại cho tín hữu những định tín, nhưng còn giúp
cho tín hữu sống đức tin ấy trong cuộc sống cụ thể, vì 'đức tin không có
việc làm là đức tin chết' (Gia. 2, 17” Đoạn 34 bàn về tình
liên đới xã hội: “Giáo dục Kitô giáo góp phần cổ võ tình liên đới, làm cho con
người có trách nhiệm với nhau, trách nhiệm đối với xã hội và công ích”.
Qua đoạn 35, Thư Chung 2007 đặc biệt ghi nhận quan điểm bất di dịch của
Giáo Hội Công Giáo:
“Luôn
ý thức về sứ mạng làm chứng cho Chân lý,
Giáo Hội của Ðức Kitô trải qua mọi thời đại đã góp tiếng nói của mình qua
những giáo huấn mang tính xã hội. Nhờ đó, Giáo Hội chia sẻ với nhân
loại 'những vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng' (x. GS
1)” Với giáo huấn
của mình, Giáo Hội tìm cách công bố Tin Mừng và làm cho Tin Mừng hiện diện trong
hệ thống các mối quan hệ xã hội. Khi đưa ra những chủ trương và đường lối của
mình trong lãnh vực xã hội, Giáo Hội thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình trước
những trào lưu đi ngược lại với giáo huấn Tin Mừng và đạo đức xã hội”.
Nhìn về tương lai,
lấy năm 2010 làm đích điểm, trước khi kết thúc Thư Chung, các GM đề ra ba bước:
* 2008: chấn chỉnh
môi trường giáo dục gia đình Công giáo.
* 2009: chấn chỉnh
việc đào tạo giáo lý viên.
* 2010: Chấn chỉnh
cơ sở giáo dục các giáo xứ.[4]
Như đã trình bày
trong mục một, khi bày tỏ quan điểm trong bài “Tuổi trẻ Bách Khoa: Vững chính
trị - Giỏi chuyên môn…” sinh viên Ái Sản có cái nhìn của người trong cuộc:
vừa với tư cách công dân đang sống trong lòng chế độ, hơn thế, còn vừa là một
trí thức trẻ đang chịu ảnh hưởng trực tiếp nền giáo dục Xã Hội Chủ Nghĩa.
Vượt ra ngoài những lý thuyết viền vông, tác giả dựa vào những sự kiện trước mắt
cộng với những thực chứng qua những tháng năm sống trong lòng chế độ[5]
nên nhạy cảm đủ để biết ưu tư, trăn trở khi ngừng lại trước một tấm “băng rôn”
với từ “chính trị” được xếp trên “chuyên môn”, trên cả “tâm hồn” và “thể chất”!
Nó không được treo ngoài đường phố, chốn công môn hay nơi cộng đồng. Trái lại nó
được trưng bày giữa rừng biểu ngữ trong những ngày kỷ niệm nửa thế kỷ thành lập
trường “Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh”, ngôi trường được anh coi là
“đầu đàn trong lãnh vực khoa học kỹ thuật ở VN” vào thời điểm này. Dĩ nhiên,
việc phô bày một biểu ngữ với cách sắp xếp thứ tự ưu tiên như vậy không phải là
chuyện ngẫu nhiên. Rõ rang nó là một gợi nhắc đến từ ban Tư Tưởng của Đảng,
của Nhà Nước về một đường lối, một chính sách giáo dục đã được đúc khuôn từ trái
tim của chủ nghĩa Mác-xít, Lê-nin-nít. Nó là con đường độc đạo mà những
người làm giáo dục –kể cả thày lẫn trò, và nói chung tất cả mọi thành phần trong
dân chúng, trong cộng, trong đó bao gồm các tôn giáo- đều phải răm rắp bưng tai,
bịt mắt đi theo kể từ khi chế độ cộng sản được thành lập trên đất Bắc và sau
tháng tư năm 1975 áp dụng luôn ở miền Nam!
Giống như những sinh
viên Nguyễn Lê Trần, Ngô Đình Lý và nhóm sinh viên Bách Khoa Hànội, người sinh
viên Bách Khoa Sàigòn bút danh Ái Sản sau khi có dịp tiếp cận với những người
trẻ đồng trang lứa như Hoàng Lan, thành viên Tập hợp Thanh niên Dân chủ, đã vượt
lên trên sự sợ hãi bình thường, để dám nói lên những suy tư chân thực của mình.
Tác giả không hàm hồ để tổng quát hóa trò chơi chính trị trong xã hội, kể cả
trong giáo dục, là lúc nào cũng xấu xa đê tiện. Anh phân biệt hai thứ chính trị:
một là thứ chính trị thực sự “là an bang tế thế bằng danh chính ngôn thuận, bằng
con đường chính nghĩa, lấy “đạo người” làm gốc… là một nghề nghiệp phục vụ xã
hội, có nghĩa rằng Chính Trị là việc quản trị dất nước nhằm đem lại lợi ích cho
nhân dân”. Hai là thứ chính trị “phi đạo lý, phi nhân bản” chỉ nhắm một mục tiêu
duy nhất là củng cố chế độ độc tài, phục vụ quyền lợi của một thiểu số ăn trên
ngồi trước, mặc tình cho dân nước phải tiếp tục kéo dài kiếp sống lầm than, tăm
tối! Vì thế, anh nghĩ: “Nếu cái được gọi là chính trị không nhắm đến
mục đích ấy, không làm được chuyện ấy[6],
thì chính trị đó chỉ là giả hiệu, chỉ là ngụy biện, và chỉ là công cụ của một
nhóm người. Chính trị kiểu đó chỉ có thể gọi là lạm dụng quyền lực, hay đúng hơn
là lũng đọan quyền lực”.
Từ sự phân biệt rạch
ròi kể trên, người sinh viên trẻ Ái Sản quan niệm: “Giáo dục phải tạo ra
những con người biết sống có nhân bản và biết làm việc có hiệu quả”. Anh
nhấn mạnh: “đấy là chân lý”. Bởi thế, theo anh “dù là bậc đại học hay mẫu
giáo, thì chân lý đó phải được áp dụng triệt để, và phải thực sự là kim chỉ
nam cho mọi chính sách giáo dục”.
Khi đọc Thư Chung,
nhiều người Công giáo tỏ ra thất vọng. Thất vọng vì người ta chờ đợi HĐGMVN sẽ
trực diện với những vấn đề thiết thân và cụ thể, hơn là vấn đề giáo dục, một vấn
đề tuy cũng quan trọng, nhưng không phải là nguyên cớ, là cái gốc dẫn tới tình
trạng băng hoại toàn diện trong xã hội Việt Nam ngày nay, mà dù muốn hay không
các tôn giáo –trong đó có Công Giáo- không tránh khỏi di lụy, và tất nhiên phải
chia phần trách nhiệm. Người ta cũng không khỏi thất vọng vì trong một văn kiện
công bố sau một phiên nhóm tiền Hội nghị Thương niên năm nay, các giám mục đã
minh nhiên cho công luận hay là các ngài sẽ bàn tới trường hợp linh mục Nguyễn
Văn Lý. Nhưng tiếc thay, vì một áp lực từ đâu đó –từ đảng, nhà nước hay từ nhóm
LMQD?-, cuối cùng câu chuyện gây nhiều tranh cãi, từng tạo nên những vết thương
giữa các thành phần Dân Chúa trong và ngoài nước đã bị cho “chìm xuồng” (!!!)
Gác ra một bên nỗi
thất vọng mà cá nhân chúng tôi cũng chia chung với bà con tín hữu để tạm đồng ý
với việc chọn chủ đề cho Thư Chung 2007 của HĐGMVN, trong bài này, người viết
xin chân thành chia sẻ vài suy nghĩ thô thiển của mình sau đây.
Trên bề mặt Thư
Chung mang một bố cục có vẻ rõ ràng mạch lạc, được phân chia các phần với những
đoạn được đánh số tương tự như những văn kiện xưa nay trong GH. Nhưng tìm vào
nội dung, người đọc không khỏi ngỡ ngàng khi thấy ý tưởng, văn mạch không rõ
rang, khó nắm bắt được cốt lõi của vấn đề. Cụ thể là có những chi tiết lẽ ra nên
đưa vào phần II nói về Hiện tình Giáo dục Kitô giáo tại VN thì lại mang xuống
phần III là phần Định hướng Giáo dục Kitô giáo. Chúng tôi muốn nói tới đoạn 19
nói về thực trạng “cánh cửa giáo dục vẫn còn khép chặt: tôn giáo chỉ có quyền
mở trường tư thục cấp mẫu giáo (…) đành phải đứng bên lề sự nghiệp giáo
dục của xã hội VN, và vì không có quyền nhập cuộc, đành đóng vai một quan
sát viên bất đắc dĩ”. Rõ ràng sự kiện được nêu ra đã cực tả một khía cạch
vừa phi lý vừa bi thảm và đau lòng của một nền giáo dục bao cấp, khép kín,
khoanh vùng, không phải chỉ trong những thập niên trước, mà ngay hôm nay, lúc
này, những năm đầu của ngàn năm thứ ba. Vì không đặt đúng chỗ nên sự chú ý cần
phải có nơi người đọc mất đi một mảng nhận định then chốt về “Hiện tinh Giáo dục
Kitô giáo”, chưa kể trương hợp tư tưởng còn bị sa đà vào trạng thái mông lung
không nắm bắt được ý nghĩa đích thực nằm trong văn bản. Và một câu hỏi được đặt
ra là Thư Chung muốn nói gì khi một sự kiện cụ thể mang tính chứng từ như thế
lại được xen vào phần “Định hướng Giáo dục Kitô giáo”!?
Toàn bộ Thư Chung
2007, từ phần mở đầu đến phần kết thúc, nói theo ý nghĩ của khá nhiều người: vẫn
chỉ là những gì hết sức “chung chung”. Xen kẽ vài nhận định mang tính phê phán
vụn vặt[7],
vẫn là những “lời hay ý đẹp” trích dẫn trong Tin Mừng hoặc trong giáo huấn có
giá trị ngàn đời của Giáo Hội, như một cách đánh lừa chính mình và đưa người đọc
vào mê hồn trận, giữa một xã hội xô bồ, ô nhiễm như xã hội Việt Nam. Cũng như
anh bạn trẻ Nguyễn Đình Thao trong Thư Ngỏ gửi các Đấng Bậc trong Giáo Hội CGVN
năm 2005, người tín hữu Công Giáo hôm nay, dù sống trong nước hay lưu vong ở hải
ngoại, không chờ đợi và càng không đòi hỏi các GM phải có những lời lên án hay
chống chế độ cộng sản. Nhưng ít nữa, trong những Hội Nghị hàng năm, các ngài
cũng phải nhớ các ngài là ai, đang mang vác trên vai trách nhiệm thiêng liêng và
nặng nề như thế nào, để sau 365 ngày đối diện với những vấn nạn tày trời như
chuyện cho đến hôm nay, gần cuối thập niên đầu của ngàn năm thứ ba, cả một Giáo
Hội CGVN gồm những khuôn mẫu từng hãnh diện là “Mẹ” và là “Thày” mà trong lãnh
vực giáo dục mới chỉ được phép mon men tới cấp mẫu giáo!!! Để từ đấy, nhìn thẳng
vào lương tâm, dám một lần nói thật, nói thẳng với nhau, với công luận nhất là
với giáo dân về những ưu tư, trăn trở của mình đối với tương lai nền giáo dục và
cũng là tương lai, tiền đồ của Giáo Hội và Quê Hương, Nếu không hơn thì ít
nữa cũng được như người sinh viên bút danh Ái Sản đã can đảm nói lên trong bài
viết của anh.
Chúng ta đang ở vào
thời điểm cuối năm 2007. Điều này có nghĩa là trong suốt hơn nửa thế kỷ ở miền
Bắc và hơn 32 năm ở miền Nam, Đảng và Nhà Nước CS vẫn nắm trọn trong tay độc
quyền về giáo dục, trắng trợn tước bỏ đến tận cùng cái quyền của tôn giáo –cách
riêng của GHCG- được đóng góp phần mình trong lãnh vực quan trọng này. Thật khó
hiểu khi ở đoạn 19, các GM đã dám mạnh miệng than phiền là phải cam “đành đứng
bên lề sự nghiệp giáo dục của xã hội VN” , là “không có quyền nhập cuộc, đành
đóng vai một quan sát viên bất đắc dĩ” (cho dẫu lời than phiền này hơi trễ
tràng!), nhưng tại sao ngay trước đó, ở đoạn 18, các ngài lại phải ca cẩm để
“xoa dầu” chế độ bằng những lời lẽ “Tại VN, điều đáng lạc quan là giáo
dục, từ trước vẫn được coi là lãnh vực độc quyền của nhà nước, nay đã được
‘xã hội hóa’”(?!?!)
Một thắc mắc khác là
trong một Thư Chung nói về Giáo dục, đặc biệt là Giáo dục Kitô giáo mà không hề
thấy các GM nói tới tình trạng can thiệp phi lý và thô bạo của nhà cầm quyền vào
việc đào tạo linh mục, những người lãnh đạo tương lại của GH. Không phải chỉ
trong quá khứ xa xôi, mà ngay thời điểm công bố Thư Chung 2007! Điều mâu thuẫn
là trong phần Định hướng Giáo dục Kitô giáo, đoạn 27, Thư Chung viết: “Đại chủng
viện và Học viện Công giáo, những trung tâm giáo dục có hệ thống nhân sự và
phương tiện đầy đủ nhất, phải đóng đúng vào trò của mình bằng việc ‘đào tạo
những người sẽ đảm nhận công việc giáo dục giáo dân’ (x. TH/KTHGD[8])”.
Trong tình trạng trên đe dưới búa, bị bao vây, khống chế khắp mặt đến nỗi hầu
hết các cơ sở giáo dục, xã hội, y tế của Giáo Hội đều bị trưng thu (hoặc tự
hiến!), về giáo dục xã hội, mới chỉ được phép chen chân tới cấp mẫu giáo (!) và
về giáo dục nội bộ Kitô giao, cho đến thập niên gần đây mới chỉ được phép mở lại
một số chủng viện với con số chủng sinh được nhận nhỏ giọt qua sự sàng lọc của
đảng và nhà nước thì hà cớ gì trong Thư Chung 2007 lại đưa vào đoạn 27 với lối
nhận định mơ hồ, khó hiểu trên đây? (xin đọc lại phần chúng tôi tô đậm). Không
cần phải nhớ lại những thập niên đen tối đã qua, người ta tự hỏi: ngay thời điểm
này khi những Đại chủng viện và Học viện danh tiếng như Giáo Hoàng Học viện vẫn
còn nằm trong tay nhà nước, khi tình trạng giáo sư giảng dạy và sách vở, tài
liệu giáo khoa vẫn ở trong tình trạng khan hiếm như lá mùa thu, trong khi chế độ
lại vẫn còn dành quyền đưa học thuyết Mác-xít Lê-nin-nít vào giảng dạy những thế
hệ linh mục tương lại của GH thì phải chăng nhận định mập mờ kể trên chỉ là một
cách đánh lạc hướng suy nghĩ của người giáo dân, và một cách nào đó khiến những
người thiển cận nghĩ rằng trong lãnh vực Giáo dục Kitô giáo, GHCG vẫn còn được
ưu đãi, bằng chứng là các Đại chủng viện các Học viện CG vẫn còn là những
trung tâm giáo dục có hệ thống nhân sự và phương tiện đầy đủ nhất???
Đề cập điều gọi là
những “dâu hiệu lạc quan” trong hệ thống giáo dục dân sự trong nước, Thư Chung
nói tới “những trung tâm luyện thi, lớp ngoại khóa mọc lên như nấm khắp nơi
mà vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu học viên mỗi lúc một gia tăng”. Điều này
khiến người đọc không khỏi chau mày tự hỏi: không hiểu các GM có hàm ý mỉa
mai, diễu cợt hay thực tâm các ngài nghĩ như thế? Cho đến nay, dư luận trong và
ngoài nước đã thấu rõ những tệ đoan cùng những hệ lụy giây chuyền chung quanh
hiện tượng “mọc lên như nấm” của các trung tâm luyện thi, các lớp ngoại khóa
trên đây! Nó đóng góp được gì cho nền giáo dục xã hội ở Việt Nam hay chỉ là căn
cớ giúp các thày cô giáo vì đồng lương chết đói phải tìm mưu “móc túi” phụ
huynh, biến hệ thống giáo dục công lập thành nơi “câu” những con mồi tới không
phải để được dạy dỗ thật sự mà chỉ để tạo cơ hội cho những kẻ đầu cơ giáo dục
lùa chúng vào những trung tâm luyện thi, những lớp ngoại khóa để hốt bạc! Không
biết các GM có hiểu được căn do vì sao những trung tâm, nhưng lớp ngoại khoá này
dù “mọc lên như nấm” mà vẫn không đáp ứng được nhu cầu? Xin thưa: chỉ vì nếu học
sinh chỉ học ở trường công thì chuyện ở lại lớp hoặc bị loại trong các kỳ thi
tuyển chắc chắn sẽ không tránh khỏi. Vì thế, muốn cho con em được lên lớp, hoặc
có bài tủ để trot lọt khi đi thi, phụ huynh không có con đường nào khác hơn là
chạy tiền học phí cho con em học thêm ở các trường lớp bên ngoài!
Sau hết, nhìn vào kế
hoạch ba bước mà Thư Chung “kêu gọi mọi thành phần Dân Chúa hãy thực hiện” cho
các năm 2008, 2009 và 2010 khó ai giấu được tiếng thở dài ngao ngán. Nếu nội
dung Thư Chung 2007 với các phần “nền tảng”, “hiện tình” và “định hướng” Giáo
dục Kitô giáo với những ranh giới mơ hồ, hư ảo đan quyện vào nhau, dẫm đạp lên
nhau xen kẽ những trích dẫn Tin Mừng, những chuẩn mực lý tưởng trong những giáo
huấn của Giáo Hội trong khi điều mong đợi về một giải pháp cho Giáo dục Kitô
giáo không thấy đâu khiến người đọc hoang mang không hiểu các “Đấng Bậc làm
Thày” định nói gì, thì kế hoạch “ba bước” chỉ mang tính “kêu gọi” kể trên càng
làm cho người ta thêm rối trí. Ý nghĩ đầu tiên đến với mọi người là tuồng như
Thư Chung đề ra những dự kiến kể trên chỉ để cho có mà thôi.
Đoạn 38, trước khi
nêu rõ ba bước “chấn chỉnh”, Thư Chung nhận định: “Giáo dục là cả một công trình
lâu dài không thể hoàn thành ngay. Tuy nhiên từng bước một, cần phải đưa ra
những mục tiêu mũi nhọn cho từng giai đoạn. Đại hội năm nay đề ra
phương hướng chấn chỉnh lại nền Giáo dục Kitô giaó tại Việt Nam, có nghĩa là
phương hướng đó sẽ được thể hiện trong những năm tới”.
Liền sau đó, Thư
Chung viết: “Cụ thể, chúng tôi kêu gọi mọi thành phần Dân Chúa hãy thực
hiện ba bước sau đây:
2008: chấn chỉnh môi
trường giáo dục gia đình Công Giáo.
2009: chấn chỉnh
việc đào tạo giáo lý viên.
2010: chấn chỉnh cơ
sở giáo dục các giáo xứ”.
Không lẽ “mục tiêu
mũi nhọn” lại chỉ gói ghém trong vài lời kêu gọi mơ hồ như thế?
Từ rất lâu trong quá
khứ, Giáo Hội đã hết sức quan tâm và đề cao những giá trị nền tảng của gia đình,
coi gia đình là “Đường Lối của Giáo Hội”, như biểu tượng của một “Giáo Hội tại
gia” và là trường học đầu tiên đào luyện con người trên cả hai phương diện Đời
và Đạo. Ngót một phần tư thế kỷ trước, cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chọn năm
1994 làm Năm Gia Đình. Dịp này, ĐTC đã long trọng công bố “Tâm Thư gửi các Gia
Đình”[9]
như một gợi nhắc những Đấng Bậc Làm Thày trong các GH địa phương phải đặt trọng
tâm vào việc chăm sóc và gìn giữ hệ cấp gia đình trước trào lưu tục hóa của một
thế giới ngày càng thiên trọng về vật chất và hưởng thụ, nhất là dưới những chế
độ, trong đó giá trị đạo đức, gia đình, tôn giáo bị trấn áp.
Tạm gác qua một bên
tính cách trễ nải là mãi tới năm 2008, các GMVN mới kêu gọi “chấn chỉnh” môi
trường giáo dục gia đình, người ta vẫn thấy nó hàm ẩn một cái gì tắc trách, xa
rời thực tế. Khi phải chấn chỉnh hay sửa lại một cái gì, hoặc một trạng huống
nào, trước hết cần phải biết hiện trạng đó ra sao, vì đâu và vì căn nguyên sâu
xa nào khiến xảy ra nông nỗi?
“Mũi nhọn” thứ hai
được Thư Chung kêu gọi “chấn chỉnh” trong năm 2009 thuộc lãnh vực đào tạo giáo
lý viên. Vì không nắm vững hiện trạng lãnh vực này trong GHVN, nên người viết
không dám lạm bàn. Chỉ có một điều làm chúng tôi thắc mắc là khi đã coi đây là
“mũi nhọn” cần dành cả một năm 2009 để “chấn chỉnh” mà trong toàn bộ Thư Chung
vấn đề liên quan tới giáo lý viên gần như bị lãng quên hoặc chỉ được đề cập phớt
qua mà thôi.
Phải chờ tới năm
2010, “mục tiêu mũi nhọn” thứ ba là “chấn chỉnh cơ sở giáo dục tại các giáo xứ”
mới được đặt ra. Có thể các GM có lý khi chính trong Thư Chung đã thừa nhận là
cho đến nay, chế độ mới chỉ cho phép tôn giáo chen chân vào lãnh vực giáo dục xã
hội tới cấp mẫu giáo. Điều này liệu có thể hiểu là các ngài nuôi hi vọng ba năm
nữa đảng và nhà nước sẽ nới lỏng chính sách độc quyên giáo dục hơn, giúp cho
sinh hoạt trường ốc tại các giáo xứ được phục hoạt như trước năm 1075?
Vẫn chuyện “xin/cho”
hay chuyện “nằm dưới gốc sung chờ sung rụng”!!!
Dù đã quyết định gác
qua một bên, hơn nữa vấn đề cũng đã được nhiều người bàn đến[10],
nhưng khi chấm dứt bài viết này, chúng tôi vẫn bị ám ảnh về câu hỏi nhức nhối:
vì sao và do đâu khiến chủ đề Thư Chung 2007 của HĐGMVN lại chọn vấn đề giáo dục
mà không phải là những vấn đề thời sự khác liên hệ sinh tử tới tiền đồ Giáo Hội
và Quê Hương Việt Nam hôm nay? Cha Lý đã làm gì nên tội khiến các GM phải thất
hứa không bàn chuyện của Cha như đã thông báo?
[1] Danh xưng do tác giả Ái Sản dùng trong bài viết của anh.
[2]
Nguyên văn
bài “Tuổi trẻ Bách Khoa: Vững chính trị - Giỏi chuyên môn…” được đăng
tải trên DĐGD số này.
[3] Điều này lý giải sự kiện: cho đến nay sau hơn nửa thế ký thống trị miền Bắc và hơn ba thập niên chiếm được miền Nam, người cộng sản vẫn khư khư nắm giữ độc quyền trong lãnh vực giáo dục, kể cả việc thọc sâu bàn tay can thiệp vào việc đào tạo trong nội bộ các tôn giáo.
[4] Nguyên văn Thư Chung được đăng tải trên nguyệt san DĐGD số 72 phát hành tháng 11-2007.
[5] Để có thể có được những lời lẽ mỉa mai kín đáo khi viết: “nhất là từ khi ‘đất nước ta có Đảng’”(!!!)
[6] “mục đích ấy, chuyện ấy” ở đây, theo tác giả là “an bang tế thế bằng danh chính ngôn thuận, bằng con đường chính nghĩa, lấy “đạo ngườI” làm gốc…”
[7] Vì chỉ cần nhớ lại những bài viết góp ý công khai với Trung ương Đảng và Nhà nước CS trong thời gian tiền Đại HộI X mới đây –chưa nói tới những phê phán năng nề của những thành phần chống đốI-, người đọc sẽ thấy những nhận định ít nhiều mang tính phê phán của các GM trong Thư Chung 2007 vẫn chỉ là những gì hết sức vụn vặt mà thôi.
[8] TH/KTHGD: viết tắt Tông Huấn Kitô Hữu Giáo Dân (Tức là Tông Huấn Ngưới Tín Hữu Giáo Dân của cố GH Gioan Phaolô II, bản dịch của Đức Ông Trần Văn Hoài do PTGDVNHN và tạp chí Đường Sống phát hành cuối thế kỷ trước).
[9] Tâm Thư này do anh Joseph Việt Vũ chuyển ngữ và được Tủ sách Mục vụ Gia đình thuộc Giáo xứ Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo VN San Jose ấn hành lần đầu năm 1994. Nhóm Gioan Tiền Hô bao gồm những anh em chủ trương Diễn Đàn Giáo Dân ở nam California nhận phổ biến 1000 cuốn.
[10] Xin đọc bài của Duyên Lãng Hà Tiến Nhất trên DĐGD số 72.